Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

Kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập Quốc hội Việt Nam (6/1/1946 - 6/1/2006):

6 kinh nghiệm thực tiễn của Quốc hội Việt Nam

Cách đây 60 năm, chỉ sau mấy tháng giành được độc lập, ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên theo nguyên tắc dân chủ, bỏ phiếu kín đã thành công rực rỡ, bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới. Sự kiện này đã đi vào lịch sử nước nhà như một mốc son chói lọi, đánh dấu việc khai sinh Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam.

 

60 năm qua, Quốc hội nước ta đã trải qua những giai đoạn phát triển hào hùng với 11 khóa hoạt động. Lịch sử phát triển của Quốc hội gắn liền với lịch sử cách mạng Việt Nam, Quốc hội ngày càng khẳng định vai trò quan trọng là cơ quan đại diện dân cử cao nhất, cơ quan quyền lực cao nhất của Việt Nam. Từ hoạt động thực tiễn, Quốc hội Việt Nam đã rút ra  những kinh nghiệm quý giá:

Thứ nhất, sự ra đời và phát triển của Quốc hội là kết quả của quá trình đấu tranh cách mạng gắn liền với sự phát triển của đất nước ta trong suốt 60 năm qua.  Trong quá trình phát triển,

Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá I ngày 20/9/1955

 Quốc hội ngày càng thực sự thể hiện là cơ quan kết hợp chặt chẽ và hài hòa hình thức dân chủ đại diện và hình thức dân chủ trực tiếp, là hiện thân của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám thành công, trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, gian nan, thử thách, cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên được tổ chức vào ngày 6/1/1946 ở khắp các tỉnh, thành với 89% cử tri trong cả nước đi bầu và lựa chọn được 333 đại biểu của mình vào Quốc hội, trong đó có 34 đại biểu là người dân tộc thiểu số và 57% đại biểu các đảng phái khác nhau. Tính dân chủ trực tiếp ngày càng thể hiện rõ hơn trong các cuộc bầu cử sau này. Quốc hội do toàn dân trực tiếp bầu ra và có cơ cấu, thành phần rộng rãi luôn phản ánh khối đại đoàn kết dân tộc, phản ánh tiếng nói, quyền lực của toàn dân. Thông qua các đại biểu của mình cũng như các hình thức hoạt động của Quốc hội, quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được tôn trọng, phát huy; cũng vì thế vai trò, vị thế và uy tín của Quốc hội ngày càng được nâng cao.

Thứ hai, từ ngày thành lập đến nay, Quốc hội đã thể hiện được là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước. Nhân dân thông qua Quốc hội và các đại biểu Quốc hội do mình bầu ra để thực thi các quyền lực của mình; Quốc hội có ba chức năng là lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao. Thông qua ba chức năng này, Quốc hội thực hiện ngày càng có hiệu quả các chức năng của mình thông qua việc không ngừng hoàn thiện, đổi mới tổ chức cũng như phương thức hoạt động, Quốc hội ngày càng xứng đáng với niềm tin và ý chí của toàn dân.

Thứ ba, mô hình tổ chức của Quốc hội nước ta đã phản ánh đúng truyền thống, lịch sử hình thành và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Ngay từ sau cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, Quốc hội nước ta với hình thức tổ chức theo cơ cấu một viện là nhằm bảo đảm cho Quốc hội thật sự trở thành một tổ chức tập trung quyền lực của Nhà nước, thống nhất ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Hiện nay, Quốc hội có Hội đồng Dân tộc và 7 ủy ban để giúp Quốc hội trong việc thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh; giám sát việc thực hiện Hiến pháp, luật, pháp lệnh và kiến nghị về các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của mình. Đoàn đại biểu Quốc hội ở các địa phương là hình thức tổ chức đặc thù ở nước ta, góp phần tăng cường sự gắn kết giữa Quốc hội với cử tri và chính quyền các cấp, tạo điều kiện cho Quốc hội hoạt động ngày càng có hiệu quả hơn trong thời gian giữa hai kỳ họp.

Thứ tư, Quốc  hội và các cơ quan của Quốc hội không ngừng đổi mới phương thức hoạt động nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả các kỳ họp. Việc đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội được thực hiện một cách đồng bộ, từ đổi mới quy trình lập pháp đến việc tăng thời lượng và nâng cao chất lượng của các kỳ họp; cải tiến việc xem xét và thảo luận các vấn đề tại kỳ họp, phiên họp theo hướng dân chủ, mở rộng tranh luận, đối thoại để thống nhất ý kiến, tăng cường cởi mở, công khai trong sinh hoạt của Quốc hội. Nhờ đổi mới  phương thức hoạt động mà sự quan tâm của công chúng đối với các hoạt động của Quốc hội ngày càng cao, được nhân dân đồng tình ủng hộ.

Thứ năm, hoạt động của Quốc hội phải gắn chặt và phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đảng, cơ quan chính quyền, đoàn thể nhân dân, trong đó các cơ quan Quốc hội phải thường xuyên chủ động phối hợp, nhất là trong việc chuẩn bị các kỳ họp Quốc hội, các phiên họp của ủy ban Thường vụ Quốc hội và nhiều công việc quan trọng khác của đất nước.

Thứ sáu, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và nhân dân là yếu tố quyết định để Quốc hội hoàn thành xuất sắc các chức năng, nhiệm vụ của mình. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội là nhằm bảo đảm cho Quốc hội hoạt động đúng hướng, phù hợp với lợi ích của dân tộc và của giai cấp, tạo điều kiện để kiện toàn và củng cố hệ thống chính trị, củng cố và tăng cường Nhà nước pháp quyền XHCN, giữ vững bản chất Nhà nước của ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

 

HNM

Nguồn: Báo Hà Nội mới số ra ngày 3.1.2006

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện