|
Sáu mươi
năm Nhà nước cách mạng Việt Nam -
Những
thành tựu nổi bật và vấn đề đặt ra hôm nay
Ngày
2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố về sự ra
đời của một nhà nước kiểu mới - Nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới cho
độc lập, tự do của dân tộc. Kể từ đây dân tộc
Việt Nam có một công cụ hùng mạnh có khả năng
hiện thực hóa những khát vọng của mình.
Trải
qua 60 năm tồn tại và phát triển, dưới sự lãnh
đạo của Đảng, Nhà nước ta đã tổ chức quản lý,
chỉ đạo nhân dân giành được những thắng lợi vĩ
đại trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp (1946 - 1954) và đế quốc Mỹ (1954 - 1975),
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và từ sau
năm 1975 đến nay là trong cả nước, đạt được
những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong
sự nghiệp đổi mới đất nước. Nhìn lại chặng đường
đã qua, chúng ta thấy, hoạt động của Nhà nước
mặc dù vẫn còn những hạn chế, yếu kém cần được
khắc phục, song chúng ta hoàn toàn có quyền tự
hào nói rằng, đó là nhà nước dân chủ nhất trong
lịch sử Việt Nam, có khả năng đại diện tốt nhất
cho ý chí, nguyện vọng của quảng đại nhân dân.
Đó là nhà nước kiểu mới - nhà nước của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân.
Những ngày đầu mới ra đời, Nhà nước ta đã phải
đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách, phải
chống lại cả "thù trong" và "giặc ngoài", cả
"ngoại xâm" và "nội xâm" có lúc tưởng như không
thể vượt qua. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo sáng
suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh,
được nhân dân đồng lòng, đồng sức giúp đỡ, Nhà
nước cách mạng non trẻ không những không bị kẻ
thù tiêu diệt mà còn có những bước phát triển
mới vững chắc và ngày càng giành được nhiều kết
quả to lớn. Những cơ sở đầu tiên, có tính nền
tảng của một nhà nước kiểu mới từng bước đã được
xác lập cả về thể chế, tổ chức bộ máy và đội ngũ
công chức.
Để
xác lập các cơ sở này, 2 nhiệm vụ quan trọng và
cấp bách hàng đầu được đặt ra để giải quyết lúc
đó là tổ chức Tổng tuyển cử trong cả nước và ban
hành một bản Hiến pháp dân chủ.
Sau
một thời gian chuẩn bị rất khẩn trương, ngày
6-1-1946 cuộc Tổng tuyển cử dân chủ đầu tiên
trong lịch sử nước ta được tổ chức thắng lợi.
Nhân dân ta lựa chọn được 333 đại biểu đại diện
cho các giai tầng khác nhau trong xã hội vào
Quốc hội và theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Quốc
hội còn dành thêm 70 ghế cho các đảng Việt Quốc,
Việt Cách không qua bầu cử. Ngày 2-3-1946, Quốc
hội đã họp kỳ đầu tiên, bầu ra Chính phủ chính
thức - Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí
Minh làm Chủ tịch. Tiếp sau 2 sắc lệnh số 63 và
77 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, cơ quan quyền lực
nhà nước và Uỷ ban hành chính ở địa phương do
nhân dân bầu chọn cũng lần lượt ra đời, làm cho
bộ máy nhà nước được thiết lập đồng bộ từ trung
ương đến địa phương, đủ sức đảm đương nhiệm vụ
kháng chiến và kiến quốc.
Song
song với các hoạt động trên, hệ thống các cơ
quan chuyên chính, lực lượng vũ trang, tòa án
cách mạng được thành lập nhằm bảo vệ chính quyền
cách mạng non trẻ.
Nhận
thức sâu sắc tầm quan trọng của pháp luật mà đạo
luật cơ bản, đạo luật "gốc" là Hiến pháp, Hồ Chí
Minh và Đảng ta đã tích cực chuẩn bị cho nhiệm
vụ nặng nề này. Sau Tổng tuyển cử, Quốc hội khóa
I đã ban hành bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên -
Hiến pháp năm 1946. Bản Hiến pháp do Hồ Chí Minh
làm Trưởng Ban soạn thảo đã tuân thủ 3 nguyên
tắc cơ bản: 1- Đoàn kết toàn dân, không phân
biệt giống nòi, trai gái, giai cấp, tôn giáo; 2-
Đảm bảo các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân;
3- Là cơ sở pháp lý để điều hành công việc của
đất nước. Đó là những nguyên tắc của một nhà
nước dân chủ.
Theo
chương trình làm việc của Quốc hội khóa I, một
số đạo luật quan trọng khác cũng được xúc tiến
soạn thảo. Tuy nhiên, kế hoạch trên chưa thực
hiện được bởi thực dân Pháp trở lại xâm lược
nước ta. Ngày 19-12-1946, theo Lời kêu gọi của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước lại phải bước vào
cuộc trường chinh chống thực dân Pháp, bảo vệ
nền độc lập dân tộc.
Để
giải quyết khó khăn do thiếu luật, Chính phủ
cách mạng và Hồ Chí Minh đã điều hành đất nước
bằng chế độ Sắc lệnh - những văn bản pháp luật
rất phù hợp với điều kiện chiến tranh. Trong 24
năm ở cương vị Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã ký
ban hành 2 bản Hiến pháp, 16 đạo luật và 613 sắc
lệnh.
Có
thể nói, đó là một cố gắng to lớn của Nhà nước
cách mạng nhằm củng cố chế độ dân chủ nhân dân,
thực hiện nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc.
Những nỗ lực to lớn đó đã góp phần bảo vệ Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trước muôn vàn
khó khăn của thời kỳ "trứng nước", từng bước
củng cố, hoàn thiện, trở thành công cụ đóng vai
trò quyết định cho thắng lợi của cách mạng trong
hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ.
Cùng
với việc xây dựng thể chế nhà nước, tổ chức bộ
máy, Nhà nước cách mạng còn đặc biệt quan tâm
đến việc xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức
đủ năng lực và phẩm chất đảm đương nhiệm vụ.
Điểm cần nhấn mạnh ở đây là, trong khi vừa xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức mới, Nhà nước ta
đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ
này đã mạnh dạn sử dụng nhiều nhân sỹ, trí thức
yêu nước phục vụ Nhà nước cách mạng. Trong số
họ, có nhiều người đã từng làm việc ở nước
ngoài, hoặc đã từng tham gia bộ máy của nhà nước
cũ. Nhờ đại nghĩa của cách mạng, uy tín lớn lao
của Hồ Chí Minh mà họ đã được cảm hóa, đứng vào
hàng ngũ cách mạng. Nhiều người đã có những cống
hiến to lớn cho sự nghiệp của dân tộc. Thiết
nghĩ, đó là bài học, là kinh nghiệm quý báu cho
chúng ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất
nước hiện nay.
Từ
năm 1945 đến năm 1954, Nhà nước cách mạng đã
hoàn thành sứ mạng của mình, điều đó được thể
hiện trên những nội dung chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc
Việt Nam, một nhà nước kiểu mới của nhân dân, do
nhân dân lựa chọn, xây dựng, hoạt động vì lợi
ích của quảng đại nhân dân được thành lập. Trong
những điều kiện cực kỳ hiểm nghèo, nhà nước ấy
vẫn từng bước được xây dựng trên những nền tảng
căn bản nhất: Quốc hội do nhân dân tự do lựa
chọn; Nhà nước hoạt động theo quy định của Hiến
pháp, pháp luật, bộ máy càng ngày càng hoàn
thiện theo hướng, xây dựng thành bộ máy phục vụ
nhân dân; đội ngũ công chức từng bước trở thành
những "công bộc" của nhân dân; các tổ chức xã
hội ngày càng đa dạng, trở thành diễn đàn để
người dân được bày tỏ nguyện vọng của mình một
cách trực tiếp với nhà nước...
Thứ hai: Nhà nước trở thành người đại biểu
cho ý chí, nguyện vọng, lợi ích của quần chúng
lao động, trở thành công cụ để huy động, tập hợp
sức mạnh to lớn của nhân dân nhằm bảo vệ nền tự
do, độc lập của Tổ quốc, góp phần quyết định cho
thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp và kiến thiết đất nước. Nhà nước cách mạng
trở thành chỗ dựa tin cậy của nhân dân, được
nhân dân tin tưởng, bảo vệ, xây dựng.
Sau
Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, miền Bắc được giải
phóng, đất nước tiến hành 2 nhiệm vụ chiến lược:
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh
giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ
quốc. Trước yêu cầu mới, Nhà nước phải có những
thay đổi để thích ứng. Trong bối cảnh ấy, năm
1959 bản Hiến pháp thứ hai của Nhà nước ta được
ban hành.
Trong Hiến pháp năm 1959, ngoài những nguyên tắc
của một hiến pháp dân chủ như Hiến pháp năm
1946, hai vấn đề cơ bản khác được bổ sung.
Một là, khẳng định, Đảng là người lãnh đạo
cách mạng, lãnh đạo Nhà nước. Hai là, con
đường cách mạng của dân tộc ta là tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Thời kỳ từ năm 1954 - 1975, Nhà
nước ta vừa tổ chức công cuộc xây dựng và bảo vệ
chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tổ chức chi
viện sức người, sức của cho cách mạng ở miền
Nam. Vì vậy, vừa có hệ thống pháp luật xã hội
chủ nghĩa (ở miền Bắc), vừa có hệ thống pháp
luật dân chủ nhân dân (ở miền Nam). Chính quyền
cách mạng ở hai miền đã phối hợp và hỗ trợ chặt
chẽ với nhau để tạo nên sức mạnh tổng hợp, thực
hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược, tiến tới
thống nhất đất nước. Đó là đặc điểm lớn nhất và
cũng là nét độc đáo của sự nghiệp xây dựng, phát
triển của Nhà nước cách mạng Việt Nam trong thời
kỳ 1954 - 1975.
Ở
miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa chuyển sang làm nhiệm vụ lịch sử
của một nhà nước chuyên chính vô sản. Nhà nước
ấy đã tổ chức công việc khôi phục kinh tế, hàn
gắn vết thương chiến tranh, tiến hành cải cách
ruộng đất, từng bước xây dựng cơ sở vật chất -
kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đấu tranh chống
các thế lực phản động, chống cuộc chiến tranh
phá hoại của đế quốc Mỹ và chi viện đắc lực cho
cách mạng miền Nam.
Để
hoàn thành nhiệm vụ nặng nề đó, Nhà nước cách
mạng thực hiện hàng loạt biện pháp khác nhau. Cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất được kiện toàn,
Quốc hội khóa II, khóa III được bầu. Hội đồng
Chính phủ được củng cố, tăng thêm số lượng thành
viên. Chính quyền địa phương được kiện toàn (Ủy
ban kháng chiến - hành chính được đổi tên là Ủy
ban hành chính). Tổ chức tư pháp tiếp tục được
dân chủ hóa, bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử
(Tòa án nhân dân tối cao và Viện công tố nhân
dân được thành lập)... Những việc làm và cố gắng
to lớn đó đã góp phần củng cố và đưa cách mạng
miền Bắc phát triển vững chắc, tăng cường khả
năng chi viện cho cách mạng miền Nam, trở thành
một nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi của
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Ở
miền Nam chính quyền cách mạng cũng có những
bước tiến mới. Mặt trận dân tộc giải phóng miền
Nam Việt Nam ra đời và đảm nhiệm chức năng của
chính quyền cách mạng (tháng 12-1960 - tháng
6-1969). Mặt trận đã ra Tuyên ngôn và nêu lên 10
nhiệm vụ cụ thể của cách mạng miền Nam nhằm đánh
đổ ngụy quân, ngụy quyền và đế quốc Mỹ xâm lược,
xóa bỏ chế độ thực dân kiểu mới, thực hiện các
quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Qua Đại hội
của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam - cơ quan thường trực
của Mặt trận được bầu và được cơ cấu từ cấp
trung ương cho đến địa phương.
Sự
ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng là một
sáng tạo độc đáo trong quá trình phát triển của
Nhà nước cách mạng. Mặt trận không chỉ kế thừa
được kinh nghiệm lịch sử của Mặt trận Việt Minh
mà còn phát triển đến mức cao nhất, trở thành tổ
chức có chức năng của chính quyền cách mạng.
Để
đáp ứng tốt hơn yêu cầu cách mạng miền Nam,
tháng 6-1969, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng
hòa miền Nam Việt Nam ra đời. Đây là một tổ chức
hoàn chỉnh, có cơ cấu từ trung ương đến địa
phương, hoạt động theo nguyên tắc tập trung, dân
chủ. Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền
Nam Việt Nam ra đời là kết quả thắng lợi của
cuộc đấu tranh gian khổ, ác liệt của quân, dân
miền Nam, mở ra một thời kỳ mới trong quá trình
xây dựng chính quyền cách mạng ở miền Nam, góp
phần rất quan trọng vào Đại thắng mùa Xuân năm
1975.
Trong thời kỳ từ năm 1954 - 1975, Nhà nước cách
mạng Việt Nam đã có những phát triển vượt bậc về
mọi mặt, không chỉ bảo vệ vững chắc miền Bắc xã
hội chủ nghĩa, mà còn tổ chức, động viên đông
đảo nhân dân đấu tranh thắng lợi chống lại cuộc
chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ - một cuộc
chiến tranh kéo dài và tàn bạo bậc nhất trong
lịch sử nhân loại ở thế kỷ thứ XX, giành lại độc
lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc.
Sau
Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước ta bước
vào thời kỳ mới, Nhà nước cách mạng đứng trước
nhiệm vụ mới, đòi hỏi phải có bước phát triển
mới. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chúng
ta đã nhanh chóng chuẩn bị mọi mặt cho việc
thống nhất Tổ quốc - một sự kiện lịch sử trọng
đại, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc - kỷ nguyên
độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã
hội.
Tiến
hành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong
cả nước, chúng ta có nhiều thuận lợi song cũng
phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách mới
của tình hình thế giới, và trong nước lúc bấy
giờ đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải giải quyết.
Năm
1986, bằng sự nhạy cảm chính trị và bản lĩnh của
mình, Đảng ta đã khởi xướng công cuộc đổi mới
đất nước mà khâu đột phá là đổi mới tư duy kinh
tế. Cùng với đổi mới kinh tế và trên cơ sở đổi
mới kinh tế, Đảng ta đã tiến hành đổi mới hệ
thống chính trị, cải cách tổ chức và phương thức
hoạt động của Nhà nước, đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng đối với Nhà nước, xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng, trong quá trình đổi mới,
trình độ quản lý của Nhà nước ta đã có bước phát
triển cả trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp và
tư pháp.
Nhà
nước đã thông qua Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp
cả nước tiến hành đổi mới - và được Quốc hội sửa
đổi vào năm 2001 nhằm đáp ứng yêu cầu của thời
kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước. Trong Hiến pháp
1992, điều đặc biệt cần nhấn mạnh là đã khẳng
định chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân; tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân
dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự
phân công rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cùng với
việc sửa đổi Hiến pháp, Quốc hội đã đẩy mạnh
soạn thảo và ban hành các văn bản pháp luật một
cách khẩn trương, đồng bộ để đáp ứng yêu cầu của
giai đoạn mới. Từ năm 1987 đến tháng 6-2005,
Quốc hội đã ban hành 145 luật, bộ luật, trong đó
có 6 bộ luật lớn, 4 quy chế hoạt động của Quốc
hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; đã thông qua
và ban hành 149 pháp lệnh. Số bộ luật, luật tăng
gấp 3 lần so với thời kỳ trước đổi mới. Những
văn bản luật đó đã tạo khung khổ pháp lý để Nhà
nước quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực
kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội, đối ngoại,
an ninh, quốc phòng. Hoạt động của Quốc hội ngày
càng được cải tiến theo hướng giảm bớt tính hình
thức, ngày càng thực quyền hơn. Sinh hoạt của
Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp được đổi
mới theo hướng ngày càng dân chủ hơn, chất lượng
được nâng cao, phản ánh được tiếng nói, nguyện
vọng của nhân dân. Tổ chức bộ máy nhà nước đã có
sự sắp xếp lại, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ
theo hướng gọn hơn, hiệu quả, hiệu lực hơn. Chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, của các
bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp được
phân định cụ thể hơn, phân cấp nhiều hơn. Qua
sắp xếp, bộ máy chính phủ từ 76 đầu mối giảm
xuống còn 39, trong đó có 17 bộ, 6 cơ quan ngang
bộ, 13 cơ quan thuộc chính phủ; bộ máy ủy ban
nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện đều giảm xuống
khoảng một nửa. Đặc biệt, đã có bước chuyển quan
trọng trong việc tách chức năng quản lý, sản
xuất kinh doanh ra khỏi chức năng quản lý nhà
nước về kinh tế. Cùng với việc hoàn thiện tổ
chức bộ máy, công cuộc cải cách nền hành chính
quốc gia được tiến hành gần 10 năm qua đã góp
phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý của Nhà
nước, giảm thủ tục phiền hà cho nhân dân, thúc
đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, dân chủ của
nhân dân được mở rộng và tăng cường. Các hoạt
động tư pháp và cải cách tư pháp được đẩy mạnh
hơn.
Qua
gần 20 năm đổi mới, chúng ta đã thu được những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Những
thành tựu đó được Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh
khẳng định: "Chúng ta đã từng bước xây dựng được
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa với
Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc; xây dựng khối đoàn kết toàn
dân tộc mà nền tảng là liên minh công nhân -
nông dân - trí thức; xây dựng nền quốc phòng
toàn dân và an ninh nhân dân với lực lượng vũ
trang nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại, ngày càng đủ mạnh để bảo vệ
Tổ quốc và cuộc sống yên lành của nhân dân; xây
dựng một nền ngoại giao độc lập tự chủ, rộng mở,
đa phương hóa, đa dạng hóa với tinh thần Việt
Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các
nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hòa
bình, độc lập và phát triển, không ngừng mở rộng
các quan hệ đối ngoại, nâng cao uy tín, vị thế
của nước ta trên trường quốc tế"(1).
Những thành tựu to lớn đó không chỉ gắn chặt với
vai trò lãnh đạo của Đảng mà còn gắn chặt với
vai trò quản lý của Nhà nước ta - công cụ làm
chủ của nhân dân lao động.
Trải
qua 60 năm xây dựng và phát triển, Nhà nước cách
mạng Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh
mẽ, vững chắc, ngày càng to lớn. Từ Nhà nước dân
chủ nhân dân đến Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa là một bước tiến lớn trong lịch sử hình
thành và phát triển của Nhà nước cách mạng Việt
Nam cả về chức năng, nhiệm vụ, phạm vi ảnh
hưởng, tầm hoạt động, phương thức tổ chức và
hoạt động, hiệu lực và hiệu quả.
Tuy
nhiên, nước ta hiện vẫn chưa ra khỏi tình trạng
kém phát triển và vẫn tồn tại các nguy cơ mà các
Đại hội của Đảng đã chỉ ra, trong đó có mặt còn
nghiêm trọng hơn. Thể chế nhà nước còn nhiều yếu
kém, tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chồng chéo về
chức năng, sự phối hợp giữa các cơ quan lập
pháp, hành pháp, tư pháp, giữa trung ương và địa
phương còn chưa thật nhịp nhàng, cải cách hành
chính còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển,
dân chủ của nhân dân có nơi, có lúc còn bị vi
phạm, kỷ luật, kỷ cương còn chưa nghiêm, một bộ
phận cán bộ, công chức suy thoái về tư tưởng,
chính trị, đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham
những còn nghiêm trọng. Tình hình trên đây làm
cho hiệu quả, hiệu lực quản lý của Nhà nước
thấp, niềm tin của một bộ phận nhân dân giảm
sút. Trong quan hệ giữa Nhà nước với Đảng vẫn
còn sự chồng chéo, lấn sân,... cả trong nội
dung, phương thức lãnh đạo và lề lối làm việc,
tác phong công tác ...
Những hạn chế, yếu kém trên đây đặt ra yêu cầu
bức thiết đòi hỏi phải đẩy mạnh việc xây dựng,
hoàn thiện Nhà nước theo tinh thần Đại hội IX
của Đảng, đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động
của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp
chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng; cải cách thể chế và
phương thức hoạt động của Nhà nước; xây dựng đội
ngũ cán bộ; công chức đủ trình độ, phẩm chất ...
Trong tình hình hiện nay, để Nhà nước cộng hòa
xã hội chủ nghĩa thực sự là Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân, ngoài các giải pháp như tiếp tục kiện
toàn Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi
mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của Chính
phủ, đẩy mạnh cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ
thống pháp luật, cải cách hành chính và nâng cao
chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân, ủy
ban nhân dân các cấp, cần đặc biệt coi trọng
việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Bởi đó
vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc
đổi mới trên cơ sở làm trong sạch bộ máy nhà
nước, đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung
ứng dịch vụ công, tích cực phòng ngừa và kiên
quyết chống tham nhũng. Xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức thật sự vì dân và xây dựng cơ chế,
hình thức thích hợp để thu hút sự tham gia đóng
góp, xây dựng của nhân dân đối với Nhà nước.
Dưới
sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta tin tưởng rằng,
trong thời gian tới, Nhà nước cách mạng Việt Nam
tiếp tục có những bước phát triển mới, xứng đáng
là một nhà nước kiểu mới - Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân, đáp ứng sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.
(1) Nông Đức
Mạnh: "Ba mươi năm thực hiện Di chúc của Bác
Hồ", Tạp chí Cộng sản, số 17 tháng 9-2004,
tr 5
Nguồn: Tạp chí Cộng sản số 17 (tháng 9-2005)
|