Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

Ba Đình - Vang vọng hồn non nước

Bùi Đình Nguyên


Trên trang vàng biên niên sử Cách mạng Việt Nam vĩnh cửu khắc ghi một thời hào hùng, một thủa vàng son từ mùa thu 60 năm trước với sự chuyển động thần kỳ 15 ngày bão táp cách mạng- phá sạch xiềng gông, đập tan tù ngục, giành lại chính quyền về tay nhân dân ở một nước đầu tiên trên lục địa Á Châu. Thắng lợi rực rỡ huy hoàng của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám đỉnh cao của cao trào Cách mạng, đó là sự tích tụ từ quá trình 15 năm trước với những sự kiện lịch sử mang tầm vóc chiến lược, tạo nên tiền đề của những yếu tố có ý nghĩa quyết định nhất đưa tới sự thành công của cách mạng và ra đời bản Tuyên ngôn độc lập 2-9, đó là:

- Sự kiện tiền khởi- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đảm nhận trọng trách lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Vào mùa xuân năm Canh Ngọ, từ ngày 3 đến 7-2-1930, tại Cửu Long- Hồng Kông, thay mặt tổ chức Quốc tế Cộng sản, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các Đảng Cộng sản trong nước thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất để lãnh đạo Cách mạng giải phóng dân tộc. Từ đó ngày 3-2 mở đầu biên niên sử cách mạng Việt Nam với mốc son đánh dấu sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động- mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nói đó là, Đảng của dân tộc Việt Nam. Xuất hiện trên vũ đài chính trị từ đầu thập kỷ 30 của thế kỷ trước, Đảng đã kiến trúc cương lĩnh với sứ mệnh lãnh đạo nhân dân vùng lên đánh đổ đế quốc, phong kiến, giành lại độc lập dân tộc, “Nam quốc sơn hà nam đế cư”. Gắn kết cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng Xã hội chủ nghĩa, nối liền lịch sử với thời đại, cho đến nay đất nước vẫn tiếp tục con đường mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Cương lĩnh của Đảng đã vạch ra, lộ trình từ 75 năm trước. Đó chính là sự kiện tiền khởi trọng đại bậc nhất của Cách mạng Việt Nam.

- Tiếp đến là sự kiện lịch sử lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ hải ngoại về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng chuẩn bị cho cao trào tổng khởi nghĩa. sau ba thập kỷ- kể từ năm 1911 bôn ba “Bốn bể năm châu” tìm đường cứu nước cứu dân, và tổ chức thành một Đảng thống nhất để lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mùa xuân năm Tân Tỵ, ngày 8-2-1941 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Côn Minh- Trung Quốc trở về nước, đặt bản doanh chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước ở Pắcbó-Cao Bằng. Tại đây, nay đã trở thành một di tích lịch sử quốc gia- còn lưu lại trên vách đá trong hang Pắcbó dòng chữ người đã khắc ghi kỷ niệm, khi vừa về Tổ quốc: “Ngày 8-2-1941”. Tại bản doanh này, tháng 5-1941 Người đã triệu tập Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8- Khóa I quyết định những vấn đề then chốt để phát triển cách mạng, chuẩn bị đón thời cơ tổng khởi nghĩa…Tại Hội nghị Trung ương đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa, lập an toàn khu...

- Nối tiếp một sự kiện lịch sử cực kỳ hệ trọng trực tiếp quan hệ vận mệnh đất nước lúc bấy giờ- đó là Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam triệu tập hội nghị để quyết định Tổng khởi nghĩa. Mùa thu năm Ất Dậu, từ ngày 13 đến 15-8-1945, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Hội nghị đại biểu Đảng toàn quốc tại Tân Trào-Tuyên Quang đã ra quyết định chớp lấy thời cơ phát xít bại trận trong thế chiến thứ hai, để lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước từ tay quân Nhật. Ngay trong đêm 15-8-1945 Tổng Bộ Việt Minh thực hiện chủ trương của Đảng, đã thành lập Ủy ban Khởi nghĩa, ra Quân lệnh số 1 hạ lệnh Tổng khởi nghĩa và cử đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc.

Để triển khai ngay quyết định của Đảng, ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân đã họp tại Đình Tân Trào với 60 đại biểu nghe phát biểu của lãnh tụ Hồ Chí Minh và với lời hiệu triệu:”Dù phải đốt cháy cả dãy Trường sơn cũng phải kiên quyết giành cho được Độc Lập” Đại hội quốc dân đã biểu thị sự đồng thuận nhất trí hoàn toàn với chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, đồng thời thay mặt quốc dân cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng- tức Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa và tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu lãnh đạo. Đại hội cũng đã quyết định Quốc kỳ là cờ đỏ sao vàng năm cánh và Quốc ca là bài Tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao. Sau đại hội, từ Tân Trào Chủ tịch Hồ chí Minh cùng đại biểu quốc dân đã làm lễ tuyên thệ trước hàng nghìn đồng bào Khu căn cứvà ra lời kêu gọi đồng bào toàn quốc trong buổi bình minh của cách mạng:… Hỡi đồng bào yêu quý, giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn thể đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ đỏ sao vàng, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”. Lời Người vang vọng hồn thiêng sông núi trong giờ phút lịch sử thiêng liêng như giục giã triệu, triệu người nô lệ đứng dậy vùng lên khởi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, sự chỉ đạo điều hành trực tiếp của Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc Trường Chinh, từ ngày 18-8 cuộc khởi nghĩa chính thức bắt đầu xuất quân và đã giành ngay thắng lợi đầu tiên tại 4 tỉnh lỵ Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh và Quảng Nam. Tiếp theo, ngày 19-8, Thành ủy Hà Nội phát lệnh Khởi nghĩa, hàng nghìn người xông lên chiếm phủ Khâm sai Bắc Kỳ và các công sở, giành chính quyền từ trong tay phát xít Nhật. Đồng thời cùng ngày, các tỉnh Yên Bái, Phúc Yên, Thái Bình, Thanh Hóa, Khánh Hòa nổi dậy Khởi nghĩa thắng lợi. Ngày 19-8 là ngày Hà Nội Khởi nghĩa giành toàn bộ chính quyền, lật đổ bộ máy cai trị tại cơ quan đầu não Trung ương, nên được lịch sử ghi nhận là ngày truyền thống của Cách mạng tháng Tám thành công trong cả nước.

Nối tiếp sau đó liên tục từ ngày 20 đến 28-8 khắp các tỉnh, thành phố khác đã đứng lên đánh đổ chế độ cũ và kết thúc cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi cả nước. Trong đó cố đô Huế giành chính quyền ngày 23-8, thành phố Sài Gòn khởi nghĩa thành công ngày 25-8. Ngày 30-8 Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố thoái vị trao lại ấn, kiếm của triều đình Huế cho Cách mạng, kết thúc 143 năm trị vì của phong kiến triều Nguyễn.

Tiếp theo, ngày 24-8 Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội và đến đặt “bản doanh” tại 48 Phố Hàng Ngang- tư thất của gia đình ông, bà Trịnh Văn Bô- một doanh nhân yêu nước. Tại đây, người khởi thảo bản Tuyên ngôn độc lập, bản hùng văn lịch sử của dân tộc ra đời. Ngày 2-9 tại quảng trường Ba Đình- Hà Nội xuất hiện trên lễ đài trước rừng cờ đỏ sao vàng và hàng vạn quốc dân Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh với giọng ấm áp thân tình Người hỏi:”Đồng bào nghe tôi nói có rõ không”, rồi người tuyên đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại lễ Quốc Khánh đầu tiên khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn độc lập 2-9 vang vọng hồn non nước, thấu động bốn bể năm châu, chấm dứt những đêm dài nô lệ, kết thúc một thời kỳ đất nước bị đô hộ, thống trị của thực dân phong kiến. Mở đầu một kỷ nguyên mới- kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong thời đại Hồ Chí Minh, sánh vai cùng bầu bạn trong cộng đồng quốc tế- với một Việt Nam vững bền muôn thủa.

Nguồn: http://www.cpv.org.vn/chuyende/

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện