|
Ba Đình -
Vang vọng hồn non nước
Bùi Đình Nguyên
Trên trang vàng biên niên sử Cách mạng Việt Nam
vĩnh cửu khắc ghi một thời hào hùng, một thủa
vàng son từ mùa thu 60 năm trước với sự chuyển
động thần kỳ 15 ngày bão táp cách mạng- phá sạch
xiềng gông, đập tan tù ngục, giành lại chính
quyền về tay nhân dân ở một nước đầu tiên trên
lục địa Á Châu. Thắng lợi rực rỡ huy hoàng của
cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám đỉnh cao của cao
trào Cách mạng, đó là sự tích tụ từ quá trình 15
năm trước với những sự kiện lịch sử mang tầm vóc
chiến lược, tạo nên tiền đề của những yếu tố có
ý nghĩa quyết định nhất đưa tới sự thành công
của cách mạng và ra đời bản Tuyên ngôn độc lập
2-9, đó là:
- Sự
kiện tiền khởi- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
đảm nhận trọng trách lịch sử lãnh đạo cách mạng
Việt Nam. Vào mùa xuân năm Canh Ngọ, từ ngày 3
đến 7-2-1930, tại Cửu Long- Hồng Kông, thay mặt
tổ chức Quốc tế Cộng sản, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các Đảng Cộng sản
trong nước thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
thống nhất để lãnh đạo Cách mạng giải phóng dân
tộc. Từ đó ngày 3-2 mở đầu biên niên sử cách
mạng Việt Nam với mốc son đánh dấu sự ra đời
Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động- mà lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc đã nói đó là, Đảng của dân tộc Việt Nam.
Xuất hiện trên vũ đài chính trị từ đầu thập kỷ
30 của thế kỷ trước, Đảng đã kiến trúc cương
lĩnh với sứ mệnh lãnh đạo nhân dân vùng lên đánh
đổ đế quốc, phong kiến, giành lại độc lập dân
tộc, “Nam quốc sơn hà nam đế cư”. Gắn kết cách
mạng giải phóng dân tộc với cách mạng Xã hội chủ
nghĩa, nối liền lịch sử với thời đại, cho đến
nay đất nước vẫn tiếp tục con đường mà lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc và Cương lĩnh của Đảng đã vạch
ra, lộ trình từ 75 năm trước. Đó chính là sự
kiện tiền khởi trọng đại bậc nhất của Cách mạng
Việt Nam.
-
Tiếp đến là sự kiện lịch sử lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc từ hải ngoại về nước trực tiếp lãnh đạo
cách mạng chuẩn bị cho cao trào tổng khởi nghĩa.
sau ba thập kỷ- kể từ năm 1911 bôn ba “Bốn bể
năm châu” tìm đường cứu nước cứu dân, và tổ chức
thành một Đảng thống nhất để lãnh đạo cách mạng
Việt Nam, mùa xuân năm Tân Tỵ, ngày 8-2-1941
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Côn Minh- Trung Quốc
trở về nước, đặt bản doanh chỉ đạo phong trào
cách mạng trong nước ở Pắcbó-Cao Bằng. Tại đây,
nay đã trở thành một di tích lịch sử quốc gia-
còn lưu lại trên vách đá trong hang Pắcbó dòng
chữ người đã khắc ghi kỷ niệm, khi vừa về Tổ
quốc: “Ngày 8-2-1941”. Tại bản doanh này, tháng
5-1941 Người đã triệu tập Hội nghị Ban chấp hành
Trung ương Đảng lần thứ 8- Khóa I quyết định
những vấn đề then chốt để phát triển cách mạng,
chuẩn bị đón thời cơ tổng khởi nghĩa…Tại Hội
nghị Trung ương đã quyết định thành lập Mặt trận
Việt Minh, tổ chức lực lượng vũ trang giải
phóng, xây dựng căn cứ địa, lập an toàn khu...
-
Nối tiếp một sự kiện lịch sử cực kỳ hệ trọng
trực tiếp quan hệ vận mệnh đất nước lúc bấy giờ-
đó là Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam triệu
tập hội nghị để quyết định Tổng khởi nghĩa. Mùa
thu năm Ất Dậu, từ ngày 13 đến 15-8-1945, dưới
sự chủ trì của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Hội nghị đại
biểu Đảng toàn quốc tại Tân Trào-Tuyên Quang đã
ra quyết định chớp lấy thời cơ phát xít bại trận
trong thế chiến thứ hai, để lãnh đạo toàn dân
khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước từ
tay quân Nhật. Ngay trong đêm 15-8-1945 Tổng Bộ
Việt Minh thực hiện chủ trương của Đảng, đã
thành lập Ủy ban Khởi nghĩa, ra Quân lệnh số 1
hạ lệnh Tổng khởi nghĩa và cử đồng chí Trường
Chinh làm Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc.
Để
triển khai ngay quyết định của Đảng, ngày
16-8-1945, Đại hội quốc dân đã họp tại Đình Tân
Trào với 60 đại biểu nghe phát biểu của lãnh tụ
Hồ Chí Minh và với lời hiệu triệu:”Dù phải đốt
cháy cả dãy Trường sơn cũng phải kiên quyết
giành cho được Độc Lập” Đại hội quốc dân đã biểu
thị sự đồng thuận nhất trí hoàn toàn với chủ
trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, đồng thời thay
mặt quốc dân cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng-
tức Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ
Cộng hòa và tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng
đầu lãnh đạo. Đại hội cũng đã quyết định Quốc kỳ
là cờ đỏ sao vàng năm cánh và Quốc ca là bài
Tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao. Sau đại hội,
từ Tân Trào Chủ tịch Hồ chí Minh cùng đại biểu
quốc dân đã làm lễ tuyên thệ trước hàng nghìn
đồng bào Khu căn cứvà ra lời kêu gọi đồng bào
toàn quốc trong buổi bình minh của cách mạng:…
Hỡi đồng bào yêu quý, giờ quyết định cho vận
mệnh dân tộc đã đến. Toàn thể đồng bào hãy đứng
dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Tiến
lên! Tiến lên! Dưới lá cờ đỏ sao vàng, đồng bào
hãy dũng cảm tiến lên!”. Lời Người vang vọng hồn
thiêng sông núi trong giờ phút lịch sử thiêng
liêng như giục giã triệu, triệu người nô lệ đứng
dậy vùng lên khởi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của
Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, sự chỉ
đạo điều hành trực tiếp của Chủ tịch Ủy ban khởi
nghĩa toàn quốc Trường Chinh, từ ngày 18-8 cuộc
khởi nghĩa chính thức bắt đầu xuất quân và đã
giành ngay thắng lợi đầu tiên tại 4 tỉnh lỵ Bắc
Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh và Quảng Nam. Tiếp
theo, ngày 19-8, Thành ủy Hà Nội phát lệnh Khởi
nghĩa, hàng nghìn người xông lên chiếm phủ Khâm
sai Bắc Kỳ và các công sở, giành chính quyền từ
trong tay phát xít Nhật. Đồng thời cùng ngày,
các tỉnh Yên Bái, Phúc Yên, Thái Bình, Thanh
Hóa, Khánh Hòa nổi dậy Khởi nghĩa thắng lợi.
Ngày 19-8 là ngày Hà Nội Khởi nghĩa giành toàn
bộ chính quyền, lật đổ bộ máy cai trị tại cơ
quan đầu não Trung ương, nên được lịch sử ghi
nhận là ngày truyền thống của Cách mạng tháng
Tám thành công trong cả nước.
Nối
tiếp sau đó liên tục từ ngày 20 đến 28-8 khắp
các tỉnh, thành phố khác đã đứng lên đánh đổ chế
độ cũ và kết thúc cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi
cả nước. Trong đó cố đô Huế giành chính quyền
ngày 23-8, thành phố Sài Gòn khởi nghĩa thành
công ngày 25-8. Ngày 30-8 Hoàng đế Bảo Đại tuyên
bố thoái vị trao lại ấn, kiếm của triều đình Huế
cho Cách mạng, kết thúc 143 năm trị vì của phong
kiến triều Nguyễn.
Tiếp
theo, ngày 24-8 Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội
và đến đặt “bản doanh” tại 48 Phố Hàng Ngang- tư
thất của gia đình ông, bà Trịnh Văn Bô- một
doanh nhân yêu nước. Tại đây, người khởi thảo
bản Tuyên ngôn độc lập, bản hùng văn lịch sử của
dân tộc ra đời. Ngày 2-9 tại quảng trường Ba
Đình- Hà Nội xuất hiện trên lễ đài trước rừng cờ
đỏ sao vàng và hàng vạn quốc dân Thủ đô, Chủ
tịch Hồ Chí Minh với giọng ấm áp thân tình Người
hỏi:”Đồng bào nghe tôi nói có rõ không”, rồi
người tuyên đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại lễ
Quốc Khánh đầu tiên khai sinh ra nước Việt Nam
dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn độc lập 2-9 vang
vọng hồn non nước, thấu động bốn bể năm châu,
chấm dứt những đêm dài nô lệ, kết thúc một thời
kỳ đất nước bị đô hộ, thống trị của thực dân
phong kiến. Mở đầu một kỷ nguyên mới- kỷ nguyên
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
trong thời đại Hồ Chí Minh, sánh vai cùng bầu
bạn trong cộng đồng quốc tế- với một Việt Nam
vững bền muôn thủa.
Nguồn: http://www.cpv.org.vn/chuyende/ |