|
Ban
Thường trực đầu tiên của Quốc hội Khóa I
trong
giai đoạn kháng chiến, kiến quốc
Trần Văn Tám
Tổng tuyển cử ngày 6 tháng giêng năm 1946 giành
được thắng lợi to lớn. Quốc hội Khóa I – Quốc
hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
ra đời. Tình hình trong nước lúc bấy giờ có
những diễn biến phức tạp mới. Thực dân Pháp tăng
cường chiếm đóng ở nhiều địa phương. Lực lượng
Việt Quốc, Việt Cách ra sức chống phá, âm mưu
lật đổ chính quyền cách mạng. Trước những khó
khăn, cam go như vậy, Hồ Chủ tịch đã chỉ đạo
khẩn trương chuẩn bị tổ chức kỳ họp đầu tiên của
Quốc hội để tiến hành các công việc quan trọng
nhằm thiết lập, củng cố chính quyền nhân dân,
thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, vì
lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia, giữ vững nền
độc lập, tự do của Tổ quốc, tiến hành kháng
chiến thắng lợi.
Sáng ngày 2.3.1946, Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội
Khóa I chính thức khai mạc. Với một thời gian
ngắn, kỳ họp đã hoàn thành một số việc quan
trong như thành lập Chính phủ Liên hiệp kháng
chiến, Ban Thường trực Quốc hội, cố vấn đoàn và
kháng chiến ủy viên hội. Như vậy, với sự ra đời
của các cơ quan nói trên, Nhà nước cách mạng non
trẻ của nhân dân ta đã từng bước được thiết lập,
củng cố để đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, lãnh đạo đất
nước. Ban Thường trực Quốc hội là cơ quan của
Quốc hội, thay mặt Quốc hội, cùng với Chính phủ,
sát cánh với Chính phủ giải quyết các công việc
đối nội, đối ngoại, lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc
kháng chiến, kiến quốc. Nhiệm vụ và quyền hạn
chủ yếu của Ban Thường trực Quốc hội lúc đó được
Quốc hội giao là: Góp ý kiến với Chính phủ; Giám
sát, phê bình Chính phủ khi Chính phu đi ngược
lại quyền lợi của nhân dân, thì có quyền hiệu
triệu quốc dân; Triệu tập Quốc hội họp trong
trường hợp Chính phủ yêu cầu, hoặc khi cần thiết
có quá nửa ủy viên Thường trực Quốc hội đề nghị
triệu tập họp Quốc hội. Ngoài ra, Ban Thường
trực Quốc hội có quyền tuyên chiến hay đình
chiến, hoặc ký kết hiệp ước với nước ngoài. Việc
tuyên chiến, đình chiến, việc ký hiệp ước phải
được Quốc hội chuẩn y.
Ban Thường trực Quốc hội được Quốc hội bầu ra
với 15 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết
do cụ Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban, ông Phạm Văn
Đồng và ông Cung Đình Quỳ làm Phó trưởng ban.
Dưới sự chỉ đạo của TƯ Đảng và Hồ Chủ tịch, Ban
Thường trực Quốc hội đã cùng với Chính phủ thực
hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng để xây dựng, củng
cố chính quyền nhân dân, đẩy mạnh công cuộc
kháng chiến, kiến quốc. Sau khi ký kết với thực
dân Pháp hiệp định sơ bộ ngày 6.3.1946, nhận
thấy cuộc đấu tranh của nhân dân ta còn phải
tiếp tục trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, Ban
Thường trực Quốc hội đã cùng với Chính phủ ban
hành nhiều chính sách, biện pháp để thực hiện
chủ trương đoàn kết dân tộc, thực hiện hòa giải
và hòa hợp để tập hợp lực lượng xây dựng mặt
trận quốc gia liên hiệp và thống nhất để chống
xâm lăng, giữ vững chính quyền, kiến thiết đất
nước và thực hiện chính sách ngoại giao thân
thiện với các nước để họ hiểu và tích cực ủng hộ
cuộc cách mạng của nhân dân ta. Đồng thời, Ban
Thường trực Quốc hội đã góp ý kiến với Chính phủ
có những chính sách, biện pháp cụ thể nhằm bảo
vệ sinh mệnh và tài sản của tất cả công dân Việt
Nam và kiều bào nước ngoài; Điều hành, chỉ đạo
thống nhất về cải cách hành chính, quân sự; Thực
hiện kinh tế, tài chính tập trung; Huy động được
nguồn nhân lực, vật lực của quốc dân để phục vụ
công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Với vai trò
của mình, Ban Thường trực Quốc hội đã thay mặt
Quốc hội ra lời hiệu triệu đồng bào cả nước luôn
chuẩn bị sẵn sàng trong mọi tình huống, đoàn
kết, bình tĩnh trong mọi trường hợp, thực hiện
tốt chủ tương, chính sách và sự lãnh đạo, chỉ
đạo của Chính phủ.
Ban Thường trực Quốc hội đã có nhiều cố gắng
trong hoạt động đối ngoại. Một trong những hoạt
động cụ thể đó là việc Ban Thường trực cử một
phái đoàn của Quốc hội gồm 10 đại biểu mang tư
cách Quốc hội Việt Nam lần đầu tiên đi thăm Pháp
vào ngày 25.4.1946. Cuộc thăm của Đoàn Quốc hội
Việt Nam vào thời điểm lúc bấy giờ có ý nghĩa
chính trị to lớn, đã làm cho nhiều chính khách
và nhân dân Pháp hiểu rõ hơn về cuộc đấu tranh
của nhân dân Việt Nam, từ đó có những tình cảm
tốt hơn với Việt Nam; Đồng thời đã nâng cao uy
tín của Quốc hội và Chính phủ ta trên trường
quốc tế.
Một trong những công việc có ý nghĩa quan trọng
nhằm khẳng định vị thế pháp lý của đất nước, đó
là việc Quốc hội Khóa I tại Kỳ họp thứ hai (ngày
9.11.1946) đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên
của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ban Thường trực
Quốc hội đã có những đóng góp tích cực trong quá
trình nghiên cứu, chuẩn bị bản dự thảo Hiến pháp
để trình Quốc hội thông qua. Nhiều chế định đã
được quy định trong Hiến pháp, trong đó có chế
định về tổ chức và hoạt động của Nghị viện nhân
dân (Quốc hội). Theo đó, tổ chức và nhiệm vụ,
quyền hạn của Ban Thường trực Quốc hội được quy
định rõ: Nghị viện nhân dân bầu một Nghị trưởng,
hai Phó nghị trưởng, 12 Ủy viên chính thức, 3 ủy
viên dự khuyết để lập thành ban thường trực.
Nghị trưởng và Phó nghị trưởng kiêm chức Trưởng
và Phó trưởng ban Thường trực. Ban Thường trực
có nhiệm vụ triệu tập nghị viện nhân dân họp mỗi
năm hai lần vào tháng 5 và tháng 11. Khi Nghị
viện nhân dân đã hết hạn hoặc chưa hết hạn mà tự
giải tán, thì Ban Thường trực giữ chức quyền cho
đến khi bầu lại Nghị viện nhân dân mới. Hai
tháng trước khi Nghị viện nhân dân hết hạn, Ban
Thường trực tuyên bố cuộc bầu cử mới... Chậm
nhất là 1 tháng sau cuộc bầu cử, Ban Thường trực
phải triệu tập họp Nghị viện nhân dân mới. Trong
khi có chiến tranh mà Nghị viện hết hạn, thì
Nghị viện hoặc Ban Thường trực có quyền gia hạn
thêm một thời gian không nhất định; Nhưng chậm
nhất là 6 tháng sau khi chiến tranh kết thúc thì
phải bầu lại Nghị viện.
Hiến pháp cũng quy định thẩm quyền của Ban
Thường trực Quốc hội khi Quốc hội không họp, đó
là các quyền: Biểu quyết những dự án Sắc luật
của Chính phủ, những sắc luật đó phải trình Nghị
viện vào phiên họp gần nhất để Nghị viện phê
chuẩn hoặc phế bỏ; Quyền triệu tập Nghị viện họp;
Quyền kiểm soát và phê bình Chính phủ. Một thẩm
quyền khác rất quan trọng của Ban Thường trực
cùng với Chính phủ có quyền quyết định tuyên
chiến hay đình chiến. Đối với Nghị viện (đại
biểu Quốc hội), Ban Thường trực có quyền như sau:
Nếu chưa được Nghị viện đồng ý hay trong lúc
Nghị viện không họp mà chưa được Ban Thường trực
đồng chí thì Chính phủ không được bắt giam và xử
Nghị viện đó. Nghị viện không bị truy tố vì lời
nói hay biểu quyết trong Nghị viện. Trong trường
hợp phạm pháp quả tang, Chính phủ có thể bắt
giam Nghị viện, nhưng chậm nhất là 24 giờ phải
thông tri cho Ban Thường trực để Ban Thường trực
hoặc Nghị viện sẽ định đoạt.
(Còn nữa)
Báo Người đại biểu nhân dân số 223, ngày
17-11-2005 |