Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

 Ban Thường trực đầu tiên của Quốc hội Khóa I

trong giai đoạn kháng chiến, kiến quốc

Trần Văn Tám

Tổng tuyển cử ngày 6 tháng giêng năm 1946 giành được thắng lợi to lớn. Quốc hội Khóa I – Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Tình hình trong nước lúc bấy giờ có những diễn biến phức tạp mới. Thực dân Pháp tăng cường chiếm đóng ở nhiều địa phương. Lực lượng Việt Quốc, Việt Cách ra sức chống phá, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng. Trước những khó khăn, cam go như vậy, Hồ Chủ tịch đã chỉ đạo khẩn trương chuẩn bị tổ chức kỳ họp đầu tiên của Quốc hội để tiến hành các công việc quan trọng nhằm thiết lập, củng cố chính quyền nhân dân, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, vì lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia, giữ vững nền độc lập, tự do của Tổ quốc, tiến hành kháng chiến thắng lợi.

Sáng ngày 2.3.1946, Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội Khóa I chính thức khai mạc. Với một thời gian ngắn, kỳ họp đã hoàn thành một số việc quan trong như thành lập Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, Ban Thường trực Quốc hội, cố vấn đoàn và kháng chiến ủy viên hội. Như vậy, với sự ra đời của các cơ quan nói trên, Nhà nước cách mạng non trẻ của nhân dân ta đã từng bước được thiết lập, củng cố để đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, lãnh đạo đất nước. Ban Thường trực Quốc hội là cơ quan của Quốc hội, thay mặt Quốc hội, cùng với Chính phủ, sát cánh với Chính phủ giải quyết các công việc đối nội, đối ngoại, lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu của Ban Thường trực Quốc hội lúc đó được Quốc hội giao là: Góp ý kiến với Chính phủ; Giám sát, phê bình Chính phủ khi Chính phu đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, thì có quyền hiệu triệu quốc dân; Triệu tập Quốc hội họp trong trường hợp Chính phủ yêu cầu, hoặc khi cần thiết có quá nửa ủy viên Thường trực Quốc hội đề nghị triệu tập họp Quốc hội. Ngoài ra, Ban Thường trực Quốc hội có quyền tuyên chiến hay đình chiến, hoặc ký kết hiệp ước với nước ngoài. Việc tuyên chiến, đình chiến, việc ký hiệp ước phải được Quốc hội chuẩn y.

Ban Thường trực Quốc hội được Quốc hội bầu ra với 15 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết do cụ Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban, ông Phạm Văn Đồng và ông Cung Đình Quỳ làm Phó trưởng ban. Dưới sự chỉ đạo của TƯ Đảng và Hồ Chủ tịch, Ban Thường trực Quốc hội đã cùng với Chính phủ thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng để xây dựng, củng cố chính quyền nhân dân, đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Sau khi ký kết với thực dân Pháp hiệp định sơ bộ ngày 6.3.1946, nhận thấy cuộc đấu tranh của nhân dân ta còn phải tiếp tục trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, Ban Thường trực Quốc hội đã cùng với Chính phủ ban hành nhiều chính sách, biện pháp để thực hiện chủ trương đoàn kết dân tộc, thực hiện hòa giải và hòa hợp để tập hợp lực lượng xây dựng mặt trận quốc gia liên hiệp và thống nhất để chống xâm lăng, giữ vững chính quyền, kiến thiết đất nước và thực hiện chính sách ngoại giao thân thiện với các nước để họ hiểu và tích cực ủng hộ cuộc cách mạng của nhân dân ta. Đồng thời, Ban Thường trực Quốc hội đã góp ý kiến với Chính phủ có những chính sách, biện pháp cụ thể nhằm bảo vệ sinh mệnh và tài sản của tất cả công dân Việt Nam và kiều bào nước ngoài; Điều hành, chỉ đạo thống nhất về cải cách hành chính, quân sự; Thực hiện kinh tế, tài chính tập trung; Huy động được nguồn nhân lực, vật lực của quốc dân để phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Với vai trò của mình, Ban Thường trực Quốc hội đã thay mặt Quốc hội ra lời hiệu triệu đồng bào cả nước luôn chuẩn bị sẵn sàng trong mọi tình huống, đoàn kết, bình tĩnh trong mọi trường hợp, thực hiện tốt chủ tương, chính sách và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Chính phủ.

Ban Thường trực Quốc hội đã có nhiều cố gắng trong hoạt động đối ngoại. Một trong những hoạt động cụ thể đó là việc Ban Thường trực cử một phái đoàn của Quốc hội gồm 10 đại biểu mang tư cách Quốc hội Việt Nam lần đầu tiên đi thăm Pháp vào ngày 25.4.1946. Cuộc thăm của Đoàn Quốc hội Việt Nam vào thời điểm lúc bấy giờ có ý nghĩa chính trị to lớn, đã làm cho nhiều chính khách và nhân dân Pháp hiểu rõ hơn về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, từ đó có những tình cảm tốt hơn với Việt Nam; Đồng thời đã nâng cao uy tín của Quốc hội và Chính phủ ta trên trường quốc tế.

Một trong những công việc có ý nghĩa quan trọng nhằm khẳng định vị thế pháp lý của đất nước, đó là việc Quốc hội Khóa I tại Kỳ họp thứ hai (ngày 9.11.1946) đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ban Thường trực Quốc hội đã có những đóng góp tích cực trong quá trình nghiên cứu, chuẩn bị bản dự thảo Hiến pháp để trình Quốc hội thông qua. Nhiều chế định đã được quy định trong Hiến pháp, trong đó có chế định về tổ chức và hoạt động của Nghị viện nhân dân (Quốc hội). Theo đó, tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Thường trực Quốc hội được quy định rõ: Nghị viện nhân dân bầu một Nghị trưởng, hai Phó nghị trưởng, 12 Ủy viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết để lập thành ban thường trực. Nghị trưởng và Phó nghị trưởng kiêm chức Trưởng và Phó trưởng ban Thường trực. Ban Thường trực có nhiệm vụ triệu tập nghị viện nhân dân họp mỗi năm hai lần vào tháng 5 và tháng 11. Khi Nghị viện nhân dân đã hết hạn hoặc chưa hết hạn mà tự giải tán, thì Ban Thường trực giữ chức quyền cho đến khi bầu lại Nghị viện nhân dân mới. Hai tháng trước khi Nghị viện nhân dân hết hạn, Ban Thường trực tuyên bố cuộc bầu cử mới... Chậm nhất là 1 tháng sau cuộc bầu cử, Ban Thường trực phải triệu tập họp Nghị viện nhân dân mới. Trong khi có chiến tranh mà Nghị viện hết hạn, thì Nghị viện hoặc Ban Thường trực có quyền gia hạn thêm một thời gian không nhất định; Nhưng chậm nhất là 6 tháng sau khi chiến tranh kết thúc thì phải bầu lại Nghị viện.

Hiến pháp cũng quy định thẩm quyền của Ban Thường trực Quốc hội khi Quốc hội không họp, đó là các quyền: Biểu quyết những dự án Sắc luật của Chính phủ, những sắc luật đó phải trình Nghị viện vào phiên họp gần nhất để Nghị viện phê chuẩn hoặc phế bỏ; Quyền triệu tập Nghị viện họp; Quyền kiểm soát và phê bình Chính phủ. Một thẩm quyền khác rất quan trọng của Ban Thường trực cùng với Chính phủ có quyền quyết định tuyên chiến hay đình chiến. Đối với Nghị viện (đại biểu Quốc hội), Ban Thường trực có quyền như sau: Nếu chưa được Nghị viện đồng ý hay trong lúc Nghị viện không họp mà chưa được Ban Thường trực đồng chí thì Chính phủ không được bắt giam và xử Nghị viện đó. Nghị viện không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện. Trong trường hợp phạm pháp quả tang, Chính phủ có thể bắt giam Nghị viện, nhưng chậm nhất là 24 giờ phải thông tri cho Ban Thường trực để Ban Thường trực hoặc Nghị viện sẽ định đoạt.

(Còn nữa)

Báo Người đại biểu nhân dân số 223, ngày 17-11-2005 

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện