|
Ban
Thường trực đầu tiên của Quốc hội Khóa I
trong
giai đoạn kháng chiến, kiến quốc
Trần Văn Tám
(Tiếp theo và hết)
Trong điều kiện chiến tranh ngày càng lan rộng
và ác liệt do thực dân Pháp cố tình cướp nước ta
một lần nữa. Đáp ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến ngày 19.12.1946 của Hồ Chủ tịch, để bảo
đảm an toàn, bí mật, tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và bè lũ
tay sai, TƯ Đảng, Chính phủ và Ban Thường trực
Quốc hội cùng các cơ quan, tổ chức khác của Đảng
và Nhà nước đã rời Thủ đô Hà Nội lên Việt Bắc (Tuyên
Quang) để lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành
cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc.
Trong hoàn cảnh chiến tranh diễn ra ác liệt, các
ủy viên của Ban Thường trực Quốc hội được phân
công đi hoạt động ở các địa phương, các khu, để
tham gia công tác quản lý, chỉ đạo, động viên
nhân dân thực hiện công cuộc kháng chiến. Vì thế,
không thể triệu tập toàn thể thành viên Ban
Thường trực Quốc hội họp hoặc tập trung làm việc
được. Để phù hợp với điều kiện thực tế đó, Ban
Thường trực Quốc hội đã có những quyết định về
cách thức hoạt động của mình, đó là phân công
Trưởng ban Thường trực Quốc hội bên cạnh Chính
phủ để bàn bạc, góp ý kiến, thống nhất chủ
trương, đường lối, chính sách, kịp thời chỉ đạo
cuộc kháng chiến ngày một khẩn trương, ác liệt;
Còn các ủy viên Ban Thường trực Quốc hội ở các
nơi thì tìm cách liên lạc, thư từ với Ban Thường
trực để nắm bắt thông tin, tình hình chung phục
vụ cho hoạt động của mình và của Ban Thường trực.
Có thời gian, do yêu cầu khẩn trương, phải lo
nhiều công việc, Ban Thường trực Quốc hội đã cử
ra một Ban Thường vụ gồm Trưởng ban, Phó trưởng
ban và hai, ba ủy viên thay mặt Ban Thường trực
để giải quyết công việc hằng ngày, cũng như để
cộng tác và liên lạc với Chính phủ trong chỉ đạo,
điều hành công việc chung và trong việc giữ liên
lạc với các đại biểu Quốc hội và nhân dân để nắm
được tình hình địa phương cũng như ý kiến,
nguyện vọng của nhân dân giúp cho việc đề ra
những chủ trương, chính sách chỉ đạo phù hợp.
Trong những năm tháng tiến hành cuộc kháng chiến,
Ban Thường trực Quốc hội đã vượt qua mọi trở
ngại, khó khăn thực hiện trách nhiệm được Quốc
hội giao phó. Từ cuối năm 1946 đến sau chiến
thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, trên cơ sở
những quy định được ban hành và thực tiễn cuộc
kháng chiến toàn dân, toàn diện, Ban Thường trực
Quốc hội tham gia góp ý với Chính phủ ban hành
nhiều Sắc lệnh và Nghị định, Thông tư để chỉ đạo,
điều hành cuộc kháng chiến, kiến quốc. Trong số
đó có nhiều Sắc lệnh, Nghị định và Thông tư về
chính sách giảm tô, giảm tức, cải cách ruộng đất,
nhằm thực hiện chủ trương người cày có ruộng, ổn
định và cải thiện đời sống của nông dân, làm cơ
sở đẩy mạnh kháng chiến, hoàn thành cuộc cách
mạng dân chủ, nhân dân ở miền Bắc, tiếp tục đấu
tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Bước vào giai đoạn cách mạng mới (1954 – 1960),
để phù hợp với yêu cầu hoạt động của Ban Thường
trực Quốc hội trong giai đoạn này, tại Kỳ họp
thứ 6, Quốc hội Khóa I (tháng 1.1957), Quốc hội
cũng đã quyết định giao cho Ban Thường trực Quốc
hội một số nhiệm vụ, quyền hạn có tính chất đầy
đủ, cụ thể hơn để thực hiện trong thời gian giữa
2 kỳ họp Quốc hội, đó là: Triệu tập Quốc hội và
giữ mối quan hệ với các đại biểu Quốc hội; Biểu
quyết Sắc luật do Chính phủ đề ra (những Sắc
luật đó phải trình ra Quốc hội vào kỳ họp gần
nhất và trở thành những đạo luật của Nhà nước
nếu được Quốc hội chuẩn y”; Xét và đề ra để
Chính phủ sửa đổi hoặc hủy bỏ những sắc luật;
Thỏa thuận với Chính phủ về cử người thay thế
hoặc bổ sung bộ trưởng (danh sách những bộ
trưởng được cử sẽ trình ra Quốc hội trong kỳ họp
gần nhất); Thỏa thuận với Chính phủ về việc thi
hành những Hiệp ước ký với nước ngoài (những
Hiệp ước này phải trình ra Quốc hội trong kỳ họp
gần nhất). Trong điều kiện hòa bình, xây dựng
đất nước ở miền Bắc, Ban Thường trực Quốc hội đã
có điều kiện hoạt động thường xuyên hơn, đầu tư
và tập trung hơn cho công việc Quốc hội. Thể
hiện rõ nhất là việc tổ chức các kỳ họp Quốc hội
đều đặn theo quy định.
Trong 6 năm, từ năm 1954
đến năm 1960, Ban Thường trực Quốc hội đã triệu
tập 9 kỳ họp Quốc hội; Bàn và quyết định nhiều
chính sách để khôi phục và phát triển kinh tế ở
miền Bắc sau chiến tranh, chi viện và ủng hộ
đồng bào miền Nam tiếp tục đấu tranh chống bọn
can thiệp Mỹ và bè lũ tay sai; Thông qua một số
luật như luật về quyền tự do hội họp, luật về
lập hội; Luật về bảo đảm quyền tự do thân thể và
quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật,
thư tín của nhân dân, luật về chế độ báo chí,
luật công đoàn, luật hôn nhân và gia đình, Luật
về tổ chức chính quyền địa phương, Luật Bầu cử
đại biểu Quốc hội, Luật về chế độ phục vụ của sỹ
quan quân độ nhân dân Việt Nam... Đặc biệt,
trong thời kỳ này là việc sửa đổi Hiến pháp năm
1946 và thông qua Hiến pháp sửa đổi. Ban Thường
trực Quốc hội đã đề nghị Quốc hội tiến hành việc
nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp năm 1946, để có
bản Hiến pháp phù hợp với tình hình cách mạng
của giai đoạn mới của đất nước. Sau một thời
gian nghiên cứu, chuẩn bị, Ban sửa đổi Hiến pháp
đã trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp sửa đổi và
Quốc hội đã thông qua dự thảo Hiến pháp tại Kỳ
họp thứ 11 ngày 31.12.1959. Theo Hiến pháp năm
1959, Ban Thường trực Quốc hội được đổi tên gọi
là Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tổ chức và chức
năng nhiệm vụ của UBTVQH được quy định đầy đủ và
hoàn chỉnh hơn. UBTVQH là cơ quan Thường trực
của Quốc hội, do Quốc hội bầu ra. UBTVQH gồm có
Chủ tịch, các Phó chủ tịch, Tổng thư ký và các
ủy viên. UBTVQH có những nhiệm vụ, quyền hạn:
Tuyên bố và chủ trì việc tuyển cử đại biểu Quốc
hội; Triệu tập Quốc hội; Giải thích pháp luật;
Ra pháp lệnh; Quyết định trưng cầu ý kiến nhân
dân; Giám sát công tác của Hội đồng Chính phủ,
của TANDTC và của VKSNDTC; Sửa đổi hoặc bãi bỏ
những nghị định, nghị quyết của Chính phủ trái
với Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh; Sửa đổi
hoặc bãi bỏ những nghị quyết không thích đáng
của HĐND tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc
TƯ và giải tán các HĐND nói trên trong trường
hợp các HĐND đó làm thiệt hại đến quyền lợi của
nhân dân một cách nghiêm trọng; Trong thời gian
Quốc hội không họp, quyết định việc bổ nhiệm
hoặc bãi miễn Phó thủ tướng và những thành viên
khác của Hội đồng Chính phủ; Bổ nhiệm hoặc miễn
Phó viện trưởng, kiểm sát viên VKSNDTC; Quyết
định việc bổ nhiệm hoặc bãi miễn các đại diện
toàn quyền ngoại giao của Nước Việt Nam DCCH ở
nước ngoài; Quyết định việc phê chuẩn hoặc bãi
bỏ những hiệp ước ký với nước ngoài, trừ trường
hợp mà UBTVQH xét cần phải trình Quốc hội quyết
định; Quy định hàm và cấp quân sự, ngoại giao và
những hàm và cấp khác; Quyết định đặc xá; Quy
định và quyết định việc tặng thưởng Huân chương
và danh hiệu vinh dự Nhà nước; Quyết định việc
tuyên bố tình trạng chiến tranh trong trường hợp
nước nhà bị xâm lược (khi Quốc hội không họp);
Quyết định việc tổng động viên hoặc động viên
cục bộ; Quyết định việc giới nghiêm trong toàn
quốc hoặc từng địa phương. Ngoài ra, Quốc hội có
thể trao cho UBTVQH những nhiệm vụ, quyền hạn
khác khi xét thấy cần thiết.
Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của UBTVQH (Ban
Thường trực Quốc hội trước đây) đã ngày càng
được đổi mới, bổ sung hoàn chỉnh trong các quy
định ở các bản Hiến pháp 1980, 1992 và các Luật
về tổ chức Quốc hội, trên cơ sở kinh nghiệm hoạt
động thực tiễn và kế thừa có chọn lọc những quy
định còn phù hợp, đồng thời bổ sung những quy
định mới để đáp ứng ngày càng cao yêu cầu đổi
mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của
Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, trong đó có
UBTVQH. Qua gần 11 khóa Quốc hội, cùng với sự
trưởng thành, phát triển lớn mạnh không ngừng
của đất nước, Quốc hội nói chung và UBTVQH (Ban
Thường trực Quốc hội trước đây) đã trải qua các
thời kỳ cách mạng rất hào hùng, vẻ vang của đất
nước, hoàn thành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
mà nhân dân giao phó, đóng góp rất quan trọng
vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước, xây dựng Nhà nước xã hội
chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
Báo Người đại biểu nhân dân số 224, ngày
18-11-2005 |