Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

 Ban Thường trực đầu tiên của Quốc hội Khóa I

trong giai đoạn kháng chiến, kiến quốc

Trần Văn Tám

(Tiếp theo và hết)

Trong điều kiện chiến tranh ngày càng lan rộng và ác liệt do thực dân Pháp cố tình cướp nước ta một lần nữa. Đáp ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19.12.1946 của Hồ Chủ tịch, để bảo đảm an toàn, bí mật, tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai, TƯ Đảng, Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội cùng các cơ quan, tổ chức khác của Đảng và Nhà nước đã rời Thủ đô Hà Nội lên Việt Bắc (Tuyên Quang) để lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc. Trong hoàn cảnh chiến tranh diễn ra ác liệt, các ủy viên của Ban Thường trực Quốc hội được phân công đi hoạt động ở các địa phương, các khu, để tham gia công tác quản lý, chỉ đạo, động viên nhân dân thực hiện công cuộc kháng chiến. Vì thế, không thể triệu tập toàn thể thành viên Ban Thường trực Quốc hội họp hoặc tập trung làm việc được. Để phù hợp với điều kiện thực tế đó, Ban Thường trực Quốc hội đã có những quyết định về cách thức hoạt động của mình, đó là phân công Trưởng ban Thường trực Quốc hội bên cạnh Chính phủ để bàn bạc, góp ý kiến, thống nhất chủ trương, đường lối, chính sách, kịp thời chỉ đạo cuộc kháng chiến ngày một khẩn trương, ác liệt; Còn các ủy viên Ban Thường trực Quốc hội ở các nơi thì tìm cách liên lạc, thư từ với Ban Thường trực để nắm bắt thông tin, tình hình chung phục vụ cho hoạt động của mình và của Ban Thường trực. Có thời gian, do yêu cầu khẩn trương, phải lo nhiều công việc, Ban Thường trực Quốc hội đã cử ra một Ban Thường vụ gồm Trưởng ban, Phó trưởng ban và hai, ba ủy viên thay mặt Ban Thường trực để giải quyết công việc hằng ngày, cũng như để cộng tác và liên lạc với Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành công việc chung và trong việc giữ liên lạc với các đại biểu Quốc hội và nhân dân để nắm được tình hình địa phương cũng như ý kiến, nguyện vọng của nhân dân giúp cho việc đề ra những chủ trương, chính sách chỉ đạo phù hợp.

Trong những năm tháng tiến hành cuộc kháng chiến, Ban Thường trực Quốc hội đã vượt qua mọi trở ngại, khó khăn thực hiện trách nhiệm được Quốc hội giao phó. Từ cuối năm 1946 đến sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, trên cơ sở những quy định được ban hành và thực tiễn cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, Ban Thường trực Quốc hội tham gia góp ý với Chính phủ ban hành nhiều Sắc lệnh và Nghị định, Thông tư để chỉ đạo, điều hành cuộc kháng chiến, kiến quốc. Trong số đó có nhiều Sắc lệnh, Nghị định và Thông tư về chính sách giảm tô, giảm tức, cải cách ruộng đất, nhằm thực hiện chủ trương người cày có ruộng, ổn định và cải thiện đời sống của nông dân, làm cơ sở đẩy mạnh kháng chiến, hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ, nhân dân ở miền Bắc, tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Bước vào giai đoạn cách mạng mới (1954 – 1960), để phù hợp với yêu cầu hoạt động của Ban Thường trực Quốc hội trong giai đoạn này, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa I (tháng 1.1957), Quốc hội cũng đã quyết định giao cho Ban Thường trực Quốc hội một số nhiệm vụ, quyền hạn có tính chất đầy đủ, cụ thể hơn để thực hiện trong thời gian giữa 2 kỳ họp Quốc hội, đó là: Triệu tập Quốc hội và giữ mối quan hệ với các đại biểu Quốc hội; Biểu quyết Sắc luật do Chính phủ đề ra (những Sắc luật đó phải trình ra Quốc hội vào kỳ họp gần nhất và trở thành những đạo luật của Nhà nước nếu được Quốc hội chuẩn y”; Xét và đề ra để Chính phủ sửa đổi hoặc hủy bỏ những sắc luật; Thỏa thuận với Chính phủ về cử người thay thế hoặc bổ sung bộ trưởng (danh sách những bộ trưởng được cử sẽ trình ra Quốc hội trong kỳ họp gần nhất); Thỏa thuận với Chính phủ về việc thi hành những Hiệp ước ký với nước ngoài (những Hiệp ước này phải trình ra Quốc hội trong kỳ họp gần nhất). Trong điều kiện hòa bình, xây dựng đất nước ở miền Bắc, Ban Thường trực Quốc hội đã có điều kiện hoạt động thường xuyên hơn, đầu tư và tập trung hơn cho công việc Quốc hội. Thể hiện rõ nhất là việc tổ chức các kỳ họp Quốc hội đều đặn theo quy định.

Trong 6 năm, từ năm 1954 đến năm 1960, Ban Thường trực Quốc hội đã triệu tập 9 kỳ họp Quốc hội; Bàn và quyết định nhiều chính sách để khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc sau chiến tranh, chi viện và ủng hộ đồng bào miền Nam tiếp tục đấu tranh chống bọn can thiệp Mỹ và bè lũ tay sai; Thông qua một số luật như luật về quyền tự do hội họp, luật về lập hội; Luật về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân, luật về chế độ báo chí, luật công đoàn, luật hôn nhân và gia đình, Luật về tổ chức chính quyền địa phương, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật về chế độ phục vụ của sỹ quan quân độ nhân dân Việt Nam... Đặc biệt, trong thời kỳ này là việc sửa đổi Hiến pháp năm 1946 và thông qua Hiến pháp sửa đổi. Ban Thường trực Quốc hội đã đề nghị Quốc hội tiến hành việc nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp năm 1946, để có bản Hiến pháp phù hợp với tình hình cách mạng của giai đoạn mới của đất nước. Sau một thời gian nghiên cứu, chuẩn bị, Ban sửa đổi Hiến pháp đã trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp sửa đổi và Quốc hội đã thông qua dự thảo Hiến pháp tại Kỳ họp thứ 11 ngày 31.12.1959. Theo Hiến pháp năm 1959, Ban Thường trực Quốc hội được đổi tên gọi là Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tổ chức và chức năng nhiệm vụ của UBTVQH được quy định đầy đủ và hoàn chỉnh hơn. UBTVQH là cơ quan Thường trực của Quốc hội, do Quốc hội bầu ra. UBTVQH gồm có Chủ tịch, các Phó chủ tịch, Tổng thư ký và các ủy viên. UBTVQH có những nhiệm vụ, quyền hạn: Tuyên bố và chủ trì việc tuyển cử đại biểu Quốc hội; Triệu tập Quốc hội; Giải thích pháp luật; Ra pháp lệnh; Quyết định trưng cầu ý kiến nhân dân; Giám sát công tác của Hội đồng Chính phủ, của TANDTC và của VKSNDTC; Sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị định, nghị quyết của Chính phủ trái với Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh; Sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết không thích đáng của HĐND tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc TƯ và giải tán các HĐND nói trên trong trường hợp các HĐND đó làm thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân một cách nghiêm trọng; Trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định việc bổ nhiệm hoặc bãi miễn Phó thủ tướng và những thành viên khác của Hội đồng Chính phủ; Bổ nhiệm hoặc miễn Phó viện trưởng, kiểm sát viên VKSNDTC; Quyết định việc bổ nhiệm hoặc bãi miễn các đại diện toàn quyền ngoại giao của Nước Việt Nam DCCH ở nước ngoài; Quyết định việc phê chuẩn hoặc bãi bỏ những hiệp ước ký với nước ngoài, trừ trường hợp mà UBTVQH xét cần phải trình Quốc hội quyết định; Quy định hàm và cấp quân sự, ngoại giao và những hàm và cấp khác; Quyết định đặc xá; Quy định và quyết định việc tặng thưởng Huân chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước; Quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh trong trường hợp nước nhà bị xâm lược (khi Quốc hội không họp); Quyết định việc tổng động viên hoặc động viên cục bộ; Quyết định việc giới nghiêm trong toàn quốc hoặc từng địa phương. Ngoài ra, Quốc hội có thể trao cho UBTVQH những nhiệm vụ, quyền hạn khác khi xét thấy cần thiết.

Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của UBTVQH (Ban Thường trực Quốc hội trước đây) đã ngày càng được đổi mới, bổ sung hoàn chỉnh trong các quy định ở các bản Hiến pháp 1980, 1992 và các Luật về tổ chức Quốc hội, trên cơ sở kinh nghiệm hoạt động thực tiễn và kế thừa có chọn lọc những quy định còn phù hợp, đồng thời bổ sung những quy định mới để đáp ứng ngày càng cao yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, trong đó có UBTVQH. Qua gần 11 khóa Quốc hội, cùng với sự trưởng thành, phát triển lớn mạnh không ngừng của đất nước, Quốc hội nói chung và UBTVQH (Ban Thường trực Quốc hội trước đây) đã trải qua các thời kỳ cách mạng rất hào hùng, vẻ vang của đất nước, hoàn thành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà nhân dân giao phó, đóng góp rất quan trọng vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. 

Báo Người đại biểu nhân dân số 224, ngày 18-11-2005

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện