|
Cách mạng tháng
Tám - 60 năm nhìn lại
Sáu mươi năm, vừa tròn một hoa hội, một vòng đời
theo quan niệm của người xưa và vừa đủ thời gian
để một sự kiện vĩnh viễn "đi vào lịch sử". Rồi một
ngày kia sẽ không còn ai là nhân chứng của sự
kiện, tất cả chỉ còn lại trên những trang giấy,
tấm ảnh, thước phim... hay trong ký ức nối dài qua
những thế hệ... Thời gian vừa là chất men cho sự
quên lãng nhưng cũng lại là thứ thuốc hiện hình để
làm sáng rõ dần những sự thật được thăng hoa thành
những biểu tượng, những bài học sâu sắc có giá trị
lâu dài trong lịch sử.
Cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 cách đây vừa tròn 60
năm. Nhưng ngay trong dịp kỷ niệm một năm sự kiện
này, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng
khi đó, đồng thời cũng là một trong những "yếu
nhân" của cuộc cách mạng đã kêu gọi hãy tổng kết
từ thực tiễn sống động mà cả một dân tộc vừa trải
qua thành những bài học kinh nghiệm thiết thực
phục vụ cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc
muôn vàn khó khăn mà cả dân tộc đang và sẽ phải
đương đầu. Đó cũng chính là sự nghiệp bảo vệ những
thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945.
Kể từ đó, mỗi năm, đến ngày kỷ niệm cuộc Cách mạng
mùa Thu, những câu chuyện lịch sử lại được đem ra
kể lại, những bài học lịch sử lại được đem ra học
lại... Nhưng dường như mỗi lần lại thấy ánh lên
những điều mới mẻ và gần gũi với cuộc sống và vận
mệnh đất nước đang diễn ra... Mùa Thu này, chúng
ta cùng nhau nhắc lại sự kiện Cách mạng Tháng Tám
với những cảm nhận ngày càng rõ về tính thời sự
của những bài học rút ra từ sự kiện của 60 năm
trước.
1 - Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc là một
động lực lớn của đất nước
Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc viết rằng, ở các nước
thuộc địa phương Đông "chủ nghĩa dân tộc là một
động lực lớn của đất nước". Chủ nghĩa dân tộc mà
Nguyễn Ái Quốc nói ở đây chính là chủ nghĩa yêu
nước và tinh thần dân tộc chân chính của nhân dân
Việt Nam, nó khác hoàn toàn với chủ nghĩa dân tộc
cực đoan, sô vanh, vị kỷ của giai cấp tư sản. Đó
là một chân lý mà nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã
phát hiện ở độ tuổi trưởng thành sau hơn mười năm
bôn ba tìm đường cứu nước, đã nhận ra con đường
phải đi sau khi đọc bản Sơ thảo Luận cương về
vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê-nin để trở
thành người cộng sản có 3 tuổi đảng, khi vừa mới
đặt chân đến Liên Xô, xứ sở của cuộc Cách mạng
Tháng Mười.
Năm 1924, trong luận văn "Báo cáo về Bắc kỳ,
Trung kỳ và Nam kỳ" khi nhận thức được rằng
"cuộc đấu tranh giai cấp (ở Việt Nam) không diễn
ra giống như ở phương Tây", nhiệm vụ của những
người cách mạng là "xem xét lại chủ nghĩa Mác
về cơ sở lịch sử của nó, và củng cố nó bằng dân
tộc học phương Đông", bởi lẽ "không thể cấm bổ
sung "cơ sở lịch sử" của chủ nghĩa Mác bằng cách
đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình
không thể có được" vì "Mác đã xây dựng học thuyết
của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử,
nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là
gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại"
(1).
Xuất phát từ quan điểm mác-xít triệt để như vậy,
mà Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra những nhận định quan
trọng: "Để có thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ
trang ở Đông Dương:
1 - Phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần
chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi
nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra
trong thành phố, theo kiểu các cuộc cách mạng châu
Âu, chứ không phải nổ ra đột ngột ở biên giới
Trung Quốc, theo phương pháp của các nhà cách mạng
trước đây".
(2)
Hai mươi mốt năm sau, cuộc Cách mạng Tháng Tám
1945 diễn ra thắng lợi đúng như những điều Nguyễn
Ái Quốc đã viết và đã làm với tư cách là người
lãnh đạo tối cao, người thiết kế và tổ chức công
cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
Chính "chủ nghĩa dân tộc", một khái niệm mà vào
thời điểm được Nguyễn Ái Quốc viết ra còn xa lạ
với những lý luận kinh điển của "cách mạng vô
sản", đã được thể nghiệm thành công ở Việt Nam
đúng như "một động lực lớn" trong cuộc vận động
cách mạng giải phóng dân tộc do một đảng cộng sản
lãnh đạo. Chính "chủ nghĩa dân tộc" mà cốt lõi là
chủ nghĩa yêu nước đã đánh thức và tập hợp cả một
dân tộc đứng dậy giành độc lập bằng một cuộc
"khởi nghĩa quần chúng", "được chuẩn bị trong quần
chúng nổ ra trong thành phố". Thắng lợi của
Cách mạng Tháng Tám 1945 tuy là kết quả của một
quá trình vận động lâu dài nhưng nó đã đạt tới
đỉnh cao cả về lý luận và thực tiễn kể từ khi
Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp chỉ đạo các
sự kiện thành lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng căn
cứ địa ở vùng rừng núi Việt Bắc và nhiều chiến khu
hình thành trên nhiều địa bàn của đất nước...
Những cuộc khởi nghĩa vũ trang đã nổ ra ở Bắc Sơn,
Ba Tơ..., nhưng thực tiễn cho thấy chính những
cuộc khởi nghĩa dựa vào sức mạnh chính trị của
quần chúng ở những thành thị, những trung tâm kinh
tế, đầu não chính trị như Hà Nội
(19-8-1945), Huế (23-8-1945) và Sài Gòn
(25-8-1945) đã quyết định thắng lợi trọn vẹn của
một cuộc Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước. Nó
hoàn toàn không phải là cuộc "nổi loạn" mà được
thực hiện một cách có tổ chức trên cơ sở đường lối
chính trị đúng đắn thể hiện một cách đầy đủ nhất
trong Cương lĩnh của Mặt trận Việt Minh. Đó
là một Cương lĩnh thấm nhuần nguyên lý "chủ nghĩa
dân tộc là động lực lớn nhất" để tập hợp được mọi
lực lượng của dân tộc. Chỉ thị Nhật - Pháp bắn
nhau và hành động của chúng ta đã trang bị cho
những người cách mạng những nguyên lý cơ bản của
nghệ thuật hành động, bản lĩnh cách mạng nhằm phát
huy tính chủ động, sáng tạo của quần chúng cách
mạng đang khao khát giành lại độc lập tự do, vào
một thời điểm vô cùng nhạy cảm và đòi hỏi tính
năng động. Vì chỉ cần sự lưỡng lự hay dao động
cũng có thể làm cho những "cơ hội ngàn vàng" tuột
khỏi tay.
Thực tiễn cho thấy, cả Hà Nội và Sài Gòn, hai địa
bàn quan trọng nhất của đất nước, lực lượng cách
mạng lãnh đạo quần chúng nổi dậy giành chính quyền
khi chưa nhận được mệnh lệnh từ Trung ương. Mà
mệnh lệnh đã được hình thành kịp thời từ ý chí và
bản lĩnh thống nhất được tôi luyện từ trong một
quá trình lâu dài, trong một quyết định phù hợp
với lòng người. Do vậy, Cách mạng Tháng Tám đã
diễn ra đúng như một cuộc "đồng khởi" thành công
nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Và cuộc Cách
mạng đã diễn ra vào thời điểm không thể sớm hơn và
cũng không thể muộn hơn như lời kêu gọi của Chủ
tịch Hồ Chí Minh: "Giờ quyết định cho vận mệnh
dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy
đem sức ta mà tự giải phóng cho ta... Chúng ta
không thể chậm trễ. Tiến lên ! Tiến lên ! Dũng cảm
tiến lên !" (3)
Đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết là bài học
thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945. Bài học
ấy bắt nguồn từ nguyên lý của Nguyễn Ái Quốc - Hồ
Chí Minh coi "Chủ nghĩa dân tộc là một động lực
lớn của đất nước". Nó vẫn còn có ý nghĩa lâu dài
đối với công cuộc đổi mới và hội nhập của dân tộc
Việt Nam hôm nay và mai sau.
2 - Bản chất của cách mạng là dân chủ
Bản chất ấy không chỉ thể hiện trong tần số xuất
hiện chữ "dân chủ" trong các văn kiện của Đảng và
đặc biệt là của Mặt trận Việt Minh cũng như của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà rõ ràng nhất là trong
thực tiễn vận động của cách mạng.
Một cương lĩnh đúng đắn của Việt Minh gắn mục tiêu
độc lập dân tộc với tự do và những quyền lợi thiết
thực của mọi tầng lớp nhân dân đã tạo nên một năng
lực tập hợp rộng khắp mọi lực lượng xã hội vào tổ
chức cách mạng của mình. Các đoàn thể Cứu quốc
trong Mặt trận Việt Minh theo sát mọi giới; nhiều
hình thức đoàn thể xã hội như Tổng hội Sinh viên,
Truyền bá Quốc ngữ, Hướng đạo sinh; cho đến các
hình thức xây dựng lực lượng cách mạng từ Việt Nam
Tuyên truyền Giải phóng quân ở chiến khu Việt Bắc
cho đến Thanh niên Tiền tuyến vốn do Chính phủ bù
nhìn Trần Trọng Kim thành lập ở miền Trung hay tổ
chức Thanh niên Tiền phong, một sáng tạo của Đảng
bộ Nam Kỳ... đến thời điểm hành động đều trở thành
lực lượng của cách mạng. Nó nhân lên gấp bội sức
mạnh của một đảng chính trị mà vào thời điểm đó
mới chỉ có ngót 5 ngàn đảng viên. Nó tạo ra sức
hút lôi cuốn những ai còn lừng chừng vào dòng thác
của cuộc nổi dậy toàn dân. Nó tạo ra áp lực mạnh
mẽ như một khối ý chí của cả dân tộc hỗ trợ cho
công cuộc ngoại giao để giành độc lập và chủ quyền
thống nhất quốc gia.
Bản chất dân chủ thể hiện ngày càng rõ hơn trong
quá trình củng cố thành quả cách mạng của cuộc
Tổng khởi nghĩa giành chính quyền được nối tiếp
bằng sự ra đời một thể chế chính trị theo kịp với
thời đại: chế độ dân chủ - cộng hòa.
Nguyên lý xây dựng "nhà nước của dân, do dân và vì
dân" được thể hiện rõ nét ngay từ những bước đi
đầu tiên. Ủy ban dân tộc giải phóng do Quốc dân
đại hội bầu ở Tân Trào trước khi giành được chính
quyền là thiết chế quá độ cho sự ra đời một nhà
nước dân chủ. Chính phủ lâm thời được thành lập
tại Thủ đô ngay sau khi giành được chính quyền
trên cả nước với sự tham gia của nhiều thành phần
khác nhau trong và ngoài Mặt trận Việt Minh là bộ
máy hành pháp trung ương đầu tiên ra đời cùng với
sự cáo chung của chế độ quân chủ. Trong khi chưa
có một chính phủ do Quốc hội bổ nhiệm, Chính phủ
Liên hiệp lâm thời tiếp tục được hoàn thiện bằng
cách mở rộng với sự gương mẫu của nhiều thành viên
của Việt Minh sẵn lòng nhường chức cho những thành
phần khác để thể hiện tinh thần đại đoàn kết dân
tộc. Và tiếp đó Quốc hội được bầu bởi cuộc Tổng
tuyển cử phổ thông đầu phiếu mà vào thời điểm đó
vẫn còn hiếm hoi trên thế giới, thể hiện ý chí xây
dựng một thể chế chính trị hiện đại mang tính đại
diện cao cho lợi ích của dân tộc và toàn xã hội.
Bản Hiến pháp đầu tiên đã được Quốc hội thông qua
và cho đến nay vẫn được đánh giá là mẫu mực của
việc soạn thảo văn bản pháp luật... Cần nói rằng
khối lượng công việc to lớn đó đã được thực hiện
trong một thời gian rất ngắn giữa biết bao nhiêu
khó khăn của đất nước còn đầy rẫy những tàn tích
của chế độ thuộc địa và phong kiến... Chỉ có một
sự nghiệp hợp lòng dân mới phát huy được sức mạnh
của dân làm nên những điều thần kỳ như vậy.
Ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã cảnh
báo về sự biến chất và thoái hóa nếu không đấu
tranh với chủ nghĩa quan liêu trong bộ máy chính
quyền cho dù nó được ra đời như một thành quả của
cách mạng. Vì vậy, ngay sau sắc lệnh thành lập bộ
máy hành chính các cấp, người đứng đầu Nhà nước
cũng ký tiếp sắc lệnh thành lập Ủy ban Thanh
tra đặc biệt và Tòa án đặc biệt để giám
sát và trừng trị sự lộng quyền và giữ sự trong
sạch của bộ máy quan chức nhà nước. Tất cả cho
thấy, nước Việt Nam vừa thoát thai từ ngàn năm
phong kiến, mới thoát khỏi ách thực dân và
phát-xít, đã thể hiện sự sẵn sàng và năng lực gia
nhập thế giới hiện đại với tư cách một quốc gia
dân chủ.
Chiến tranh và những quy luật khắc nghiệt của cuộc
chiến tranh bùng nổ chỉ 3 tuần sau Ngày độc lập ở
Nam Bộ (23-9-1945) và hơn một năm sau trên cả nước
(19-12-1946) đã tạo ra không ít khó khăn đối với
quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam. Nhưng chính công
cuộc đổi mới diễn ra hai thập kỷ nay là sự thúc
đẩy cho quá trình dân chủ hóa được khởi động từ
cách đây 60 năm. Chính vì thế khi ôn lại bài học
lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, thời
điểm mà tư tưởng Hồ Chí Minh về việc xây dựng thể
chế dân chủ được thể hiện rõ nét nhất, chúng ta
càng thấy những bài học đó trở nên sống động gần
gũi với công cuộc đổi mới hiện nay, đặc biệt trên
lĩnh vực xây dựng nhà nước và pháp luật.
3 - Hội nhập tạo nên sức mạnh của dân tộc
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 diễn ra
nhanh chóng và triệt để. Nhiều nhà nghiên cứu khi
viết về sự kiện lịch sử này đã nêu lên những nét
đặc sắc có thể nói là "vô tiền khoáng hậu". Chỉ
trong vòng không đầy hai tuần lễ kể từ khi Ủy ban
Khởi nghĩa ban hành Quân lệnh số 1 (13-8-1945) cho
đến khi Sài Gòn giành được chính quyền
(25-8-1945), cách mạng đã thành công trên cả dải
đất của Tổ quốc trong bối cảnh nạn đói rồi nạn lụt
hoành hành, các phương tiện giao thông và liên lạc
vô cùng khó khăn. Cuộc cách mạng không những đã
lôi kéo được đội ngũ những tầng lớp cơ bản như
công nông mà nhanh chóng tranh thủ được sự hưởng
ứng tham gia của các tầng lớp trung gian như trí
thức, tiểu tư sản kể cả các giai tầng hữu sản và
một bộ phận quan lại cấp trên mà tiêu biểu nhất là
chính vị hoàng đế cuối cùng của chế độ phong kiến
Việt Nam... Lật đổ cùng một lúc cả chế độ thuộc
địa từng tồn tại gần thế kỷ, lại chấm dứt vĩnh
viễn chế độ phong kiến từng tồn tại ngàn đời, xây
dựng một nhà nước đại diện cho lợi ích của dân tộc
bằng cuộc cách mạng gần như rất ít đổ máu... là
những biểu hiện đặc sắc của nghệ thuật chỉ đạo
cách mạng tài tình. Từ mặt bằng dân trí của đất
nước nông nghiệp lạc hậu, đầy rẫy tàn tích của chế
độ phong kiến và thuộc địa, đang bị hoành hành bởi
giặc đói, giặc dốt mà thực hiện tất cả những quy
trình xây dựng thiết chế chính trị như một quốc
gia hiện đại cho thấy ý chí và năng lực của cuộc
cách mạng triệt để theo tinh thần dân chủ.
Trong quá trình vận động cách mạng, nhận thức được
quy luật tất yếu của chiến tranh đế quốc sẽ tạo ra
những cơ hội không chỉ cho mục tiêu giành độc lập
dân tộc mà còn tạo ra tiền đề cho sự phát triển
của các quốc gia, Đảng Cộng sản Đông Dương mà thể
hiện tập trung nhất ở người đứng đầu đã thực hiện
một cuộc chạy đua với thời gian và qua mọi thác
ghềnh của thời cuộc để nắm bắt cơ hội "ngàn năm có
một". Sự lựa chọn mục tiêu kiên định kết hợp với
nguyên lý "dĩ bất biến ứng vạn biến" của
nhà cách mạng lão luyện Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí
Minh đã đóng vai trò quyết định cho thắng lợi của
cách mạng trong giai đoạn lịch sử đầy thử thách
này.
Việc tăng cường và mở rộng lực lượng cách mạng
trong nước lấy hạt nhân là Mặt trận Việt Minh là
sự thể hiện nguyên lý bất biến của tinh thần
"đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Coi nội
lực là nhân tố tiên quyết, Chủ tịch Hồ Chí Minh
với tầm nhìn rộng lớn và kinh nghiệm từng trải của
mình cũng luôn coi việc khai thác các nguồn lực từ
những nhân tố tích cực của thời đại là sức mạnh và
cơ hội bảo đảm cho sự thành công vào những thời
điểm quyết định nhất của lịch sử. Nhà cách mạng Hồ
Chí Minh đã lặn lội sang Trung Hoa gây dựng mối
quan hệ với tất cả các thế lực chính trị ở đây để
vừa tranh thủ sự ủng hộ, vừa ngăn chặn những âm
mưu; rồi cũng tại Trung Hoa, lãnh tụ của cách mạng
Việt Nam sẵn sàng gây dựng quan hệ đồng minh với
Hoa Kỳ thông qua tổ chức Tình báo chiến lược của
Mỹ (OSS) đang hoạt động trong khu vực, không chỉ
để tranh thủ những nguồn lực để gây dựng lực lượng
mà quan trọng hơn hết là xác lập chỗ đứng của cách
mạng Việt Nam, sự nghiệp giải phóng dân tộc giành
độc lập của nhân dân Việt Nam sau cuộc chiến tranh
chống chủ nghĩa phát-xít thắng lợi. Đó cũng là cơ
sở pháp lý cho chủ quyền độc lập của Việt Nam một
khi chiến tranh đã kết thúc.
Trong cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, lực lượng
nước ngoài duy nhất đứng bên cạnh Hồ Chí Minh và
hợp tác với những chiến sỹ Việt Minh lại chính là
Hoa Kỳ. Mối quan hệ giữa Việt Minh và tổ chức OSS
của Hoa Kỳ thiết lập từ Côn Minh, sự có mặt của
đơn vị "Con nai" nhảy dù xuống Tân Trào, việc
thành lập đại đội Việt - Mỹ, tham gia bao vây quân
Nhật ở Thái Nguyên v.v.. là những bằng chứng lịch
sử. Trong mối quan hệ ấy, những người cách mạng
Việt Nam luôn giữ một nguyên tắc nhất quán: "Ta
yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay kẻ khác,
dầu kẻ ấy là bạn đồng minh của ta vậy... trong
cuộc chiến đấu giải phóng cho ta cố nhiên ta phải
kiếm bạn đồng minh, dầu rằng tạm thời, bấp bênh,
có điều kiện, nhưng công việc của ta trước hết ta
phải làm lấy" (4).
Nhưng mối quan hệ đồng minh được xác lập vào thời
điểm đó rất quan trọng vì nó chính là cơ sở để
trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ
Chí Minh khẳng định vị thế của nước Việt Nam độc
lập trên trường quốc tế: "Sự thật là dân ta lấy
lại được nước Việt Nam từ trong tay Nhật chứ không
phải từ tay Pháp... Một dân tộc đã gan góc đứng về
phe Đồng Minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc
đó phải được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập.
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và
sự thật đã thành một nước tự do và độc lập."
(5).
Với vị thế đó, bắt tay vào công cuộc xây dựng nhà
nước độc lập và tự chủ của mình, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nêu rõ đường lối đối ngoại của nhà nước
Việt Nam: "Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ
và không gây thù oán với một ai". Năm 1946,
Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa còn gửi
tới Liên hợp quốc một thông điệp minh bạch: "Đối
với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực
thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh
vực:
a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho
đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài
trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.
b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân
bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và
quá cảnh quốc tế.
c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức
hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên
hợp quốc" (6)
Tinh thần mở rộng hợp tác quốc tế còn nhiều lần
được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại trong những
tiếp xúc song phương với các quốc gia khác như Hoa
Kỳ, Pháp, Trung Hoa... như một nguyên tắc nhất
quán mà đến nay vẫn còn nguyên vẹn những giá trị
soi sáng công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển
của đất nước.
Đọc lại văn kiện, nghe lại những lời kể hay ôn lại
những bài học của cuộc Cách mạng Tháng Tám cách
đây 60 năm mà vẫn cảm thấy được hơi thở và cả sức
nóng của ý chí và trí tuệ của cả một dân tộc đã
đứng lên làm chủ vận mệnh của mình. Ý chí và trí
tuệ ấy cũng rất gần gũi và cần thiết đối với công
cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển của đất nước
hôm nay. Nó giúp ta cảm nhận được tính kế thừa của
một dân tộc đã gan góc từng làm nên chiến công bất
hủ 60 năm trước sẽ có đủ niềm tin và sức mạnh để
mang tinh thần Cách mạng Tháng Tám bước tiếp vào
tương lai của sự nghiệp làm cho dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, sánh
vai với mọi quốc gia tiên tiến trên thế giới.
* Tổng thư ký Hội Sử học Việt Nam
(1) (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2000, t 1, tr 464 - 465, 468 -
469
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 3, tr 554
(4) Văn kiện Đảng 1930 - 1945, Ban nghiên cứu
Lịch sử Đảng, Hà Nội, 1997, tr 292
(5) Sđd, tr 424 - 427
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1995, t 4, tr 470
Nguồn: Tạp chí Cộng sản số 16 (tháng 8-2005) |