Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

Cách mạng tháng Tám - 60 năm nhìn lại

 

Dương Trung Quốc *

Sáu mươi năm, vừa tròn một hoa hội, một vòng đời theo quan niệm của người xưa và vừa đủ thời gian để một sự kiện vĩnh viễn "đi vào lịch sử". Rồi một ngày kia sẽ không còn ai là nhân chứng của sự kiện, tất cả chỉ còn lại trên những trang giấy, tấm ảnh, thước phim... hay trong ký ức nối dài qua những thế hệ... Thời gian vừa là chất men cho sự quên lãng nhưng cũng lại là thứ thuốc hiện hình để làm sáng rõ dần những sự thật được thăng hoa thành những biểu tượng, những bài học sâu sắc có giá trị lâu dài trong lịch sử.

Cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 cách đây vừa tròn 60 năm. Nhưng ngay trong dịp kỷ niệm một năm sự kiện này, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng khi đó, đồng thời cũng là một trong những "yếu nhân" của cuộc cách mạng đã kêu gọi hãy tổng kết từ thực tiễn sống động mà cả một dân tộc vừa trải qua thành những bài học kinh nghiệm thiết thực phục vụ cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc muôn vàn khó khăn mà cả dân tộc đang và sẽ phải đương đầu. Đó cũng chính là sự nghiệp bảo vệ những thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945.

Kể từ đó, mỗi năm, đến ngày kỷ niệm cuộc Cách mạng mùa Thu, những câu chuyện lịch sử lại được đem ra kể lại, những bài học lịch sử lại được đem ra học lại... Nhưng dường như mỗi lần lại thấy ánh lên những điều mới mẻ và gần gũi với cuộc sống và vận mệnh đất nước đang diễn ra... Mùa Thu này, chúng ta cùng nhau nhắc lại sự kiện Cách mạng Tháng Tám với những cảm nhận ngày càng rõ về tính thời sự của những bài học rút ra từ sự kiện của 60 năm trước.

1 - Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc là một động lực lớn của đất nước

Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc viết rằng, ở các nước thuộc địa phương Đông "chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước". Chủ nghĩa dân tộc mà Nguyễn Ái Quốc nói ở đây chính là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính của nhân dân Việt Nam, nó khác hoàn toàn với chủ nghĩa dân tộc cực đoan, sô vanh, vị kỷ của giai cấp tư sản. Đó là một chân lý mà nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện ở độ tuổi trưởng thành sau hơn mười năm bôn ba tìm đường cứu nước, đã nhận ra con đường phải đi sau khi đọc bản Sơ thảo Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê-nin để trở thành người cộng sản có 3 tuổi đảng, khi vừa mới đặt chân đến Liên Xô, xứ sở của cuộc Cách mạng Tháng Mười.

Năm 1924, trong luận văn "Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ" khi nhận thức được rằng "cuộc đấu tranh giai cấp (ở Việt Nam) không diễn ra giống như ở phương Tây", nhiệm vụ của những người cách mạng là "xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, và củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông", bởi lẽ "không thể cấm bổ sung "cơ sở lịch sử" của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được" vì "Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại" (1).

Xuất phát từ quan điểm mác-xít triệt để như vậy, mà Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra những nhận định quan trọng: "Để có thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương:

1 - Phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra trong thành phố, theo kiểu các cuộc cách mạng châu Âu, chứ không phải nổ ra đột ngột ở biên giới Trung Quốc, theo phương pháp của các nhà cách mạng trước đây". (2)

Hai mươi mốt năm sau, cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 diễn ra thắng lợi đúng như những điều Nguyễn Ái Quốc đã viết và đã làm với tư cách là người lãnh đạo tối cao, người thiết kế và tổ chức công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.

Chính "chủ nghĩa dân tộc", một khái niệm mà vào thời điểm được Nguyễn Ái Quốc viết ra còn xa lạ với những lý luận kinh điển của "cách mạng vô sản", đã được thể nghiệm thành công ở Việt Nam đúng như "một động lực lớn" trong cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc do một đảng cộng sản lãnh đạo. Chính "chủ nghĩa dân tộc" mà cốt lõi là chủ nghĩa yêu nước đã đánh thức và tập hợp cả một dân tộc đứng dậy giành độc lập bằng một cuộc "khởi nghĩa quần chúng", "được chuẩn bị trong quần chúng nổ ra trong thành phố". Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 tuy là kết quả của một quá trình vận động lâu dài nhưng nó đã đạt tới đỉnh cao cả về lý luận và thực tiễn kể từ khi Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp chỉ đạo các sự kiện thành lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng căn cứ địa ở vùng rừng núi Việt Bắc và nhiều chiến khu hình thành trên nhiều địa bàn của đất nước... Những cuộc khởi nghĩa vũ trang đã nổ ra ở Bắc Sơn, Ba Tơ..., nhưng thực tiễn cho thấy chính những cuộc khởi nghĩa dựa vào sức mạnh chính trị của quần chúng ở những thành thị, những trung tâm kinh tế, đầu não chính trị như Hà Nội (19-8-1945), Huế (23-8-1945) và Sài Gòn (25-8-1945) đã quyết định thắng lợi trọn vẹn của một cuộc Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước. Nó hoàn toàn không phải là cuộc "nổi loạn" mà được thực hiện một cách có tổ chức trên cơ sở đường lối chính trị đúng đắn thể hiện một cách đầy đủ nhất trong Cương lĩnh của Mặt trận Việt Minh. Đó là một Cương lĩnh thấm nhuần nguyên lý "chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất" để tập hợp được mọi lực lượng của dân tộc. Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta đã trang bị cho những người cách mạng những nguyên lý cơ bản của nghệ thuật hành động, bản lĩnh cách mạng nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của quần chúng cách mạng đang khao khát giành lại độc lập tự do, vào một thời điểm vô cùng nhạy cảm và đòi hỏi tính năng động. Vì chỉ cần sự lưỡng lự hay dao động cũng có thể làm cho những "cơ hội ngàn vàng" tuột khỏi tay.

Thực tiễn cho thấy, cả Hà Nội và Sài Gòn, hai địa bàn quan trọng nhất của đất nước, lực lượng cách mạng lãnh đạo quần chúng nổi dậy giành chính quyền khi chưa nhận được mệnh lệnh từ Trung ương. Mà mệnh lệnh đã được hình thành kịp thời từ ý chí và bản lĩnh thống nhất được tôi luyện từ trong một quá trình lâu dài, trong một quyết định phù hợp với lòng người. Do vậy, Cách mạng Tháng Tám đã diễn ra đúng như một cuộc "đồng khởi" thành công nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Và cuộc Cách mạng đã diễn ra vào thời điểm không thể sớm hơn và cũng không thể muộn hơn như lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta... Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên ! Tiến lên ! Dũng cảm tiến lên !" (3)

Đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết là bài học thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945. Bài học ấy bắt nguồn từ nguyên lý của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh coi "Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước". Nó vẫn còn có ý nghĩa lâu dài đối với công cuộc đổi mới và hội nhập của dân tộc Việt Nam hôm nay và mai sau.

2 - Bản chất của cách mạng là dân chủ

Bản chất ấy không chỉ thể hiện trong tần số xuất hiện chữ "dân chủ" trong các văn kiện của Đảng và đặc biệt là của Mặt trận Việt Minh cũng như của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà rõ ràng nhất là trong thực tiễn vận động của cách mạng.

Một cương lĩnh đúng đắn của Việt Minh gắn mục tiêu độc lập dân tộc với tự do và những quyền lợi thiết thực của mọi tầng lớp nhân dân đã tạo nên một năng lực tập hợp rộng khắp mọi lực lượng xã hội vào tổ chức cách mạng của mình. Các đoàn thể Cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh theo sát mọi giới; nhiều hình thức đoàn thể xã hội như Tổng hội Sinh viên, Truyền bá Quốc ngữ, Hướng đạo sinh; cho đến các hình thức xây dựng lực lượng cách mạng từ Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ở chiến khu Việt Bắc cho đến Thanh niên Tiền tuyến vốn do Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim thành lập ở miền Trung hay tổ chức Thanh niên Tiền phong, một sáng tạo của Đảng bộ Nam Kỳ... đến thời điểm hành động đều trở thành lực lượng của cách mạng. Nó nhân lên gấp bội sức mạnh của một đảng chính trị mà vào thời điểm đó mới chỉ có ngót 5 ngàn đảng viên. Nó tạo ra sức hút lôi cuốn những ai còn lừng chừng vào dòng thác của cuộc nổi dậy toàn dân. Nó tạo ra áp lực mạnh mẽ như một khối ý chí của cả dân tộc hỗ trợ cho công cuộc ngoại giao để giành độc lập và chủ quyền thống nhất quốc gia.

Bản chất dân chủ thể hiện ngày càng rõ hơn trong quá trình củng cố thành quả cách mạng của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền được nối tiếp bằng sự ra đời một thể chế chính trị theo kịp với thời đại: chế độ dân chủ - cộng hòa.

Nguyên lý xây dựng "nhà nước của dân, do dân và vì dân" được thể hiện rõ nét ngay từ những bước đi đầu tiên. Ủy ban dân tộc giải phóng do Quốc dân đại hội bầu ở Tân Trào trước khi giành được chính quyền là thiết chế quá độ cho sự ra đời một nhà nước dân chủ. Chính phủ lâm thời được thành lập tại Thủ đô ngay sau khi giành được chính quyền trên cả nước với sự tham gia của nhiều thành phần khác nhau trong và ngoài Mặt trận Việt Minh là bộ máy hành pháp trung ương đầu tiên ra đời cùng với sự cáo chung của chế độ quân chủ. Trong khi chưa có một chính phủ do Quốc hội bổ nhiệm, Chính phủ Liên hiệp lâm thời tiếp tục được hoàn thiện bằng cách mở rộng với sự gương mẫu của nhiều thành viên của Việt Minh sẵn lòng nhường chức cho những thành phần khác để thể hiện tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Và tiếp đó Quốc hội được bầu bởi cuộc Tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu mà vào thời điểm đó vẫn còn hiếm hoi trên thế giới, thể hiện ý chí xây dựng một thể chế chính trị hiện đại mang tính đại diện cao cho lợi ích của dân tộc và toàn xã hội. Bản Hiến pháp đầu tiên đã được Quốc hội thông qua và cho đến nay vẫn được đánh giá là mẫu mực của việc soạn thảo văn bản pháp luật... Cần nói rằng khối lượng công việc to lớn đó đã được thực hiện trong một thời gian rất ngắn giữa biết bao nhiêu khó khăn của đất nước còn đầy rẫy những tàn tích của chế độ thuộc địa và phong kiến... Chỉ có một sự nghiệp hợp lòng dân mới phát huy được sức mạnh của dân làm nên những điều thần kỳ như vậy.

Ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã cảnh báo về sự biến chất và thoái hóa nếu không đấu tranh với chủ nghĩa quan liêu trong bộ máy chính quyền cho dù nó được ra đời như một thành quả của cách mạng. Vì vậy, ngay sau sắc lệnh thành lập bộ máy hành chính các cấp, người đứng đầu Nhà nước cũng ký tiếp sắc lệnh thành lập Ủy ban Thanh tra đặc biệt Tòa án đặc biệt để giám sát và trừng trị sự lộng quyền và giữ sự trong sạch của bộ máy quan chức nhà nước. Tất cả cho thấy, nước Việt Nam vừa thoát thai từ ngàn năm phong kiến, mới thoát khỏi ách thực dân và phát-xít, đã thể hiện sự sẵn sàng và năng lực gia nhập thế giới hiện đại với tư cách một quốc gia dân chủ.

Chiến tranh và những quy luật khắc nghiệt của cuộc chiến tranh bùng nổ chỉ 3 tuần sau Ngày độc lập ở Nam Bộ (23-9-1945) và hơn một năm sau trên cả nước (19-12-1946) đã tạo ra không ít khó khăn đối với quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam. Nhưng chính công cuộc đổi mới diễn ra hai thập kỷ nay là sự thúc đẩy cho quá trình dân chủ hóa được khởi động từ cách đây 60 năm. Chính vì thế khi ôn lại bài học lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, thời điểm mà tư tưởng Hồ Chí Minh về việc xây dựng thể chế dân chủ được thể hiện rõ nét nhất, chúng ta càng thấy những bài học đó trở nên sống động gần gũi với công cuộc đổi mới hiện nay, đặc biệt trên lĩnh vực xây dựng nhà nước và pháp luật.

3 - Hội nhập tạo nên sức mạnh của dân tộc

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 diễn ra nhanh chóng và triệt để. Nhiều nhà nghiên cứu khi viết về sự kiện lịch sử này đã nêu lên những nét đặc sắc có thể nói là "vô tiền khoáng hậu". Chỉ trong vòng không đầy hai tuần lễ kể từ khi Ủy ban Khởi nghĩa ban hành Quân lệnh số 1 (13-8-1945) cho đến khi Sài Gòn giành được chính quyền (25-8-1945), cách mạng đã thành công trên cả dải đất của Tổ quốc trong bối cảnh nạn đói rồi nạn lụt hoành hành, các phương tiện giao thông và liên lạc vô cùng khó khăn. Cuộc cách mạng không những đã lôi kéo được đội ngũ những tầng lớp cơ bản như công nông mà nhanh chóng tranh thủ được sự hưởng ứng tham gia của các tầng lớp trung gian như trí thức, tiểu tư sản kể cả các giai tầng hữu sản và một bộ phận quan lại cấp trên mà tiêu biểu nhất là chính vị hoàng đế cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam... Lật đổ cùng một lúc cả chế độ thuộc địa từng tồn tại gần thế kỷ, lại chấm dứt vĩnh viễn chế độ phong kiến từng tồn tại ngàn đời, xây dựng một nhà nước đại diện cho lợi ích của dân tộc bằng cuộc cách mạng gần như rất ít đổ máu... là những biểu hiện đặc sắc của nghệ thuật chỉ đạo cách mạng tài tình. Từ mặt bằng dân trí của đất nước nông nghiệp lạc hậu, đầy rẫy tàn tích của chế độ phong kiến và thuộc địa, đang bị hoành hành bởi giặc đói, giặc dốt mà thực hiện tất cả những quy trình xây dựng thiết chế chính trị như một quốc gia hiện đại cho thấy ý chí và năng lực của cuộc cách mạng triệt để theo tinh thần dân chủ.

Trong quá trình vận động cách mạng, nhận thức được quy luật tất yếu của chiến tranh đế quốc sẽ tạo ra những cơ hội không chỉ cho mục tiêu giành độc lập dân tộc mà còn tạo ra tiền đề cho sự phát triển của các quốc gia, Đảng Cộng sản Đông Dương mà thể hiện tập trung nhất ở người đứng đầu đã thực hiện một cuộc chạy đua với thời gian và qua mọi thác ghềnh của thời cuộc để nắm bắt cơ hội "ngàn năm có một". Sự lựa chọn mục tiêu kiên định kết hợp với nguyên lý "dĩ bất biến ứng vạn biến" của nhà cách mạng lão luyện Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đóng vai trò quyết định cho thắng lợi của cách mạng trong giai đoạn lịch sử đầy thử thách này.

Việc tăng cường và mở rộng lực lượng cách mạng trong nước lấy hạt nhân là Mặt trận Việt Minh là sự thể hiện nguyên lý bất biến của tinh thần "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Coi nội lực là nhân tố tiên quyết, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tầm nhìn rộng lớn và kinh nghiệm từng trải của mình cũng luôn coi việc khai thác các nguồn lực từ những nhân tố tích cực của thời đại là sức mạnh và cơ hội bảo đảm cho sự thành công vào những thời điểm quyết định nhất của lịch sử. Nhà cách mạng Hồ Chí Minh đã lặn lội sang Trung Hoa gây dựng mối quan hệ với tất cả các thế lực chính trị ở đây để vừa tranh thủ sự ủng hộ, vừa ngăn chặn những âm mưu; rồi cũng tại Trung Hoa, lãnh tụ của cách mạng Việt Nam sẵn sàng gây dựng quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ thông qua tổ chức Tình báo chiến lược của Mỹ (OSS) đang hoạt động trong khu vực, không chỉ để tranh thủ những nguồn lực để gây dựng lực lượng mà quan trọng hơn hết là xác lập chỗ đứng của cách mạng Việt Nam, sự nghiệp giải phóng dân tộc giành độc lập của nhân dân Việt Nam sau cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát-xít thắng lợi. Đó cũng là cơ sở pháp lý cho chủ quyền độc lập của Việt Nam một khi chiến tranh đã kết thúc.

Trong cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, lực lượng nước ngoài duy nhất đứng bên cạnh Hồ Chí Minh và hợp tác với những chiến sỹ Việt Minh lại chính là Hoa Kỳ. Mối quan hệ giữa Việt Minh và tổ chức OSS của Hoa Kỳ thiết lập từ Côn Minh, sự có mặt của đơn vị "Con nai" nhảy dù xuống Tân Trào, việc thành lập đại đội Việt - Mỹ, tham gia bao vây quân Nhật ở Thái Nguyên v.v.. là những bằng chứng lịch sử. Trong mối quan hệ ấy, những người cách mạng Việt Nam luôn giữ một nguyên tắc nhất quán: "Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay kẻ khác, dầu kẻ ấy là bạn đồng minh của ta vậy... trong cuộc chiến đấu giải phóng cho ta cố nhiên ta phải kiếm bạn đồng minh, dầu rằng tạm thời, bấp bênh, có điều kiện, nhưng công việc của ta trước hết ta phải làm lấy" (4).

Nhưng mối quan hệ đồng minh được xác lập vào thời điểm đó rất quan trọng vì nó chính là cơ sở để trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vị thế của nước Việt Nam độc lập trên trường quốc tế: "Sự thật là dân ta lấy lại được nước Việt Nam từ trong tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp... Một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập. Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập." (5).

Với vị thế đó, bắt tay vào công cuộc xây dựng nhà nước độc lập và tự chủ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ đường lối đối ngoại của nhà nước Việt Nam: "Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai". Năm 1946, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa còn gửi tới Liên hợp quốc một thông điệp minh bạch: "Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:

a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.

b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.

c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc" (6)

Tinh thần mở rộng hợp tác quốc tế còn nhiều lần được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại trong những tiếp xúc song phương với các quốc gia khác như Hoa Kỳ, Pháp, Trung Hoa... như một nguyên tắc nhất quán mà đến nay vẫn còn nguyên vẹn những giá trị soi sáng công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển của đất nước.

Đọc lại văn kiện, nghe lại những lời kể hay ôn lại những bài học của cuộc Cách mạng Tháng Tám cách đây 60 năm mà vẫn cảm thấy được hơi thở và cả sức nóng của ý chí và trí tuệ của cả một dân tộc đã đứng lên làm chủ vận mệnh của mình. Ý chí và trí tuệ ấy cũng rất gần gũi và cần thiết đối với công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển của đất nước hôm nay. Nó giúp ta cảm nhận được tính kế thừa của một dân tộc đã gan góc từng làm nên chiến công bất hủ 60 năm trước sẽ có đủ niềm tin và sức mạnh để mang tinh thần Cách mạng Tháng Tám bước tiếp vào tương lai của sự nghiệp làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, sánh vai với mọi quốc gia tiên tiến trên thế giới.

 

* Tổng thư ký Hội Sử học Việt Nam


 
(1) (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t 1, tr 464 - 465, 468 - 469
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 3, tr 554
(4) Văn kiện Đảng 1930 - 1945, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng, Hà Nội, 1997, tr 292
(5) Sđd, tr 424 - 427
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 4, tr 470

 

Nguồn: Tạp chí Cộng sản số 16 (tháng 8-2005)

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện