|
1-
Chúng ta vui mừng kỷ niệm 60 năm ngày Tổng tuyển
cử đầu tiên bầu đại biểu Quốc hội khóa I
(6-1-1946). Nhìn lại lịch sử ra đời và phát
triển của Quốc hội nước ta, tuy không dài so với
nhiều nước trên thế giới, nhưng chúng ta có thể
tự hào rằng, vốn là một nước không có truyền
thống nghị viện, song từ sau ngày Tổng tuyển cử
bầu đại biểu Quốc hội khóa I đến nay, Quốc hội
nước ta đã trở thành một thiết chế dân chủ đại
diện cao nhất, ngày càng phát huy mạnh mẽ vai
trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ
quan đại biểu cao nhất của nhân dân, với chức
năng lập hiến, lập pháp; giám sát tối cao toàn
bộ hoạt động của Nhà nước và quyết định những
vấn đề trọng đại của đất nước.
Nhớ lại 60 năm về trước, trong thế nước "ngàn
cân treo sợi tóc", chúng ta càng thấy sâu sắc
vai trò của cơ quan đại diện dân cử cao nhất
trong đời sống nhà nước và xã hội. Có thể nói,
chính quyền nhà nước ở nước ta được xác lập ngay
từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc
lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa ngày 2-9-1945. Tuy vậy, Nhà nước đó, xét về
mặt pháp lý lẫn phương diện tổ chức bộ máy, vẫn
chưa phải là một nhà nước hoàn chỉnh. Trên thực
tế, Nhà nước ta lúc đó mới chỉ có một bộ máy
hành chính mang tính chất lâm thời. Để bảo đảm
tính pháp lý và uy tín của Nhà nước trước toàn
thể nhân dân và cộng đồng thế giới, mặc dầu tình
hình lúc đó cực kỳ khó khăn, phức tạp, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: "Phải bầu ngay Quốc
hội, càng sớm càng tốt. Bên trong thì nhân dân
tin tưởng vào chế độ mình. Trước thế giới, Quốc
hội do dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý
không ai có thể phủ nhận được". Thực hiện chủ
trương đó, sau một thời gian chuẩn bị khẩn
trương, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta
bầu Quốc hội khóa I đã thành công rực rỡ. Quốc
hội khóa I thay mặt nhân dân cả nước thông qua
Hiến pháp năm 1946 - cơ sở pháp lý cao nhất đầu
tiên - để củng cố chính quyền cách mạng non trẻ,
khẳng định tính pháp lý của một nhà nước trước
thế giới, đồng thời là một dấu mốc thể hiện sự
hoàn chỉnh về cơ bản bộ máy nhà nước ta, một thể
chế dân chủ đại diện được nhân dân trực tiếp bầu
ra.
Tiếp tục vai trò đó, ngay sau ngày miền Nam hoàn
toàn giải phóng (30-4-1975), trên cơ sở Nghị
quyết của Hội nghị hiệp thương thống nhất Tổ
quốc, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội thống nhất
đã diễn ra sôi nổi trong cả nước vào ngày
15-4-1976 và thành công rực rỡ. Quốc hội khóa VI
ra đời trở thành nền tảng chính trị - pháp lý
vững chắc cho sự hình thành và phát triển Nhà
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thống
nhất. Với quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
và chế độ bầu cử tự do, tiến bộ, Quốc hội đã
thực sự thể hiện chân thực hình ảnh "nhân dân cả
nước được thu nhỏ", hiện thân của sức mạnh vô
địch của khối đại đoàn kết dân tộc trong một nhà
nước thống nhất, cùng nhau phấn đấu khắc phục
hậu quả của chiến tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả
nước.
Sáu mươi năm qua, với 11 khóa, đại diện cho ý
chí và nguyện vọng của nhân dân cả nước, Quốc
hội nước ta đã xây dựng và thông qua 4 bản Hiến
pháp: Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên
của nhà nước kiểu mới; Hiến pháp năm 1959 - Hiến
pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu
tranh thống nhất nước nhà; Hiến pháp năm 1980 -
Hiến pháp của chế độ làm chủ tập thể, cả nước
thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội; Hiến
pháp năm 1992 - Hiến pháp của thời kỳ đổi mới,
đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Tất cả các bản Hiến
pháp đều là sản phẩm trí tuệ của toàn dân, thể
hiện ý chí và nguyện vọng của đồng bào cả nước,
quyết tâm tiến hành công cuộc xây dựng và bảo vệ
đất nước trong từng thời kỳ. Các Hiến pháp không
phủ định nhau mà kế thừa và phát triển Hiến pháp
trước, với nội dung thể hiện sâu sắc ý chí và
nguyện vọng của nhân dân, vừa thấm đượm những
giá trị vốn có của dân tộc ta, vừa tiếp thu có
chọn lọc những tinh hoa của nhân loại. Trên cơ
sở các Hiến pháp, Quốc hội các khóa đã lần lượt
được nhân dân bầu ra, với tổ chức và hoạt động
không ngừng được đổi mới, hiệu lực và hiệu quả
hoạt động ngày càng nâng cao, được nhân dân quan
tâm, đồng tình, ủng hộ.
Với chức năng hàng đầu là lập hiến và lập pháp,
Quốc hội các khóa đã không ngừng chăm lo công
tác xây dựng pháp luật. Mặc dầu đến nay, hệ
thống pháp luật nước ta chưa hoàn chỉnh và đồng
bộ, nhưng nhìn chung, trên nhiều lĩnh vực của
đời sống nhà nước và xã hội, từ chính trị, kinh
tế, xã hội, an ninh - quốc phòng, trật tự an
toàn xã hội, ngoại giao, đến các lĩnh vực giáo
dục, khoa học - công nghệ, giao lưu dân sự, hành
chính, tư pháp... đã có luật hoặc bộ luật điều
chỉnh. Nhiều bộ luật với trình độ pháp điển hóa
cao lần lượt được ban hành như: Bộ luật Dân sự,
Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật
Tố tụng hình sự...; nhiều đạo luật mới lần đầu
tiên ra đời ở nước ta như Luật Doanh nghiệp,
Luật Đầu tư, Luật Phá sản, Luật Cạnh tranh, Luật
Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Các tổ
chức tín dụng... Nhờ đó mà tạo lập được môi
trường pháp lý bình đẳng, thuận lợi cho mọi
thành phần kinh tế tồn tại và phát triển; các
chủ trương phát huy nội lực, tăng nhanh vốn đầu
tư trong nước và nhất là từ nước ngoài, tăng
trưởng kinh tế cao và bền vững, nâng cao đời
sống của nhân dân từng bước đi vào cuộc sống và
trở thành hiện thực.
Cùng với hoạt động lập pháp, Quốc hội các khóa
đã thực hiện ngày càng có hiệu lực và hiệu quả
chức năng quyết định các vấn đề trọng đại của
đất nước. Các nghị quyết của Quốc hội về nhiệm
vụ pháp triển kinh tế - xã hội 5 năm và hằng
năm; về chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia;
về dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân
sách nhà nước; về các công trình trọng điểm quốc
gia; về tổ chức nhân sự của bộ máy nhà nước; về
chính sách dân tộc; về an ninh - quốc phòng và
đối ngoại... đã góp phần ổn định và phát triển
đất nước. Các hoạt động giám sát tối cao của
Quốc hội về đầu tư, xây dựng cơ bản, các dự án
trọng điểm quốc gia, giáo dục - đào tạo, xuất
khẩu lao động, ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao... đã góp phần
thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế -
xã hội đã đề ra, đấu tranh phòng chống các biểu
hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ
máy nhà nước, tăng cường hiệu lực và hiệu quả
quản lý nhà nước, góp phần từng bước hoàn chỉnh
hệ thống pháp luật.
Tóm lại,
thực tiễn 60 năm qua chỉ ra rằng, tăng cường
vai trò của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao
nhất của cử tri và nhân dân cả nước trong việc
thực hiện các chức năng lập hiến, lập pháp;
quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước;
giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước
- nhân tố cực kỳ quan trọng trong việc tập hợp,
đoàn kết mọi lực lượng của toàn thể dân tộc,
phát huy sức mạnh của nhân dân; xây dựng và củng
cố nền tảng chính trị - pháp lý của đất nước;
phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đề cao pháp
chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Ngược lại, hạ thấp vai trò của Quốc hội chính là
hạ thấp vai trò của nhân dân trong tổ chức và
thực thi quyền lực nhà nước, làm cho bộ máy nhà
nước xa rời bản chất của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân; hạ thấp việc xây dựng và củng cố
nền tảng chính trị - pháp lý, làm suy yếu nền
tảng pháp chế của quốc gia, hạ thấp dân chủ xã
hội chủ nghĩa trong đời sống nhà nước và xã hội.
2-
Mặc dầu 60 năm qua, vai trò của Quốc hội ngày
càng được tăng cường, song trong điều kiện hiện
nay, tổ chức và hoạt động của Quốc hội đang đứng
trước những đòi hỏi khách quan, bức thiết sau
đây:
Một là, phải nhanh chóng tăng cường năng lực lập
pháp đáp ứng những đòi hỏi bức xúc về nâng cao
chất lượng và số lượng các dự án luật, bộ luật
- Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa đang khẩn thiết đòi hỏi phải
nhanh chóng đổi mới và hoàn thiện pháp luật,
tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và
thủ tục hành chính nhằm phát huy tối đa mọi
nguồn lực, tạo sức bật mới cho sản xuất, kinh
doanh thuộc mọi thành phần kinh tế với các hình
thức sở hữu khác nhau. Điều đó đang đặt Quốc hội
nói chung, đại biểu Quốc hội nói riêng trước đòi
hỏi gay gắt phải nâng cao năng lực lập pháp để
nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về
dân sự, kinh tế, tạo lập môi trường pháp lý
thuận lợi cho nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa phát triển.
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đang
đòi hỏi phải đổi mới và hoàn thiện pháp luật về
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đối với
công dân; thể chế hóa và ghi nhận sự phát triển
của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho
tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mức
độ hoàn thiện pháp luật phù hợp với ý chí và
nguyện vọng của nhân dân và tuân thủ pháp luật
trở thành tiêu chí để đánh giá tính pháp quyền
của một nhà nước. Điều đó đang đặt Quốc hội nói
chung, các đại biểu Quốc hội nói riêng trước đòi
hỏi phải đổi mới và hoàn thiện pháp luật về tổ
chức bộ máy nhà nước, về quyền con người, quyền
công dân và cơ chế để bảo vệ quyền con người,
quyền công dân.
- Xây dựng, phát triển các mối quan hệ quốc tế
theo đường lối mở cửa, chủ động hội nhập kinh tế
khu vực, quốc tế và từng bước mở rộng hợp tác
trên các lĩnh vực khác đang đặt ra đòi hỏi khách
quan phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật để tạo lập khung pháp lý cho sự hợp tác
phát triển. Đồng thời, hệ thống pháp luật còn là
phương tiện đầy hiệu lực để đấu tranh bảo vệ độc
lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong điều
kiện quốc tế đang tiếp tục có nhiều biến đổi
phức tạp, toàn cầu hóa về kinh tế chứa đựng
nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt
tiêu cực; đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai
cấp tiếp tục diễn ra gay gắt, các thế lực thù
địch đang điên cuồng chống phá và xuyên tạc.
Điều đó đang đòi hỏi Quốc hội nói chung, đại
biểu Quốc hội nói riêng phải khẩn trương hoàn
thiện pháp luật.
- Hệ thống pháp luật nước ta hiện đang còn thiếu
và chưa đồng bộ; thiếu cũng nhiều mà chưa đồng
bộ cũng còn lớn. Trong bản thân hệ thống pháp
luật còn bộc lộ những yếu kém. Một số lĩnh vực
của đời sống xã hội vẫn chưa có luật điều chỉnh.
Các luật đã ban hành còn chứa đựng nhiều "khung
không nội dung điều chỉnh", thiếu độ minh bạch,
thiếu ổn định; nhiều quy định không trực tiếp
điều chỉnh được các quan hệ xã hội, phải chờ đợi
văn bản hướng dẫn mới đi vào cuộc sống, nên kém
hiệu lực, hiệu quả. Nội dung của một số văn bản
quy phạm pháp luật chưa theo kịp với sự phát
triển của thực tiễn, với tồn tại xã hội, còn
mang nặng mong muốn chủ quan, nên tính khả thi
và dự báo thấp. Tình hình đó đặt Quốc hội và đại
biểu Quốc hội trước hai nhiệm vụ rất nặng nề:
một mặt, phải ban hành nhiều văn bản luật
mới phục vụ cho phát triển nền kinh tế thị
trường nhiều thành phần định hướng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế;
mặt khác, phải sửa đổi, bổ sung những văn
bản luật hiện hành nhằm khắc phục những yếu kém
vốn có trong bản thân hệ thống pháp luật.
Hai là, đời sống nhà nước và xã hội đang khẩn
thiết đòi hỏi mọi công dân, trước hết là cán bộ,
đảng viên, công chức, phải gương mẫu chấp hành
pháp luật; phải xử lý nghiêm minh những hành vi
vi phạm pháp luật, nhất là xử lý nghiêm minh
trách nhiệm của người đứng đầu trực tiếp để xảy
ra vi phạm pháp luật và tội phạm trong cơ quan,
tổ chức của mình.
"Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật"
là phương châm hành động của mọi người trong Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Luật pháp là
tối thượng, pháp luật "bất vị thân". Ai vi phạm,
dù người đó ở bất kỳ cương vị nào cũng đều phải
có hình thức xử lý nghiêm minh. Khi còn tình
trạng "nhẹ trên, nặng dưới", "chín bỏ làm mười",
"dĩ hòa vi quý", "dễ người dễ ta", nể nang, né
tránh, thậm chí cơ hội,... thì luật dù tốt đến
mấy cũng chỉ là những điều luật khô khan, không
hồn nằm trên giấy, lạc lõng trong cuộc sống,
không có nghĩa lý gì cả. Tất cả những điều đó
đang đặt hệ thống chính trị nước ta nói chung,
Quốc hội nói riêng trước đòi hỏi phải khẩn
trương nâng cao năng lực giám sát tối cao toàn
bộ hoạt động của Nhà nước để bảo đảm cho Hiến
pháp và pháp luật được nghiêm chỉnh chấp hành
trong cuộc sống, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, quản lý nhà nước bằng pháp luật, đấu
tranh phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết
kiệm có hiệu quả.
Ba là, đề cao vai trò của Quốc hội trong việc
quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước
đang là đòi hỏi của nền dân chủ đại diện, của
việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa.
Tình trạng quyết định các vấn đề trọng đại của
đất nước một cách hình thức, dựa dẫm, ỷ lại vào
người khác, thiếu cơ sở thực tiễn và khoa học,
không kịp thời... đều trái với ý nguyện của nhân
dân, không phù hợp với nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa. Điều đó đặt Quốc hội trước đòi hỏi phải
nâng cao năng lực thực hiện chức năng quyết định
những vấn đề trọng đại của đất nước một cách
thực quyền, đúng đắn, kịp thời, phù hợp với ý
chí và nguyện vọng của nhân dân.
3-
Trước những đòi hỏi khách quan nói trên, trong
thời gian tới chúng ta phải phấn đấu xây dựng
một Quốc hội thực thi đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn
của mình theo luật định, xứng đáng với vai trò
là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều đó
đòi hỏi Quốc hội phải mạnh về lập pháp, quyết
định những vấn đề trọng đại của đất nước và giám
sát tối cao.
Phương thức hoạt động của Quốc hội phải dựa trên
hai trụ cột chính là ủy ban và đại biểu Quốc
hội. Vai trò của các Ủy ban và Hội đồng Dân tộc
phải được tăng cường. Coi trọng vai trò của các
cá nhân đại biểu Quốc hội bằng cách phát huy trí
tuệ chuyên sâu, chuyên trách và trách nhiệm của
đại biểu trước nhân dân. Đồng thời, phải có sự
đổi mới kỳ họp của Quốc hội để chuyển từ tham
luận, phát biểu, nêu vấn đề sang một Quốc hội
tranh luận và quyết định chủ yếu theo hình thức
luật tại các kỳ họp.
Để xây dựng Quốc hội theo định hướng tổng thể
nói trên đáp ứng các đòi hỏi khách quan, bức xúc
hiện nay, cần tiến hành đồng bộ các giải pháp
sau đây:
- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng, đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò của
Quốc hội, tạo điều kiện để Quốc hội làm đúng,
làm đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo luật
định nhằm xây dựng một Quốc hội mạnh, thực
quyền.
- Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc
hội theo hướng dân chủ hóa, tạo mọi điều kiện để
các kỳ họp của Quốc hội diễn ra thực sự dân chủ;
cải tiến các hình thức lấy ý kiến nhân dân đối
với các dự án luật và các hình thức tiếp xúc
giữa đại biểu Quốc hội với cử tri, tăng cường
mối quan hệ gắn bó và trách nhiệm lẫn nhau giữa
đại biểu Quốc hội và cử tri; sớm ban hành Luật
Trưng cầu dân ý để nhân dân trực tiếp quyết định
một số vấn đề hệ trọng và thiết thực.
- Nâng cao năng lực lập pháp của Quốc hội. Phát
huy vai trò của mình, đại biểu Quốc hội và các
cơ quan của Quốc hội phấn đấu thực hiện "quyền
trình kiến nghị về luật, dự án luật ra trước
Quốc hội" theo quy định của Hiến pháp. Để làm
tốt điều đó, cần sửa đổi quy trình lập pháp, tạo
cơ chế khuyến khích đại biểu Quốc hội thực hiện
quyền sáng kiến lập pháp. Có cơ chế, chính sách
thu hút các hiệp hội, các tổ chức kinh tế, các
tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các chuyên gia
giỏi vào việc nghiên cứu thẩm định, thẩm tra các
dự án luật, giúp cho các đại biểu Quốc hội có
các luận cứ khoa học và thực tiễn để quyết định
lựa chọn chính sách, mô hình pháp lý tối ưu điều
chỉnh các quan hệ xã hội trong việc thực hiện
quyền sáng kiến lập pháp.
- Khắc phục tình trạng giám sát theo bề rộng mà
thiếu chiều sâu. Tập trung vào việc giám sát các
văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Tòa án
nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối
cao; giám sát ngân sách, đánh giá hiệu quả hoạt
động của cơ quan, tổ chức trong việc sử dụng
ngân sách nhà nước, trong việc thực hiện chức
năng, nhiệm vụ, nhất là giám sát để làm rõ trách
nhiệm chính trị và đạo đức của những người do
Quốc hội bầu ra hoặc phê chuẩn. Cần xác định rõ
phạm vi, nội dung, đối tượng giám sát trong từng
thời kỳ theo hướng tập trung giám sát cơ quan
hành pháp cao nhất bao gồm Chính phủ, các bộ và
các cơ quan ngang bộ.
- Tăng cường hoạt động của Hội đồng Dân tộc và
các ủy ban của Quốc hội. Các cơ quan này phải
chịu trách nhiệm chính về những vấn đề trong các
báo cáo của mình trình ra Quốc hội, đặc biệt là
các báo cáo thẩm tra. Trọng tâm hoạt động của
Quốc hội phải chuyển từ hoạt động của ủy ban
Thường vụ Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội
sang hoạt động chủ yếu tại ủy ban, Hội đồng Dân
tộc và quyết định tại kỳ họp toàn thể của Quốc
hội.
- Thành lập thêm một số ủy ban của Quốc hội để
tạo điều kiện cho các ủy ban chuyên trách hóa
hoạt động của mình theo hướng chuyên sâu về các
lĩnh vực như tư pháp, tài chính, ngân sách...
Tăng đại biểu Quốc hội chuyên trách theo hướng
bảo đảm cho phần lớn các thành viên của Hội đồng
Dân tộc và các ủy ban đều hoạt động chuyên
trách.
- Nâng cao chất lượng của đại biểu Quốc hội,
hoàn thiện cơ chế lựa chọn và tiến hành bầu cử
đại biểu Quốc hội theo hướng khắc phục tình
trạng thiên về đại diện theo vùng, miền mà ít
chú ý đến đại diện theo ngành, giới, nghề
nghiệp. Các ứng viên phải có chương trình hoạt
động cụ thể, có tính khả thi để trình bày, đối
thoại với cử tri về kết quả thực hiện các cam
kết của mình để cử tri có cơ sở nhận xét, đánh
giá hiệu quả hoạt động của đại biểu. Cùng với
việc nâng cao kiến thức, đại biểu Quốc hội phải
nâng cao bản lĩnh dám nói và dám đấu tranh với
các biểu hiện vi phạm pháp luật, nhất là tham
nhũng, lãng phí, tiêu cực trong bộ máy nhà nước.
Cần phát huy tính chủ động, tự lập, tự chịu
trách nhiệm cá nhân của đại biểu Quốc hội. Đại
biểu Quốc hội, đặc biệt là đại biểu Quốc hội
chuyên trách ở trung ương phải có chế độ làm
việc định kỳ ở địa phương để kịp thời nắm bắt ý
chí và nguyện vọng của nhân dân, phải thực sự là
người đại diện cho cử tri đã bầu ra mình.
- Kiện toàn các cơ quan tham mưu giúp việc cho
Quốc hội trở thành một thiết chế mạnh, có tính
ổn định. Cần thiết lập chức danh Tổng Thư ký
Quốc hội (Văn phòng Quốc hội chuyên lo về cơ sở
vật chất) để tập trung tham mưu giúp việc cho
Quốc hội. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các bộ
phận chuyên môn giúp việc Hội đồng Dân tộc, các
ủy ban của Quốc hội với các đơn vị phục vụ chung
cho Quốc hội như các bộ phận dịch vụ nghiên cứu,
thông tin, thư viện; tăng cường năng lực thông
tin để kịp thời cung cấp thông tin khách quan,
đầy đủ, đa chiều, chi tiết cho đại biểu Quốc
hội, giúp đại biểu xem xét và quyết định các vấn
đề trọng đại của đất nước một cách thực chất.
Coi trọng việc trao đổi kinh nghiệm các kỹ năng
hoạt động của các đại biểu Quốc hội, nhất là các
kỹ năng về chất vấn, kỹ năng khai thác, sử dụng
và phân tích thông tin; nghiên cứu, tiếp thu có
chọn lọc những kinh nghiệm quý của một số nghị
viện trên thế giới.
Nguồn: http://www.tapchicongsan.org.vn |