|
NGUYÊN
VĂN TỐ - TRƯỞNG BAN THƯỜNG TRỰC QUỐC HỘI ĐẦU
TIÊN
Nguyễn Minh Đức
Cụ Nguyễn Văn Tố (1889 – 1947) là một học giả
uyên bác, từng là Hội trưởng Hội Truyền bá quốc
ngữ, có công lớn trong việc xóa nạn mù chữ ở
Việt Nam. Sau cách mạng Tháng Tám, với chức vụ
Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội trong Chính phủ Cách
mạng lâm thời, cụ đã có công lớn trong việc
“chống giặc đói”. Với uy tín của một nhân sỹ yêu
nước, cụ đã trúng cử ĐBQH Khóa I. Tại Kỳ họp thứ
nhất, cụ Nguyễn Văn Tố được bầu giữ chức Trưởng
ban Thường trực QH (Chủ tịch QH), Bộ trưởng
không bộ trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến
cho đến lúc hy sinh. Cụ Nguyễn Văn Tố là một
nhân cách lớn, “một bậc hiền”, có đủ Nhân – Trí
– Dũng như lời nhận xét của Luật sư, ĐBQH Khóa I
Vũ Đình Hòe.
Bài 1: Từ Hội trưởng Hội truyền bá quốc ngữ trở
thành Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội
Một học giả uyên bác
Những năm 40 của thế kỷ XX, Ứng hòe Nguyễn Văn
Tố là một trong bốn nhân vật “Vĩnh, Quỳnh, Tố,
Tốn” nổi tiếng về nhân cách và học vấn. Cụ không
những uyên thâm Hán học mà tinh thông cả Tây học.
Ngay cả với ông Nguyễn Thiện Lâu, giáo sư Trường
Khải Định (Huế) có 5 bằng cử nhân KTXH, khi nhờ
cụ xem bản thảo, cụ cũng gạch đỏ, ghi rõ lỗi
thuộc loại nào khiến ông Lâu cũng phải tâm phục,
khẩu phục. Ông Bờ gia xi ê, chuyên viên khảo cổ
học người Pháp cũng phải nhờ cụ Tố sửa bài. Ông
Xơ đet, Giám đốc Viện Viễn Đông Bác Cổ, khi đưa
bài cho cụ, nói hẳn với cụ rằng: “Có sai, có sửa...
Nếu sau này có ai chỉ trích một điều gì là lỗi
tại ông đấy”. Bà Nguyễn Thành Yên, cháu ngoại cụ
Tố nhớ lại: “Cụ là người đặc biệt thông minh.
Hồi nhỏ khi tôi học ngoại ngữ, cụ có thể không
cần giở sách mà vẫn chỉ được từ ấy ở trang nào,
dòng nào trên xuống hoặc dưới lên trong cuốn từ
điển dày cộp”.
Sinh ra trong một gia đình nho học gốc Hà Nội,
sau khi tốt nghiệp Trường Thông ngôn, Nguyễn Văn
Tố vào làm việc tại Viện Viễn Đông Bác Cổ. Từ
nhân viên phụ tá, sau cụ được giữ chức chủ sự
Học viện, một cơ quan nghiên cứu lịch sử, văn
hóa của người Pháp ở 26 Lý Thường Kiệt. Chính
tại đây, cụ đã trở thành một học giả có tên
tuổi. Trên tập san của Học viện, cụ đã công bố
nhiều bài viết về văn hóa Việt Nam. Ngoài giờ
làm việc ở công sở, cụ Nguyễn Văn Tố tham gia
viết bài in trên các báo tiếng Việt tiến bộ thời
đó như Đông Thanh, Tri Tân, Thanh Nghị... và các
báo tiếng Pháp. Trong khoảng thời gian từ 1932-
1936, cụ đã viết nhiều bài nghiên cứu quan trọng
bằng tiếng Pháp về lịch sử, khảo cổ học, văn học
đăng trên tập san của Hội Trí tri. Trong quá
trình tìm tài liệu cho bài viết, đọc lại Tạp chí
Tri Tân đã ố vàng, chúng tôi thực sự kinh ngạc
về sức viết của học giả Nguyễn Văn Tố. Mặc dù
chỉ là trợ bút của Tạp chí nhưng để thực hiện
mục đích khơi dậy tinh thần yêu nước, cụ đã dồn
tâm lực cho các chuyên mục của Tạp chí Tri Tân.
Từ số 1 đến số 212 của Tạp chí Tri Tân, cụ
Nguyễn Văn Tố đều có bài đăng, thậm chí ở nhiều
số có đến 2-3 bài. Các bài nghiên cứu của cụ
được viết công phu, đăng thành nhiều kỳ mà tiêu
biểu là: Đại Nam dật sử, Sử ta so với sử tàu,
Việt Nam văn học sử, Tài liệu để đính chính
những bài văn cổ, Tra nghĩa chữ Nho, Bia Văn
Miếu: Những ông Nghè triều Lê, Tích thành Đại
la... Các công trình nghiên cứu của cụ đã được
công bố liên quan đến nhiều lĩnh vực văn học,
lịch sử, khảo cổ, kiến trúc... thường mang tính
chất khai mở, đặt nền móng đến nay vẫn còn
nguyên giá trị.
Năm 1938, Hội Truyền bá quốc ngữ ra đời nhằm
chống lại chính sách ngu dân cố hữu, ngoan cố
của chính phủ thuộc địa, cụ Nguyễn Văn Tố được
bầu làm Hội trưởng. Mục đích của Hội truyền bá
quốc ngữ là: “Dạy cho người Việt Nam biết đọc,
biết viết và giúp cho họ thâu thái những kiến
văn thường thức cần cho cuộc sống mới”. Chỉ sau
6 năm hoạt động, riêng ở Bắc kỳ, Hội đã thành
lập được 20 chi nhánh, xóa mù chữ cho trên 5 vạn
người. Kết quả quan trọng ấy công đầu thuộc về
cụ Hội trưởng Nguyễn Văn Tố.
Vị Bộ trưởng tận lực cứu đói
Trong ký ức của nhiều người, cụ Nguyễn Văn Tố
quanh năm khăn xếp áo the và chuyên đời đi bộ.
Nhiều người gọi cụ là ông “phán men” – chuyên đi
men ở vỉa hè. Bà Nguyễn Thành Yên nhớ lại: “Cụ
thường đi bộ từ nhà ở phố Bát Đàn đến công sở,
tháng này qua năm khác đều đặn”. Chính con người
thông tỏ Tây học nhưng giữ cho mình một cốt cách
dân tộc ấy từ trước cách mạng đã hết lòng chăm
lo xóa nạn mù chữ và nâng cao dân trí cho những
người lao động nghèo. Chính vì vậy, cũng rất tự
nhiên, cụ đã đến với cách mạng Tháng Tám, được
Chủ tịch Hồ Chí Minh mời làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế
xã hội trong Chính phủ lâm thời.
Từ một học giả suốt ngày đèn sách, nghiên cứu,
cụ đã hòa vào dòng chảy của cách mạng, hòa vào
đời sống của nhân dân, tích cực tiểu trừ giặc
đói. Có thể nói, cụ chính là thành viên tích cực
nhất, là người chịu trách nhiệm chính trong việc
phát động phong trào quyên góp gạo, huy động vật
lực để cứu đói. “Ngày 8.10.1945, Báo cáo của ông
Tố: Bắt đầu từ mồng 10 này, Bộ Cứu tế sẽ cho đi
thu gạo để giúp dân đói. Cứ 10 ngày, 1 người sẽ
cho 1 bơ gạo”; 15.11.1945: “Vấn đề cứu tế ông Tố
mới đi Nam Định, Thái Bình trở về. Tỉnh Thái
Bình cần rất nhiều gạo. Ở Nam Định đã bắt đầu
thi hành việc tăng gia sản xuất” (Trích biên bản
các phiên họp của Hội đồng Chính phủ – Nguồn dự
trữ Quốc gia III). Để lo gạo cho dân, cụ đã phải
lặn lội khắp các làng, xã tại một số tỉnh của
Bắc kỳ để vận động quyên góp gạo cứu đói. Đầu
năm 1947, khi là Bộ trưởng không bộ, cụ Nguyễn
Văn Tố có một chuyến đi làm việc tại Hà Đông để
quyên góp gạo cứu đói cho Hà Nội. Trong báo cáo
gửi Hồ Chủ tịch đề ngày 6.1.1947, cụ Nguyễn Văn
Tố viết: “Từ thứ Năm mồng 2.1.1947 đến chủ nhật
5.1.1947 tôi đi phủ Hoài Đức, cách tỉnh lỵ 9 cây
số, rồi từ đấy đi các làng xung quanh... Tôi đi
đến tận nơi để “dân gian được yên lòng... Nếu
không đi hết (vì toàn phải đi bộ) tôi sẽ đi phủ
Hoài Đức một lần nữa cho hết 58 liên xã (kể cả
thôn thì hết 100)”...
Từ một học giả, một nhân sỹ yêu nước trở thành
Bộ trưởng trong Chính phủ cách mạng, cụ Nguyễn
Văn Tố đã dồn tâm lực của mình cho những ngày
đầu khó khăn khi mới giành được chính quyền.
Trước và sau cách mạng, cụ đều có công lớn trong
việc diệt “giặc đói, giặc dốt”, chuẩn bị nguồn
lực để chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến chống
thực dân pháp đang cận kề. Cụ Nguyễn Văn Tố
chính là vị Bộ trưởng liệt sỹ đầu tiên đã hy
sinh trong cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ.
Báo Người đại biểu nhân dân số 237, ngày
03-12-2005 |