|
Cơ sở pháp
lý của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
được Bác
Hồ khẳng định như thế nào?
Nhà nước là một thể chế pháp lý nên phải có một
cơ sở pháp lý. Các luật gia tranh cãi nhiều về
cơ sở pháp lý của Nhà nước, thậm chí có người
cho rằng nhà nước là kết quả của sự "hình thành
tự nhiên", nhưng cuối cùng người ta đều công
nhận hành động tạo lập nên nhà nước dân tộc có
trường hợp là việc tuyên bố thành lập nền cộng
hòa hay nền quân chủ lập hiến trên nguyên tắc
chủ quyền của dân tộc, có trường hợp là tuyên bố
độc lập như việc 13 quốc gia của nước Mỹ tuyên
bố độc lập năm 1776.
Có những trường hợp ngoại lệ như việc LHQ chia
nước Pa-le-xtin làm hai quốc gia, thành lập thêm
nước Do Thái độc lập gọi là Nhà nước I-xra-en.
Tuy nhiên sau đó ngày 14-3-1948, I-xra-en vẫn
công bố bản tuyên bố độc lập. Hay như LHQ ra
quyết định ngày 21-11-1949 về việc kiến lập
Li-bi thành một "nhà nước độc lập và có chủ
quyền" nhưng đến 24-12-1951, Li-bi vẫn công bố
bản tuyên bố độc lập. Trong trường hợp nước thực
dân đơn phương thỏa thuận cho thuộc địa được độc
lập (phi thực dân hóa), nước thuộc địa thường
vẫn có tuyên bố độc lập như Ấn Độ, Mi-an-ma.
Như vậy, pháp lý của các tuyên bố độc lập dựa
trên nguyên tắc quyền tự quyết của các dân tộc
và ý nguyện của dân tộc, cơ sở pháp lý của nhà
nước dân tộc không thể là một hành động từ bên
ngoài.
Với thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945,
đỉnh cao của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc,
dân tộc Việt Nam đã giành lại được độc lập, Chủ
tịch Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa. Đó là một nhà nước xuất xứ
từ một cuộc cách mạng dân tộc chống chủ nghĩa
thực dân.
Trong sáu mươi năm qua, các nhà chính trị, nhà
nghiên cứu của nước ta nói nhiều đến nguồn gốc
lịch sử của nhà nước mới, ít nói đến cơ sở pháp
lý của nhà nước đó. Tôi nghĩ nên căn cứ vào
những khái niệm quốc tế, nguồn gốc lịch sử và cơ
sở pháp lý, để có cái nhìn và đánh giá đầy đủ về
Cách mạng Tháng Tám và Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa.
|

Lễ
tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường
Ba Đình ngày 2-9-1945 |
Về nguồn gốc lịch sử của Nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa chúng ta có đầy đủ các dữ
kiện. Chỉ xin nhắc đến sự kiện ngày
2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hàng
vạn người tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội)
đã đọc Tuyên ngôn Độc lập thành lập
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Như vậy,
Dân tộc của nước Việt Nam, được thành lập
bằng bản Tuyên ngôn Độc lập chuyển
nước Việt Nam từ một thuộc địa thành một
nước cộng hòa.
Có thể thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm
trước hết đến cơ sở pháp lý của Nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa. Đây là sự vận dụng sáng
suốt và kịp thời sự hiểu biết sâu rộng của Người
về lịch sử hình thành các nhà nước trên thế
giới. Ai cũng biết khi ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí
Minh hiểu rằng nhà nước-dân tộc ở Pháp ra đời
năm 1787 từ bản Tuyên bố về quyền của con người
và của người công dân vì bản tuyên bố đó tuyên
bố nguyên tắc chủ quyền của dân tộc và khởi
xướng khái niệm công dân không còn là thần dân
của nhà nước quân chủ nữa. Khi ở Trung Quốc,
Người biết rằng sau cuộc khởi nghĩa Vũ Xương mở
đầu cuộc cách mạng Tân Hợi, Tôn Trung Sơn nhậm
chức tổng thống và tuyên bố thành lập nước Trung
Hoa dân quốc, xóa bỏ nhà nước quân chủ của nhà
Thanh. Hội nghị các đại biểu các tỉnh chuyển
thành Tham nghị viện. Khi ở Mỹ, Người biết rằng
13 thuộc địa của Anh sau khi đánh thắng quân Anh
tuyên bố độc lập ngày 4-7-1776 không những chấm
dứt sự lệ thuộc Anh mà còn khẳng định chủ quyền
của dân tộc, lập nên nhà nước-dân tộc. Nhiều
nước khác cũng qua việc công bố Tuyên bố độc lập
và thành lập nước cộng hòa.
Sau khi khởi nghĩa thành công, độc lập đã giành
lại được, với sự hiểu biết sâu rộng về sự hình
thành các nhà nước dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh
hiểu rằng quyết định của Quốc dân Đại hội Tân
Trào thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc (tức
Chính phủ lâm thời) hay việc cải tổ Ủy ban
giải phóng dân tộc thành Chính phủ lâm thời nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa không thể là hành vi
tạo nên cơ sở pháp lý cho Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa, mà phải công bố một Tuyên ngôn độc
lập như luật pháp quốc tế yêu cầu. Tuyên
ngôn độc lập đó có nhiệm vụ xóa bỏ
chế độ thuộc địa thành lập nước cộng hòa với
chủ quyền của dân tộc và nhân dân, tức là một
nhà nước-dân tộc. Bản tuyên bố đó dựa trên quyền
tự quyết của các dân tộc và ý nguyện của dân
tộc. Bản Tuyên ngôn đó chính là cơ sở pháp lý
của nhà nước-dân tộc. Nói Chủ tịch Hồ Chí Minh
có thiên tài làm bản Tuyên ngôn độc lập
có nghĩa là Người đã biết vận dụng kinh nghiệm
thành lập các nhà nước-dân tộc trong lịch sử để
lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên
cơ sở pháp lý vững chắc.
Một câu hỏi nữa là vì sao lại chọn ngày 2-9-1945
để tuyên bố độc lập, thành lập nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa. Người đầu tiên thắc mắc về vấn đề
này là ông Nguyễn Hữu Đang. Tối ngày 28-8, sau
khi Hồ Chủ tịch giao nhiệm vụ tổ chức lễ ra mắt
Chính phủ vào ngày 2-9-1945, ông Đang thấy chỉ
còn 4 ngày, làm sao cho kịp. Hồ Chủ tịch hỏi:
"Chú có làm được không?", ông Đang trả lời:
"Thưa Cụ, vì còn ít ngày quá nên rất khó khăn".
Hồ Chủ tịch không giải thích mà chỉ động viên
ông Đang "phải làm bằng được để xứng đáng lòng
tin cậy của Chính phủ". Ông Đang hiểu rằng không
thể hoãn được, tích cực động viên các bạn Văn
hóa cứu quốc, Hướng đao, Truyền bá quốc ngữ và
cuối cùng đã hoàn toàn thành công trong việc tổ
chức lễ ra mắt của Chính phủ tại Quảng trường Ba
Đình, tuy chưa được biết câu trả lời cho câu
hỏi: tại sao phải làm ngày 2-9-1945.
Muốn tìm một lý giải cho việc chọn ngày 2-9 mà
không phải một ngày khác, trước hết phải hiểu
bối cảnh nước ta và quốc tế vào thời điểm đó.
Với sự thành công của Cách mạng Tháng Tám, nước
Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã ra đời và là nhà
nước thực tế đang kiểm soát toàn bộ nước Việt
Nam. Bất kể Chính phủ hay lực lượng nào muốn
giải quyết vấn đề gì về Việt Nam không thể không
được sự đồng ý của Chính phủ nước Việt Nam dân
chủ Cộng hòa.
Hội nghị Pốt-xđam ở Đức tháng 7-1945 đã quyết
định việc tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật ở
Đông Dương giao cho Chính phủ Trung Hoa dân quốc
ở phía bắc Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở lên,
cho Chính phủ anh ở phía nam Đông Dương từ vĩ
tuyến 16 trở xuống. Pháp thấy mình bị gạt ra
ngoài nên Đờ Gôn cấp tốc phái Đội quân viễn
chinh Pháp ở Viễn đông sang Việt Nam (CEFEO)
dưới quyền chỉ huy của tướng Lơ Cléc, bổ nhiệm
đô đốc D’ Argenlieu làm Cao ủy Đông Dương, rồi
đích thân đi Mỹ đề nghị Mỹ công nhận chủ quyền
của Pháp ở Đông Dương, tổng thống Tru-man đã
đồng ý. Biết không thể vượt qua đầu Chính phủ
Việt Nam dân chủ cộng hòa, Pháp đã ký Hiệp ước
Trùng Khánh để Trung Hoa dân quốc nhường Pháp
quyền tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật để có
thể đưa quân Pháp một cách hòa bình ra Bắc kỳ...
Pháp cho Mesmer nhảy dù xuống làm đại diện Chính
phủ Pháp tại Nam Bộ, một tổ biệt kích xuống gần
Huế để lôi kéo vua Bảo Đại. Ngày 22-8 Xanh-tơ-ni
theo máy bay Mỹ đến Hà Nội. Ý đồ của Pháp rõ
ràng là trở lại Đông Dương có thể bằng thương
lượng, có thể bằng vũ lực. Quân Tưởng Giới Thạch
vào Việt Nam cần được Việt Nam cung cấp hậu cần
và giúp đỡ của nhà cầm quyền Việt Nam. Đó là
chưa kể việc các quan chức Trung Quốc tung những
tay sai người Việt để quấy phá chính quyền nhân
dân.
Như vậy, trong bất cứ trường hợp nào cũng cần có
một chính phủ để thay mặt nước Việt Nam bảo vệ
chủ quyền của Việt Nam, an ninh và quyền lợi
chính đáng của người Việt Nam. Chính người đại
diện của Pháp cũng hiểu rằng dù có sự thỏa thuận
của Chính phủ Tưởng Giới Thạch, Pháp vẫn cần
được Việt Nam dân chủ Cộng hòa đồng ý cho Pháp
đưa quân ra miền Bắc. Tình hình phát triển rất
khẩn trương. Ngày 27-8, quân Lư hán đã vượt biên
giới tiến về Hà Nội. Đại diện của Pháp đã đến Hà
Nội ngày 22-8. Ngày 28-8, biệt kích Pháp đã nhảy
dù xuống gần Huế để có liên lạc với Bảo Đại.
6.000 quân của tướng Alessandri đã chiếm Lai
Châu. Đáng lẽ ngay sau khi tổng khởi nghĩa đã
thành công, ta đã phải có một Chính phủ chính
thức để thay mặt đất nước tiếp đón các đại diện
dân sự, quân sự của nước ngoài. Nhưng tình thế
của ta cũng không thể làm nhanh được: ngày 23-8,
Thường trực Trung ương từ Tân Trào mới về đến Hà
Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 25-8 mới về đến
Hà Nội, ngày 27-8, Chính phủ lâm thời mới được
thành lập. Ngày 28-8, Hồ Chủ tịch mới viết
Tuyên ngôn Độc lập. Yêu cầu của tình
hình là lập Chính phủ lâm thời càng sớm càng tốt
để tiếp đón quân Tưởng Giới Thạch đến Hà Nội,
tiếp đón đại diện của Chính phủ Pháp, của tổ
chức OSS của Mỹ. Rõ ràng Chính phủ lâm thời
không thể ra mắt đồng bào trước ngày 28-8. Hồ
Chủ tịch đặt yêu cầu với ông Nguyễn Hữu Đang
không thể ngắn hơn 4 ngày mà cũng không thể kéo
dài hơn 4 ngày vì quân Tưởng đã bắt đầu vào nước
ta, thậm chí những va chạm đầu tiên giữa dân ta
và lính Tưởng đã xảy ra ở Lạng Sơn.
Khi ông Nguyễn Hữu Đang hỏi Hồ Chủ tịch tại sao
làm gấp thế, Hồ Chủ tịch không giải thích mà chỉ
động viên ông chính là vì tình hình phức tạp và
khẩn trương, Việt Nam dân chủ cộng hòa nhất
thiết phải là Chính phủ đang làm chủ đất nước,
các nước khác không thể vượt qua chủ quyền của
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
LƯU VĂN LỢI
Nguồn: http://www.quandoinhandan.org.vn/ |