Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

 Quốc hội trong tiến trình cách mạng của dân tộc

Giáo sư Đoàn Trọng Truyến

 Đại biểu Quốc hội Khóa I, II, III, IV, V, VI, VII 

Tôi xin nêu một số ý chính về quá trình hình thành và phát triển của Quốc hội ta từ Khóa I cho đến Khóa X.

Thứ nhất, Quốc hội ta được đẻ ra và tồn tại trong một thời gian dài từ khói lửa của cuộc chiến tranh ác liệt chống đế quốc phong kiến, nhất là chống thực dân. Có thể nói nó in dấu rất đậm nét vào nội dung, hình thức tổ chức của Quốc hội ta, đặc biệt là ở những khóa đầu tiên.

Quốc hội ta là Quốc hội đi từ cách mạng dân tộc dân chủ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, là Quốc hội được phát triển trong tiến trình cách mạng liên tục của dân tộc Việt Nam. Tôi nhớ, Quốc hội Khóa I ngay trong kỳ họp đầu tiên đã trở thành nơi diễn đàn cũng đã diễn ra cuộc đấu tranh về lập trường, tư tưởng, về chính trị rất phức tạp. Ví dụ: về vấn đề xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đã nổ ra những cuộc tranh luận khá gay go trước khi Quốc hội họp và ngay trong diễn đàn Quốc hội. Hoặc về vấn đề phân lập ba quyền, ba quyền là thế nào, quyền lực thống nhất không phân chia là thế nào? Như các đồng chí biết đấy, học thuyết của Môngtetxkiơ về phân lập ba quyền khá phức tạp. Hồi đó, anh em ta hiểu về cách mạng, về Đảng thì nhiều, nhưng lý luận về Nhà nước, về pháp quyền, về ba quyền... thì còn ít lắm. Cho nên, không thể không có tranh luận giữa phái gọi là quyền lực thống nhất không phân chia và phái cho là có sự phân lập về 3 quyền. Nhiều đồng chí đại biểu công nông ít học thức, lý luận không biết Môngtetxkiơ là ai và Thuyết phân lập ba quyền là gì. Trong khi các vị đại biểu theo quan điểm lập trường khác, nói đúng ra là quan điểm của giai cấp tư sản thì họ am hiểu Môngtetxkiơ... Tôi không còn nhớ những đồng chí nào đã lên diễn đàn tranh luận. Nhưng có thể nói đấy là cuộc tranh luận về quan điểm giai cấp và tư tưởng.

Thứ hai, Quốc hội ta thể hiện rất rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, mỗi bước phát triển của Quốc hội, của Nhà nước là một bước thể hiện ngày càng sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh. Tôi tạm nêu nên như thế này: Quốc hội thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh ở chỗ kết tinh những giá trị lớn nhất của dân tộc Việt Nam, của lịch sử nhân loại và của thời đại. Quốc hội ta mang đậm tính dân tộc, tính dân chủ, tính chất xã hội chủ nghĩa và tính hiện đại. Tôi xin đơn cử vấn đề xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước ta. Hồi đó, cách mạng Trung Quốc chưa thành công, Liên Xô thì đi trước rồi, từ năm 1917. Sau Liên Xô là Việt Nam, lúc ấy những kiến thức về Hiến pháp, về chủ nghĩa xã hội, một nước dân chủ nhân dân đi lên chủ nghĩa xã hội thì chúng ta hiểu còn rất hạn chế. Ngay Quốc hội ta đã thể hiện rất rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc. Tính giai cấp cũng rất sắc sảo, tất cả đều dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ đầu, từ khi bầu Quốc hội đến khi họp Quốc hội cho đến quá trình phát triển Quốc hội đều theo tinh thần đó. Chúng ta tranh luận, rốt cục đã ghi một điều rất cơ bản vào Hiến pháp về quan điểm quyền lực thống nhất không phân chia nhưng có sự phân công kết hợp rất chặt chẽ giữa ba quyền. Chúng ta bác bỏ thuyết phân quyền Môngtetxkiơ theo giai cấp tư sản, bác bỏ Môngtetxkiơ, bác bỏ thuyết phân quyền phân lập thì ra cái gì? Hồi đó, chúng tôi là những người vừa mới ra trường năm 1945, 1946, mới hơn 20 tuổi, rất trẻ, chưa hiểu Mác –Lênin là gì ghê gớm lắm, chỉ mới đọc 5, 7 quyển sách thế thôi, cũng chưa dự lớp nào có hệ thống như sau này. Nhưng có thể nói, với những kiến thức rất sơ bộ ấy, chúng tôi quyết tâm đi theo chủ nghĩa xã hội, theo Đảng, cố gắng thấm nhuần tư tưởng Mác – Lênin và tư tưởng của Hồ Chí Minh. Sau vài ba tháng, cuộc cách mạng thành công và sau khi họp Quốc hội khóa đầu tiên, với một đội ngũ những người đại biểu Quốc hội chưa phải là có kiến thức nhiều lắm về chủ nghĩa Mác – Lênin cũng như về khoa học nhà nước, nhưng lại tiếp cận rất nhanh, rất kịp thời đại kiến thức tiến bộ nhất của thời đại, tất nhiên kiến thức đó không tách rời kiến thức của hàng trăm hàng nghìn năm lịch sử nhân loại. Nhưng một Quốc hội non trẻ như vậy, với thành phần phần lớn là công nông như vậy, với trình độ văn hóa nói chung là thấp so với trình độ bây giờ, mà lại hiểu được những vấn đề rất thời đại, rất hiện đại của lý luận và thực tiễn của xây dựng nhà nước thì thật là một điều kỳ diệu. Bây giờ, chúng ta thảo luận không phải là vô cớ mà ta nhắc lại và trao đổi lại đề tài Nhà nước pháp quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh... và chủ nghĩa nhân văn, tính nhân văn, trong nội dung hoạt động Quốc hội. Có thể nói, đây là một đặc điểm của Quốc hội Việt Nam ta từ khi hình thành cho đến bây giờ, đều đi theo con đường của Đảng, của Bác vạch ra, chứ không phải con đường khác.

Thứ ba, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong quá trình cách mạng của dân tộc, Quốc hội ta luôn bám sát và thể hiện đầy đủ chiến lược và sách lược của cách mạng do Đảng vạch ra. Đó là chiến lược đại đoàn kết dân tộc. Chúng ta nhớ lại những năm 1945, 1946, 1947, vấn đề giai cấp, vấn đề Đảng phái lúc đó không phải như bây giờ. Trong tình hình còn tồn tại giai cấp và giai cấp đối kháng (tôi nhấn mạnh trong tồn tại có giai cấp đối kháng) trong đó có các Đảng phái phá hoại thì tổ chức và hoạt động của Quốc hội thật là phức tạp, khó khăn... Tôi nói ví dụ việc Quốc hội mở rộng số đại biểu thêm 70 người nữa của Việt quốc, Việt cách không phải qua bầu cử. Nghe theo lời đề nghị của Bác, Quốc hội đã nhất trí việc này một cách êm ru. Đây là một sách lược “diệu kỳ” của Hồ Chủ Tịch, tức là của dân tộc, của đoàn kết dân tộc. Hồi đó, tôi là đảng viên Đảng cộng sản nhưng hồi đó Cộng sản không công khai cho nên Chủ nghĩa xã hội đại hội là công khai đeo cà vạt đỏ. Tôi đeo cà vạt đỏ ngồi bên cực tả, bên cực hữu tức là 70 vị đó nên gọi là cực hữu. Tôi nói như vậy để nói cái gì? Hình thức thì có nhiều cái giống kiểu tư sản, nhưng về thực chất cái đó có vấn đề hết sức lớn là nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh đại đoàn kết cho nên những Đảng phái khác hẳn với quan điểm lập trường của Cộng sản, của Việt Minh... vẫn được mời vào Quốc hội đàng hoàng với một sách lược rất là mềm dẻo. Cái hay là chủ trương của Đảng, của Bác Hồ lại được chấp nhận, chấp nhận một cách hơi ngược đời, có thể là hơi khác thường, tự nhiên không “mời” mà được vào Quốc hội, mà vào đàng hoàng như mọi người. Về sau đó một số vị nào đó bỏ vị trí ra đi thì đó là chuyện khác. Mỗi chặng đường phát triển của lịch sử là một dấu ấn rất rõ của Quốc hội và Quốc hội còn là nơi thể hiện rất rõ rệt tiến trình lịch sử của dân tộc. Quốc hội còn là một cơ quan tạo động lực thúc đẩy quá trình lịch sử từ cách mạng dân tộc dân chủ đi lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Những bài nói, bài viết cụ thể của anh Võ Nguyên Giáp đã nêu đầy đủ về vai trò to lớn của Quốc hội Khóa I.

(Theo Kỷ yếu hội thảo 55 năm Quốc hội Việt Nam- Quá trình hình thành, phát triển và vai trò của Quốc hội trong sự nghiệp đổi mới- VPQH, 12.2000)

(còn nữa)

Báo Người đại biểu nhân dân số 221, ngày 15-11-2005

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện