Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

Hiến pháp 1946 với tư tưởng pháp quyền

Hoàng Hải

60 năm đã trôi qua kể từ khi Quốc hội đầu tiên của nước ta được bầu ra và bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta được thông qua. Sống mãi với thời gian là các giá trị của Cách mạng tháng tám: Độc lập, tự do, dân chủ. Sống mãi với thời gian là tư tưởng pháp quyền kết tinh trong bản Hiến pháp được gọi ngắn gọn là Hiến pháp 1946.

Hiến pháp 1946 là một bản hiến văn hết sức ngắn gọn, súc tích. Toàn bộ bản hiến văn chỉ gồm 70 điều. Sự ngắn gọn này đạt được là nhờ vào việc Hiến pháp chỉ tập trung quy định những vấn đề thuộc tầm của luật hiến pháp, mà cụ thể là các quyền tự do, dân chủ; các nguyên tắc và cách thức tổ chức các cơ quan quyền lực nhà nước. Đây thực sự là một bản khế ước xã hội về việc phân chia quyền: quyền của các công dân và quyền của nhà nước; quyền giữa các cơ quan nhà nước với nhau.

Nếu nhà nước pháp quyền là nhà nước được tổ chức trên những nguyên tắc và thủ tục sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ, thì Hiến pháp 1946 đã phản ánh đúng tinh thần đó.

Trước hết, để lạm quyền không thể xảy ra thì hiến pháp đã được đặt cao hơn nhà nước. Về mặt thủ tục, điều này có thể đạt được bằng hai cách: 1. Hiến pháp phải do quốc hội lập hiến thông qua; 2. hoặc Hiến pháp phải do toàn dân thông qua. Hiến pháp 1946 đã thực sự do một Quốc hội lập hiến thông qua. Theo quy định của Hiến pháp 1946, nước ta không có Quốc hội mà chỉ có Nghị viện nhân dân với nhiệm kỳ 3 năm. Như vậy, đáng ra nếu không có chiến tranh, sau khi thông qua Hiến pháp, Quốc hội sẽ tự giải tán để tổ chức bầu Nghị viện nhân dân. Nghị viện nhân dân không thể tự mình sửa đổi hiến pháp. Mọi sự sửa đổi, bổ sung đều phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70, Hiến pháp 1946).

Hai là, các quyền của người dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm. Ví dụ, Điều thứ 10 quy định: "Công dân Việt nam có quyền: -Tự do ngôn luận; - Tự do xuất bản; - Tự do tổ chức và hội họp; -Tự do tín ngưỡng; -Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài". Điều thứ 12 quy định: "Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm". Như chúng ta thấy, Hiến pháp không đặt vấn đề Nhà nước bảo đảm các quyền đó, mà ghi nhận các quyền đó như những quyền đương nhiên. Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thì cao hơn là nhà nước ghi nhận và bảo đảm. Vì rằng nếu nhà nước ghi nhận và bảo đảm thì quyền chủ động là thuộc nhà nước, nhưng nếu Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thì nhà nước không có quyền chủ động ở đây.

Ba là, việc phân cấp, phân quyền được thực hiện khá mạch lạc và nhiều cơ chế kiểm tra và giám sát lẫn nhau đã được thiết kế. Ví dụ, quyền "kiểm soát và phê bình Chính phủ" của Ban thường vụ Nghị viện (Điều 36, Hiến pháp 1946); quyền của "nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện" (Điều 40, Hiến pháp 1946); Thủ tướng có quyền nêu vấn đề tín nhiệm để Nghị viện biểu quyết (Điều 54, Hiến pháp 1946)...

Việc phận cấp, phân quyền giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương cũng rất rõ. Ví dụ, Nghị viện nhân dân chỉ quyết định những vấn đề "chung cho toàn quốc" (Điều 23, Hiến pháp 1946). Hội đồng nhân dân được quyền quyết định "những vấn đề thuộc địa phương mình" (Điều 59, Hiến pháp 1946).

Cuối cùng, vai trò độc lập xét xử của tòa án được bảo đảm. Điều này đạt được nhờ hai cách: Một là, các tòa được thiết kế không theo cấp hành chính (Điều 63, Hiến pháp 1946); Hai là,  khi xét xử, thẩm phán "chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp" (Điều 69, Hiến pháp 1946).

Sau 60 năm cuộc sống đã có nhiều thay đổi và những bản Hiến pháp mới cũng đã được thông qua, nhưng những tư tưởng pháp quyền của Hiến pháp 1946 vẫn còn giữ nguyên giá trị. Chúng thuộc về di sản tư tưởng và văn hoá pháp lý của dân tộc chúng ta.

Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân, số 7

<< Quay lại

 
  
Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện