|
Hiến pháp 1946
với tư tưởng pháp quyền
Hoàng Hải
60 năm đã trôi qua kể từ khi Quốc hội đầu
tiên của nước ta được bầu ra và bản Hiến
pháp đầu tiên của nước ta được thông qua.
Sống mãi với thời gian là các giá trị của
Cách mạng tháng tám: Độc lập, tự do, dân
chủ. Sống mãi với thời gian là tư tưởng pháp
quyền kết tinh trong bản Hiến pháp được gọi
ngắn gọn là Hiến pháp 1946.
Hiến pháp 1946 là một bản hiến văn hết sức ngắn
gọn, súc tích. Toàn bộ bản hiến văn chỉ gồm 70
điều. Sự ngắn gọn này đạt được là nhờ vào việc
Hiến pháp chỉ tập trung quy định những vấn đề
thuộc tầm của luật hiến pháp, mà cụ thể là các
quyền tự do, dân chủ; các nguyên tắc và cách
thức tổ chức các cơ quan quyền lực nhà nước. Đây
thực sự là một bản khế ước xã hội về việc phân
chia quyền: quyền của các công dân và quyền của
nhà nước; quyền giữa các cơ quan nhà nước với
nhau.
Nếu nhà nước pháp quyền là nhà nước được tổ chức
trên những nguyên tắc và thủ tục sao cho lạm
quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ
của nhân dân được bảo vệ, thì Hiến pháp 1946 đã
phản ánh đúng tinh thần đó.
Trước hết, để lạm quyền không thể xảy ra thì
hiến pháp đã được đặt cao hơn nhà nước. Về mặt
thủ tục, điều này có thể đạt được bằng hai cách:
1. Hiến pháp phải do quốc hội lập hiến thông
qua; 2. hoặc Hiến pháp phải do toàn dân thông
qua. Hiến pháp 1946 đã thực sự do một Quốc hội
lập hiến thông qua. Theo quy định của Hiến pháp
1946, nước ta không có Quốc hội mà chỉ có Nghị
viện nhân dân với nhiệm kỳ 3 năm. Như vậy, đáng
ra nếu không có chiến tranh, sau khi thông qua
Hiến pháp, Quốc hội sẽ tự giải tán để tổ chức
bầu Nghị viện nhân dân. Nghị viện nhân dân không
thể tự mình sửa đổi hiến pháp. Mọi sự sửa đổi,
bổ sung đều phải đưa ra toàn dân phúc quyết
(Điều 70, Hiến pháp 1946).
Hai là, các quyền của người dân được Hiến pháp
ghi nhận và bảo đảm. Ví dụ, Điều thứ 10 quy
định: "Công dân Việt nam có quyền: -Tự do ngôn
luận; - Tự do xuất bản; - Tự do tổ chức và hội
họp; -Tự do tín ngưỡng; -Tự do cư trú, đi lại
trong nước và ra nước ngoài". Điều thứ 12 quy
định: "Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt
Nam được bảo đảm". Như chúng ta thấy, Hiến pháp
không đặt vấn đề Nhà nước bảo đảm các quyền đó,
mà ghi nhận các quyền đó như những quyền đương
nhiên. Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thì cao hơn
là nhà nước ghi nhận và bảo đảm. Vì rằng nếu nhà
nước ghi nhận và bảo đảm thì quyền chủ động là
thuộc nhà nước, nhưng nếu Hiến pháp ghi nhận và
bảo đảm thì nhà nước không có quyền chủ động ở
đây.
Ba là, việc phân cấp, phân quyền được thực hiện
khá mạch lạc và nhiều cơ chế kiểm tra và giám
sát lẫn nhau đã được thiết kế. Ví dụ, quyền
"kiểm soát và phê bình Chính phủ" của Ban thường
vụ Nghị viện (Điều 36, Hiến pháp 1946); quyền
của "nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay
biểu quyết trong Nghị viện" (Điều 40, Hiến pháp
1946); Thủ tướng có quyền nêu vấn đề tín nhiệm
để Nghị viện biểu quyết (Điều 54, Hiến pháp
1946)...
Việc phận cấp, phân quyền giữa chính quyền trung
ương và chính quyền địa phương cũng rất rõ. Ví
dụ, Nghị viện nhân dân chỉ quyết định những vấn
đề "chung cho toàn quốc" (Điều 23, Hiến pháp
1946). Hội đồng nhân dân được quyền quyết định
"những vấn đề thuộc địa phương mình" (Điều 59,
Hiến pháp 1946).
Cuối cùng, vai trò độc lập xét xử của tòa án
được bảo đảm. Điều này đạt được nhờ hai cách:
Một là, các tòa được thiết kế không theo cấp
hành chính (Điều 63, Hiến pháp 1946); Hai là,
khi xét xử, thẩm phán "chỉ tuân theo pháp luật,
các cơ quan khác không được can thiệp" (Điều 69,
Hiến pháp 1946).
Sau 60 năm cuộc sống đã có nhiều thay đổi và
những bản Hiến pháp mới cũng đã được thông qua,
nhưng những tư tưởng pháp quyền của Hiến pháp
1946 vẫn còn giữ nguyên giá trị. Chúng thuộc về
di sản tư tưởng và văn hoá pháp lý của dân tộc
chúng ta.
Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân, số 7 |