Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

TIẾP TỤC ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG

CỦA VĂN PHÒNG QUỐC HỘI  ĐỂ LÀM TỐT VAI TRÒ LÀ CƠ QUAN THAM MƯU,

GIÚP VIỆC CHO QUỐC HỘI VÀ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển"

Hà Nội, 23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)

TS. Bùi Ngọc Thanh

Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội

 

Có thể nói rằng, 60 năm, 11 khoá, Quốc hội nước ta ngày càng phát huy được vai trò là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Các hoạt động của Quốc hội trên cả ba lĩnh vực: lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước ngày càng có hiệu lực và hiệu quả. Với những kết quả đã đạt được, Quốc hội đã ngày càng chiếm được lòng tin của nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế.

 Trong điều kiện Quốc hội hoạt động theo kỳ họp, các đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm là chủ yếu thì một trong những giải pháp quan trọng góp phần đổi mới Quốc hội là khả năng và năng lực của bộ máy giúp việc cho Quốc hội và các đại biểu Quốc hội. Việc tăng cường năng lực và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy giúp việc cho đại biểu Quốc hội là điều hết sức quan trọng để có thể tham mưu, hỗ trợ các đại biểu Quốc hội và các cơ quan  của Quốc hội trong việc thực thi các nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

 

I. KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA  VĂN PHÒNG QUỐC HỘI

Cùng với sự lớn mạnh của Quốc hội, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tham mưu phục vụ ngày càng lớn mạnh về mọi mặt; trải qua nhiều thời kỳ, Văn phòng Quốc hội cũng đã nhiều lần thay đổi tên gọi:

-                  Giai đoạn 1946 – 1960: Văn phòng Ban thường trực Quốc hội;

-                  Giai đoạn 1960 – 1980: Văn phòng Uỷ ban thường vụ Quốc hội, được tổ chức theo Quyết định số 87NQ/TVQH ngày 16/1/1962 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

-                  Giai đoạn 1981 – 1992: Văn phòng Quốc hội và Hội đồng nhà nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị quyết số 01/HĐNN7 ngày 6/7/1981 của Hội đồng nhà nước;

-                  Giai đoạn 1992 đến 2003: Văn phòng Quốc hội được tổ chức và hoạt động theo Nghị quyết số 02/NQ-UBTVQH9 ngày 17 tháng 10 năm 1992.

Hiện nay, theo Nghị quyết số 417/2003/UBTVQH11, Văn phòng Quốc hội có chức năng là cơ quan giúp việc của Quốc hội, có chức năng nghiên cứu, tham mưu tổng hợp và tổ chức phục vụ các hoạt động của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội; các hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Chức năng nói trên của Văn phòng Quốc hội được cụ thể hoá thành các nhiệm vụ cụ thể như sau:

1. Phục vụ Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội trong công tác xây dựng pháp luật; phối hợp phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

2. Phục vụ Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản và ban hành những nghị quyết, quyết định về kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước, công trình quan trọng quốc gia, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, về tổ chức và nhân sự nhà nước thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

3. Phục vụ Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phục vụ hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội.

4. Phối hợp phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp.

5. Phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội; công bố việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

6. Phục vụ công tác đối ngoại của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội, của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội và các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

7. Phối hợp thực hiện việc tiếp dân, tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và đề đạt nguyện vọng của công dân; phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến Quốc hội.

8. Nghiên cứu, phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, điều hoà, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; bảo đảm điều kiện hoạt động của các đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội nghiên cứu và tổ chức thực hiện chế độ, chính sách đối với đại biểu Quốc hội; giúp Chủ tịch Quốc hội giữ mối liên hệ với các đại biểu Quốc hội.

9. Phục vụ hoạt động của Chủ tịch Quốc hội và các Phó Chủ tịch Quốc hội, các Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc điều hành công việc chung của Quốc hội, bảo đảm việc thực hiện Nội quy kỳ họp Quốc hội, các Quy chế hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội.

10. Đề xuất cải tiến chế độ làm việc của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và của đại biểu Quốc hội chuyên trách theo sự chỉ đạo của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

11. Phối hợp phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định biên chế và quy định chính sách, chế độ đối với Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Văn phòng Quốc hội.

12. Xây dựng dự kiến chương trình và tổ chức phục vụ các kỳ họp Quốc hội, các phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các cuộc làm việc khác của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các cuộc họp của Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các cuộc làm việc của đại biểu Quốc hội chuyên trách; dự kiến và giúp tổ chức thực hiện chương trình công tác của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội và các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

13. Chuẩn bị các dự án, đề án, báo cáo do Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội và các Phó Chủ tịch Quốc hội giao; chuẩn bị các báo cáo công tác của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội và các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. 

14. Đôn đốc việc chuẩn bị và bảo đảm thủ tục trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội các dự án, đề án, báo cáo, tờ trình của các cơ quan và tổ chức hữu quan.

15. Tổ chức và quản lý công tác thông tin, tin học, nghiên cứu khoa học, báo chí, xuất bản, thư viện của Quốc hội.

16. Giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc giữ mối quan hệ với Chủ tịch nước, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức hữu quan.

17. Phục vụ Chủ tịch Quốc hội chỉ đạo và tổ chức thực hiện kinh phí hoạt động của Quốc hội. Tổ chức và quản lý công tác đảm bảo cơ sở vật chất - kỹ thuật của Quốc hội, quản lý tài sản của Quốc hội; tổ chức công tác hành chính, văn thư, in ấn, lưu trữ, bảo vệ và lễ tân của cơ quan.

Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ nói trên và phù hợp với cơ cấu tổ chức của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội gồm có ba loại đơn vị như sau:

a) Các vụ trực tiếp giúp việc Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội.

b) Các vụ trực tiếp giúp việc 3 Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

c) Các vụ, đơn vị phục vụ chung.

Chức năng, nhiệm vụ của các vụ trực tiếp giúp việc Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban và các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội do Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực các Uỷ ban của Quốc hội, Trưởng các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội phối hợp với Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội quy định. Các vụ này do Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực các Uỷ ban của Quốc hội và lãnh đạo các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trực tiếp chỉ đạo các mặt công tác chuyên môn, nghiệp vụ.

Chức năng, nhiệm vụ của các vụ, đơn vị phục vụ chung do Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội quy định.

Về công tác chỉ đạo, điều hành, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội là người đứng đầu Văn phòng Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội về công tác của Văn phòng Quốc hội. Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực các Uỷ ban của Quốc hội và Trưởng các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội chịu trách nhiệm trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội về công tác của Văn phòng Quốc hội đối với những vấn đề có liên quan. Các Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội giúp Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội thực hiện nhiệm vụ theo phân công của Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.

  

II.  THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG QUỐC HỘI

 Triển khai thực hiện Nghị quyết số 417/2003/UBTV11, Văn phòng Quốc hội đã tích cực triển khai các mặt hoạt động của mình để góp phần thực hiện thành công các chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội.

 Phục vụ công tác xây dựng pháp luật

Có thể nói rằng, trong thời gian qua, công tác xây dựng pháp luật có chuyển biến tích cực, cả về số lượng lẫn chất lượng, cả về nội dung luật lẫn kỹ thuật văn bản. Do có cải tiến quy trình xây dựng pháp luật và sự phối hợp giữa các cơ quan tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật nên số lượng và chất lượng luật thông qua được nâng lên, thời gian được rút ngắn so với dự kiến. Đây là kết quả rất quan trọng, tạo cơ sở cho việc đẩy nhanh tiến độ làm luật của Quốc hội. Góp phần vào thành công chung của hoạt động xây dựng pháp luật của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội đã tập trung thời gian, công sức, trí tuệ phục vụ từ việc xây dựng chương trình, phân công cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra, chuẩn bị dự thảo các vấn đề và biện pháp bảo đảm triển khai thực hiện theo tiến độ đề ra, đến việc phục vụ thẩm tra, cho ý kiến, xem xét, thông qua và hoàn chỉnh văn bản cuối cùng.

Với tinh thần chủ động, sáng tạo, các vụ, đơn vị trong Văn phòng Quốc hội đã phối hợp chặt chẽ với nhau, với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc phục vụ tốt các Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách tiến hành thảo luận, góp ý kiến, hoàn chỉnh dự án luật trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua; tổ chức các cuộc khảo sát, lấy ý kiến của nhân dân, các ngành, các cấp về một số dự án luật và đề xuất hướng tiếp thu xử lý. Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI, tính đến tháng 12 năm 2005, Văn phòng Quốc hội đã góp phần phục vụ 8 kỳ họp Quốc hội để xem xét, thông qua 58 luật và bộ luật, trong đó có những dự án luật, bộ luật lớn như Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật dân sự, Luật đất đai. Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua 29 pháp lệnh và nghị quyết có nội dung quy phạm pháp luật.

 Phục vụ công tác giám sát

Hoạt động giám sát là chức năng quan trọng, cơ bản của Quốc hội được pháp luật quy định. Nhận thức sâu sắc về vai trò của công tác giám sát trong hoạt động của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội đã tổ chức phục vụ xây dựng và trình Quốc hội thông qua Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 8 năm 2003. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Quốc hội thực hiện chức năng giám sát của mình một cách đầy đủ và có hiệu lực hơn. Trong bước đầu triển khai thực hiện Luật này, Văn phòng đã có nhiều cố gắng đổi mới công tác phục vụ hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội; tổ chức Hội nghị triển khai Luật hoạt động giám sát; phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến và phục vụ Quốc hội thông qua các Nghị quyết về chương trình hoạt động giám sát, tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan của Quốc hội tiến hành các hoạt động giám sát một cách tích cực, chủ động hơn. Đồng thời Văn phòng Quốc hội còn tổ chức nghiên cứu, kiến nghị với Uỷ ban thường vụ Quốc hội tăng cường hơn nữa công tác chỉ đạo, điều hoà, phối hợp hoạt động giám sát và các biện pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trên lĩnh vực này.

Văn phòng đã nghiên cứu và phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Chính phủ, các bộ, các ngành liên quan trong việc phục vụ thực hiện quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội đối với các Bộ trưởng và người đứng đầu cơ quan Nhà nước tại các kỳ họp Quốc hội. Kết quả hoạt động chất vấn được các đại biểu Quốc hội và đông đảo cử tri cả nước quan tâm, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn.

Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, Văn phòng đã cố gắng tổ chức phục vụ một số lượng lớn các đoàn giám sát tại các bộ, ngành và một số địa phương trong cả nước trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, dân tộc, miền núi và đối ngoại...

  Phục vụ việc quyết định các vấn đề quan trọng

Văn phòng Quốc hội đã phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc phân bổ ngân sách nhà nước hàng năm; quyết định việc sử dụng các khoản thu ngân sách; việc sử dụng kinh phí dự phòng, phân bổ các khoản chi chưa phân bổ trong dự toán chi ngân sách nhà nước do Chính phủ trình. Đặc biệt, tại kỳ họp thứ tư của Quốc hội khóa XI vừa qua, đã phục vụ có hiệu quả việc Quốc hội xem xét, quyết định nhiệm vụ năm 2004, dự toán ngân sách nhà nước năm 2004 và phân bổ ngân sách trung ương, mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đồng thời, đã tích cực, chủ động nghiên cứu, tổ chức phục vụ Quốc hội xem xét, quyết định những chương trình mục tiêu quốc gia, các công trình quan trọng quốc gia; xem xét việc phân chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh; cho ý kiến về đề án cải cách tiền lương, một số chính sách thuế, vấn đề cải cách giáo dục, cải cách công tác tư pháp và nhiều vấn đề quan trọng khác...

 Phục vụ công tác dân nguyện

Văn phòng đã phối hợp với các cơ quan chức năng tập trung xử lý, giải quyết kịp thời những vụ việc nhạy cảm liên quan đến đất đai, nhà cửa, các trường hợp khiếu kiện đông người, phức tạp, kéo dài; đề xuất và phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát việc giải quyết khiếu nại tồn; đã phối hợp chặt chẽ với các Đoàn đại biểu Quốc hội và các cơ quan hữu quan tổng hợp các ý kiến, kiến nghị của cử tri làm tài liệu để các đại biểu Quốc hội nghiên cứu, tham khảo; đôn đốc theo dõi việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri, của các bộ, ngành; phục vụ tốt việc giám sát thực hiện lời hứa trước cử tri của những người đứng đầu các cơ quan Nhà nước. Chỉ riêng trong năm 2003, Văn phòng Quốc hội đã tiếp 1.503 lượt công dân, tiếp nhận, phân loại 17.163 đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân về nhiều lĩnh vực. Các vụ, đơn vị hữu quan đã nghiên cứu, đề xuất ý kiến trả lời các đơn thư gửi đến đồng chí Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Quốc hội, các thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội.

 Phục vụ hoạt động đối ngoại của Quốc hội

Về lĩnh vực này, thời gian qua, Văn phòng đã phục vụ đón tiếp hàng chục đoàn đại biểu Quốc hội và tổ chức quốc tế từ nhiều quốc gia trên thế giới đến thăm, làm việc với Quốc hội nước ta, trong đó có nhiều đoàn cấp Chủ tịch Quốc hội. Văn phòng Quốc hội đã phối hợp chặt chẽ với Ban đối ngoại Trung ương Đảng, Bộ Ngoại giao, Bộ Công An và các cơ quan hữu quan tổ chức tốt nhiều cuộc tiếp đón các Nghị sĩ của các nước sang thăm, làm việc, tìm hiểu đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước ta.

Văn phòng Quốc hội cũng đã trực tiếp thực hiện và phối hợp tổ chức nhiều đoàn đại biểu Quốc hội đi thăm và làm việc tại các nước; các đoàn đi dự hội nghị quốc tế của các tổ chức liên Nghị viện khu vực và thế giới. Các Vụ phục vụ trực tiếp Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban cũng đã nghiên cứu, tham mưu và tổ chức phục vụ tốt các đoàn công tác của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban đi nghiên cứu, khảo sát, tham dự hội nghị, hội thảo  quốc tế ở trong nước hoặc nước ngoài. Dưới sự chỉ đạo của thường trực Uỷ ban đối ngoại và lãnh đạo Văn phòng Quốc hội, sự phối hợp giữa các vụ, đơn vị trong Văn phòng và các cơ quan, ban ngành hữu quan, các khâu từ tổ chức, lễ tân, an ninh, hậu cần đến tuyên truyền báo chí được thực hiện ngày càng chặt chẽ, chu đáo.

 Công tác tham mưu, phục vụ điều hành

Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, Văn phòng Quốc hội đã nỗ lực phấn đấu để ngày càng nâng cao hiệu quả chất lượng công tác của mình. Các vụ, đơn vị trong Văn phòng đã làm tốt nhiệm vụ phục vụ việc chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Quốc hội, các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các cuộc họp của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các Ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; chủ động nghiên cứu, xây dựng sớm dự kiến chương trình; quy định tiến độ thực hiện và phân công, phân nhiệm cụ thể nhằm theo dõi, chỉ đạo, phục vụ chuẩn bị từng nội dung; phục vụ việc xử lý các tình huống đột xuất và công việc điều hành thường xuyên. Các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ luôn đi sâu nghiên cứu để nâng cao chất lượng, kỹ năng biên tập các văn bản.

Văn phòng Quốc hội đã chú ý nghiên cứu, đề xuất một số ý kiến về cải tiến cách thức tổ chức và tiến hành kỳ họp Quốc hội, phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội, góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động này.

 Tổ chức công tác thông tin, báo chí và nghiên cứu khoa học 

Văn phòng Quốc hội đã thực hiện tốt dịch vụ thông tin cho các đại biểu Quốc hội; tiến hành thường xuyên việc đưa tin và cập nhật cơ sở dữ liệu luật, thông tin điện tử, các bản tin lên mạng nội bộ phục vụ nhu cầu thông tin của các đối tượng nghiên cứu. Cung cấp thông tin về hoạt động của Quốc hội lên trang điện tử của Quốc hội trên mạng Internet; xuất bản đĩa CD-Rom về cơ sở dữ liệu luật cung cấp cho các đại biểu Quốc hội, các vụ, đơn vị trong Văn phòng  và góp phần tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong nhân dân; đã tổ chức việc ghi âm và lưu trữ các văn bản liên quan đến các kỳ họp của Quốc hội, các hội nghị đại biểu chuyên trách, các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tổ chức, phối hợp triển khai nhiều hội thảo chuyên đề, các cuộc nghiên cứu dư luận xã hội phục vụ hoạt động của Quốc hội; triển khai các dịch vụ nghiên cứu theo yêu cầu của đại biểu Quốc hội. Hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ đại biểu Quốc hội cũng đã có những bước phát triển đáng ghi nhận. Điều này xuất phát từ thực tế hoạt động của Quốc hội. Không chỉ gói gọn trong hai kỳ họp mà trong suốt cả năm, số lượng tài liệu là các dự án luật và các vấn đề khác gửi đến đại biểu Quốc hội ngày càng lớn với nội dung các vấn đề ngày càng phong phú, phức tạp, đa dạng và về những vấn đề đòi hỏi trình độ chuyên sâu. Để có thể tham gia đóng góp ý kiến và đưa ra các quyết định chính xác, kịp thời ngoài bề dày kinh nghiệm và chuyên môn của mình, các đại biểu Quốc hội cần phải được cung cấp thông tin, tư vấn hỗ trợ của các chuyên viên nghiên cứu. Điều này thực sự hữu ích đối với các đại biểu Quốc hội nhất là trong điều kiện hiện nay, phần lớn các đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm nên quỹ thời gian hoạt động của đại biểu là có hạn.

Nhằm mục đích cung cấp thông tin về hoạt động của Quốc hội cho cử tri cả nước, Văn phòng Quốc hội đã tổ chức Trung tâm báo chí kỳ họp với sự có mặt của hàng trăm nhà báo trong và ngoài nước.

Giữa hai kỳ họp Quốc hội, báo Người đại biểu nhân dân là diễn đàn để đại biểu Quốc hội nắm bắt thông tin về hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Tạp chí Nghiên cứu lập pháp là diễn đàn để các đại biểu Quốc hội, các chuyên gia, các nhà hoạt động thực tiễn trao đổi về những vấn đề mang tính chuyên sâu về các dự án Luật.

 

III. TIẾP TỤC ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG QUỐC HỘI

Những kết quả mà Văn phòng Quốc hội đã đạt được trong thời gian qua là rất đáng trân trọng và được sự đánh giá cao của lãnh đạo Quốc hội và các cơ quan, tổ chức hữu quan. Tuy vậy, so với yêu cầu và nhiệm vụ đề ra đối với Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, cần nhận thấy rằng, vẫn còn những hạn chế, khiếm khuyết nhất định trong tổ chức và hoạt động của Văn phòng Quốc hội. Nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh quá trình công trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi hoạt động tham mưu, giúp việc của Văn phòng Quốc hội phải được tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hơn nữa.

Nhằm góp phần tiếp tục đổi mới hoạt động của Quốc hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi hoạt động tham mưu, giúp việc  của Văn phòng Quốc hội phải được tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hơn nữa.

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về chức năng tham mưu, giúp việc của Văn phòng Quốc hội.

Có thể thấy rằng, xung quanh khái niệm bộ máy giúp việc cho các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội còn có những vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau cần được nghiên cứu trao đổi.

Trước đây, trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng như trong khoa học pháp lý, chưa có quan niệm rõ ràng về bộ máy giúp việc cho Quốc hội. Có ý kiến cho rằng, bộ máy giúp việc cho đại biểu Quốc hội là Văn phòng Quốc hội và không bao gồm Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội vì trước nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI chưa có mô hình cơ quan giúp việc cho các đại biểu Quốc hội ở địa phương vì Văn phòng Đoàn đại biểu mới được hình thành từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI và đang trong quá trình hoàn thiện cả về tổ chức bộ máy lẫn chức năng, nhiệm vụ. Ý kiến khác lại cho rằng, bộ máy giúp việc của Quốc hội trong nhiệm kỳ XI này không chỉ là Văn phòng Quốc hội mà còn cả Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội vì Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội cũng phục vụ các đại biểu Quốc hội cả trong kỳ họp và giữa hai kỳ họp Quốc hội.

Gần đây, khái niệm bộ máy giúp việc cho đại biểu Quốc hội được làm rõ hơn sau khi Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá XI ban hành Nghị quyết số 416 ngày 25 tháng 9 năm 2003 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội. Theo Nghị quyết nói trên, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội là cơ quan giúp việc của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội1]. Tiếp theo đó, ngày 1 tháng 10 năm 2003, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 417/2003/NQ - UBTVQH 11 về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, cơ cấu của Văn phòng Quốc hội. Như vậy, Văn phòng Quốc hội và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội đều có chức năng là tham mưu và tổ chức phục vụ các hoạt động của đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Như vậy, trong hai văn bản này, khái niệm “giúp việc” đều được hiểu là tổ chức phục vụ và nghiên cứu, tham mưu tổng hợp.

 Bên cạnh đó, khái niệm “giúp việc” cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Có quan niệm cho rằng giúp việc là tổ chức các điều kiện về mặt hậu cần, hành chính cho các đại biểu hoạt động, cụ thể như công tác công văn, giấy tờ, đi lại, ăn nghỉ trong khi làm nhiệm vụ đại biểu ...Quan điểm khác lại cho rằng giúp việc bao hàm cả công tác tham mưu, tư vấn, cung cấp thông tin cho đại biểu. Và đây mới chính là chức năng quan trọng của bộ máy giúp việc cho đại biểu Quốc hội.

Về mặt lý luận mà nói, đại biểu Quốc hội là chính khách, tức là người quyết định chính sách ở tầm vĩ mô. Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Để có thể làm tròn nhiệm vụ của mình đại biểu Quốc hội cần phải có sự hỗ trợ tham mưu của bộ máy giúp việc.

Từ đó cần phải hiểu khái niệm giúp việc bao hàm cả hai nội dung nói trên. Đây là hai nội dung có sự gắn kết chặt chẽ với nhau trong hoạt động phục vụ đại biểu Quốc hội. Công tác hành chính, hậu cần là cần thiết để đảm bảo điều kiện về cơ sở, vật chất cho đại biểu Quốc hội thực hiện nhiệm vụ của mình. Cần quan tâm hơn nữa đến công tác tham mưu, tổng hợp, tổ chức dịch vụ nghiên cứu để hỗ trợ đại biểu Quốc hội thực hiện tốt chức năng của mình, nhất là trong điều kiện đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm là chủ yếu như ở nước ta. Đồng thời, cần đẩy mạnh hơn nữa sự phối hợp công tác giữa Văn phòng Quốc hội với các Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội trong việc triển khai các mặt hoạt động phục vụ Quốc hội và các đại biểu Quốc hội; tăng cường trao đổi thông tin, kinh nghiệm và kỹ năng tổ chức công tác tham mưu giúp việc; tiếp tục bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ của các cán bộ Văn phòng đoàn đại biểu Quốc hội.

Thứ hai, tổ chức có hiệu quả công tác tham mưu, phục vụ các mặt hoạt động của Quốc hội theo các định hướng cơ bản sau:

-  Đối với việc tham mưu, giúp Quốc hội tại kỳ họp thì công tác chuẩn bị trước kỳ họp phải được tiến hành tốt, cố gắng bám sát vào nội dung chương trình hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước tại mỗi kỳ họp; chủ động, tích cực sưu tầm, cập nhật tài liệu; chú trọng những thông tin thích hợp về những vấn đề mà Quốc hội quan tâm; chuẩn bị tốt công tác tổ chức và nhân lực phục vụ kỳ họp Quốc hội; ứng dụng công nghệ thông tin trong việc khai thác, tìm kiếm thông tin và trả lời yêu cầu cung cấp thông tin của đại biểu Quốc hội. 

-  Có cơ chế để tuyển chọn các công chức có năng lực chuyên môn giỏi và phẩm chất đạo đức tốt vào làm việc trong bộ máy giúp việc cho đại biểu Quốc hội. Thường xuyên có kế hoạch để đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và các kỹ năng nghề nghiệp cho cán bộ, công chức.

- Tổ chức các đoàn đi học tập, nghiên cứu mô hình tổ chức và hoạt động của Văn phòng Quốc hội của các nước trên thế giới.

- Để tiếp tục nâng cao năng lực giúp việc cho các đại biểu Quốc hội, Văn phòng Quốc hội cần tăng cường mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa bốn Văn phòng trung ương giúp việc các cơ quan Đảng, Chủ tịch nước, Chính phủ và Quốc hội; giữa Văn phòng Quốc hội với các Bộ, ngành và chính quyền địa phương. Điều này tạo điều kiện cho công tác tham mưu, giúp việc đạt hiệu quả, kịp thời và sát thực hơn;

-  Bên cạnh việc tiếp tục nâng cao năng lực nội tại của Văn phòng Quốc hội, từng bước tạo lập các quan hệ hợp tác chuyên môn với các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và các chuyên gia  ở các ngành và lĩnh vực để huy động được nguồn tri thức và kinh nghiệm quý báu này phục vụ cho hoạt động của đại biểu Quốc hội đạt hiệu quả cao. Nghiên cứu, áp dụng cơ chế đại biểu Quốc hội được cho việc thuê chuyên gia tham mưu, tư vấn về những vấn đề mà mình quan tâm.

- Tiến hành phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa các vụ, đơn vị trong Văn phòng Quốc hội trên cơ sở đề cao trách nhiệm cá nhân, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo. Đồng thời, hoạt động của Văn phòng Quốc hội   hướng đến tính hiệu quả; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Thứ ba, từng bước hoàn thiện bộ máy giúp việc - bộ máy Văn phòng theo sự hoàn thiện bộ máy của Quốc hội.

- Không nhất thiết mỗi Uỷ ban hay Hội đồng chỉ  có một vụ giúp việc. Công việc của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội những năm gần đây khối lượng tăng gấp ba lần, nhiều Uỷ ban từ lâu công việc đã quá tải, dẫn đến công tác phục vụ cũng quá tải. Vì vậy rất có thể một số Uỷ ban nếu chia tách, thành lập mới thì vụ (đơn vị) phục vụ phải chia tách để thuận tiện cho việc phục vụ và cho việc điều hành. Cũng có thể thành lập mới một số vụ, đơn vị trên cơ sở nhiệm vụ đã được xác định mà chưa có đơn vị đảm nhiệm.

- Tăng cường tiềm lực cho các đơn vị phục vụ trực tiếp về chuyên môn, nghiệp vụ, tinh giản gọn nhẹ các đơn vị phục vụ chung.

- Bố trí lại công việc của một số chức danh. Ví dụ, công việc của Chủ nhiệm Văn phòng hiện nay có thể nghiên cứu tách làm hai phần, một phần trực tiếp tham mưu phục vụ cho Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan Quốc hội thì giao cho Tổng thư ký của Quốc hội; một phần phục vụ về cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân sự, điều kiện làm việc... thì giao cho Chủ nhiệm Văn phòng. Như thế sẽ phù hợp với tính chất công việc và thuận tiện trong việc bố trí, sử dụng nhân lực hơn.

- Củng cố, tăng cường các Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội địa phương theo hướng nâng cao chất lượng tham mưu phục vụ chuyên môn nghiệp vụ, mà trước hết phải nâng cao năng lực cán bộ tham mưu.

Thứ tư, cải tiến và tăng cường cơ sở vật chất-kỹ thuật cho công tác tham mưu, phục vụ.

- Từng bước “điện tử hoá” công tác tham mưu phục vụ, thực hiện tốt chương trình công nghệ thông tin, hoàn thiện mạng nội bộ kết nối từ Văn phòng Quốc hội tới Văn phòng các Đoàn đại biểu Quốc hội. Nối mạng với các cơ quan, hữu quan để xử ký thông tin kịp thời.

- Xây dựng và mở rộng nơi làm việc đồng thời trang bị các phương tiện làm việc tiên tiến hơn, tổ chức lao động khoa học nơi công sở.

- Nghiên cứu tập trung nơi làm việc để bớt đầu mối, giảm bớt thời gian đi lại và điều này cũng thuận lợi cho việc điều hành và quản lý của Văn phòng Quốc hội.

 


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1-           Luật tổ chức Quốc hội năm 2002.

2-           Nghị quyết số 87 của Thường vụ Quốc hội ngày 16 tháng 01 năm 1962 về Văn phòng Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

3-           Nghị quyết số 01 của Hội đồng Nhà nước ngày 6 tháng 7 năm 1981 về Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước.

4-           Nghị quyết số 02 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 9 về tổ chức và nhiệm vụ của Văn phòng Quốc hội.

5-           Thông báo số 340/UBTVQH10 ngày 30 tháng 10 năm 2001 về kết luận của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về việc thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-UBTVQH9.

6-           Nghị quyết số 08/2002/QH11 ban hành Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội.

7-           Nghị quyết số 417/2003/NQ-UBTVQH11 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội.

8-           Nghị quyết số 416/2003/NQ-UBTVQH11 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội.

9-           Nghị định số 133/2004/NĐ-CP về việc thành lập Văn phòng Hội đồng nhân ở các tỉnh, thành phố trực thuộc TW.

10-       Công văn số 134 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 11 ngày 24 tháng 9 năm 2003 về việc thành lập Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội ở các tỉnh, thành phố trực thuộc TW.

11-       Công văn số 253 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội 11 ngày 20 tháng 7 năm 2004 về việc thành lập Văn phòng chung của Hội đồng nhân dân và Đoàn đại biểu Quốc hội.

12-       Tài liệu Hội thảo: “Tăng cường hiệu quả hoạt động của Văn phòng phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội” tại thành phố Huế ngày 14 –15 tháng 7 năm 2004.

13-       Văn phòng Quốc hội - Kỷ yếu Hội nghị: Công tác Văn phòng phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội  – Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2003.


[1] Điều 1, Nghị quyết số 416/NQ-UBTV11 ngày 25 tháng 9 năm 2003

   

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện