|
THỰC QUYỀN CỦA QUỐC HỘI
TRONG QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ - TÀI CHÍNH
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
PGS.TS. Đặng Văn Thanh
Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội
Trong tiến trình đổi mới của đất nước, cùng với việc tăng cường công tác
lập pháp, Quốc hội đã chú trọng và chủ động hơn
trong việc xem xét, quyết định các vấn đề quan
trọng của đất nước, trong đó có vấn đề kinh tế-tài
chính. Quốc hội ngày càng thể hiện rõ là cơ quan
có quyền lập hiến, lập pháp và quyết định những
chính sách cơ bản của đất nước. Đồng thời, Quốc
hội cũng là cơ quan thực hiện quyền giám sát tối
cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Quốc
hội đã tiến hành giám sát khá toàn diện việc thực
hiện đường lối, chính sách của Đảng được thể chế
hóa trong các Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc
hội về nhiệm vụ kinh tế-xã hội, nhiệm vụ tài
chính, tình hình chấp hành ngân sách Nhà nước,
tình hình thực hiện chính sách tài khóa. Những
nhiệm vụ kinh tế xã hội, những vấn đề tài chính,
nhiệm vụ ngân sách Nhà nước được Quốc hội quyết
định và thực hiện giám sát đã góp phần nâng cao
chất lượng, hiệu quả và hiệu lực hoạt động của
Quốc hội, góp phần tích cực vào việc kiện toàn bộ
máy Nhà nước, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ
quan Quốc hội với các cơ quan hành pháp và tư
pháp, nhất là trong việc thảo luận, tìm biện pháp
giải quyết các vấn đề bức xúc về kinh tế xã hội,
những vấn đề tài chính, tiền tệ của đất nước.
Những việc đã làm và kết quả đạt được
Một là,
Nội dung những vấn đề kinh tế, tài chính trình ra
Quốc hội thảo luận và quyết định khá toàn diện, từ
những vấn đề mang tính vĩ mô của nền kinh tế như
tốc độ và chất lượng tăng trưởng, cơ cấu kinh tế
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các cân đối kinh tế
tài chính, cho đến các vấn đề cụ thể như dự toán
thu chi ngân sách từng ngành, từng địa phương. Các
báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện kế
hoạch năm trước và kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội hàng năm được chuẩn bị khá chi tiết và gửi
đến đại biểu Quốc hội trước kỳ họp. Trong kỳ họp,
Thủ tướng hoặc Phó thủ tướng Chính phủ thay mặt
Chính phủ trình bày những vấn đề chủ yếu và những
giải pháp cơ bản để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
kinh tế xã hội, nhiệm vụ ngân sách nhà nứơc. Các
báo cáo không chỉ bằng lời mà kèm theo nhiều biểu,
bảng số liệu vừa tổng hợp vừa chi tiết làm căn cứ
để đại biểu Quốc hội thảo luận.
Hai là,
Công việc thẩm tra các báo cáo kinh tế- xã hội,
báo cáo ngân sách nhà nước đã được tiến hành rất
thận trọng, chu đáo, theo quy trình đổi mới và
ngày càng có chất lượng. Uỷ ban Kinh tế và Ngân
sách với tư cách là cơ quan thẩm tra của Quốc hội
đã tổ chức nghiên cứu kỹ các báo cáo của Chính
phủ, tiến hành các cuộc giám sát qua báo cáo, trên
thực tế; tổ chức sưu tầm, thu thập và đánh giá
thông tin kinh tế- xã hội, thông tin kinh tế, tài
chính; tổ chức các phiên họp toàn thể Uỷ ban với
sự tham gia của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của
Quốc hội, các Bộ, Ban ngành để thẩm tra báo cáo
của Chính phủ, nghe báo cáo chuyên đề.... để đưa
ra những nhận định, những đánh giá. Báo cáo thẩm
tra của Uỷ ban kinh tế và Ngân sách được chuẩn bị
cô đọng, xúc tích, không nhắc lại những vấn đề đã
được nêu trong báo cáo của Chính phủ, mà trình bày
những vấn đề cốt lõi, phân tích và mổ sẻ thực
trạng, nguyên nhân và nêu lên những giải pháp,
những nhóm giải pháp mang tính đột phá, thiết
thực. Các báo cáo thẩm tra về tình hình kinh tế-
xã hội, tình hình thực hiện nhiệm vụ ngân sách, về
dự toán ngân sách cũng như phương án phân bổ ngân
sách trong những năm qua đã được đánh giá có chất
lượng, thẳng thắn, sâu sắc, là căn cứ quan trọng
mang tích gợi mở để Quốc hội thảo luận. Nhiều ý
kiến do cơ quan thẩm tra đưa ra đã được Chính phủ
tiếp thu, được Quốc hội và các cơ quan chức năng
đánh giá cao đưa vào nghị quyết của Quốc hội.
Ba là,
Các phiên thảo luận của Quốc hội được tiến hành
công khai, thông tin trực tiếp đến cử tri cả nước.
Các ý kiến của đại biểu Quốc hội vừa mang tính
đánh giá, nhận định, vừa là sự mổ xẻ thực trạng,
nguyên nhân của tình hình; đồng thời cũng đưa ra
không ít các kiến nghị, các giải pháp rất cụ thể,
rất thiết thực. Trong nhiệm kỳ Quốc hội XI, lần
đầu tiên mọi vấn đề thu, chi ngân sách nhà nước,
thu chi ngân sách của từng ngành, từng tỉnh, từng
thành phố được đặt lên bàn nghị sự, được đặt công
khai trước mỗi đại biểu Quốc hội, trước cử tri cả
nước để cùng bàn bạc, trao đổi. Đây là bước tiến
quan trọng trong tiến trình đảm bảo thực quyền của
Quốc hội trong các quyết định về kinh tế, tài
chính và ngân sách.
Những tồn tại và vướng mắc
Bên cạnh những việc đã làm và đã làm được, làm có
kết quả, cũng cần phải thấy, trong thực hiện nhiệm
vụ quyết định các vấn đề tài chính nhà nước
vẫn còn nhiều khó khăn.
Trước hết,
nhiều vấn đề kinh tế- tài chính mang tầm chiến
lược, vĩ mô chưa được thảo luận một cách đầy đủ và
thật thấu đáo như quan điểm về tăng trưởng, trong
một chiến lược dài hạn, các giải pháp cho phát
triển kinh tế vùng ngành động lực; các cân đối vĩ
mô như cân đối tích luỹ- tiêu dùng, cân đối thu
chi ngân sách, cân đối xuất - nhập khẩu, cán cân
thương mại, cán cân thanh toán trong nước và quốc
tế, vay nợ và trả nợ, bội chi ngân sách và nguồn
bù đắp bội chi... Thực ra, những vấn đề trên có
được đưa ra bàn thảo tại các kỳ họp của Quốc hội,
nhưng ý kiến thảo luận chưa nhiều và chưa thật sự
sâu sắc và hầu như chưa có những quyết sách cần
thiết của Quốc hội. Một số vấn đề hầu như chưa
được đưa ra và thiếu những thảo luận cần thiết như
lạm phát, khối lượng tiền trong lưu thông, chính
sách lãi suất, tỷ giá, an ninh tài chính, tiền tệ
quốc gia...
Thứ hai,
Quốc hội chưa thực hiện đầy đủ quyền quyết định
phân bổ ngân sách như Hiến pháp qui định. Chất
lượng quyết định dự toán ngân sách nhà nước và
quyết toán ngân sách nhà nước chưa cao, ít
nhiều còn mang tính hình thức, chưa thoả mãn và
chưa đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của nhân dân,
của cử tri trong cả nước.
Thứ ba,
Hoạt động giám sát của Quốc hội còn hạn
chế, hiệu quả chưa cao, hậu quả pháp lý của hoạt
động giám sát còn thấp.
Những giải pháp đảm bảo thực quyền của Quốc hội
Yêu cầu của đất nước đang đòi hỏi phải có sự đổi
mới cả về nhận thức, nội dung, cả về phương pháp
và điều kiện để các quyết định của Quốc hội
về kinh tế- tài chính, về ngân sách và chính
sách tài khoá thực chất hơn. Hoạt động
giám sát về tình hình kinh tế- xã hội, về hoạt
động tài chính phải có tác dụng thiết thực, có
hiệu quả, góp phần đổi mới và nâng cao hơn nữa
chất lượng hoạt động của Quốc hội, để Quốc hội
xứng đáng là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
dân, cơ quan quyền lực cao nhất của Nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đáp ứng lòng mong mỏi
của nhân dân cả nước, vì một nước Việt Nam giàu
mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh...
Để Quốc hội có thực quyền và nâng cao chất lượng
các quyết định liên quan đến hoạt động kinh tế-tài
chính cần có nhận thức đầy đủ và đúng mức về hoạt
động kinh tế- tài chính, đặc biệt là tài chính-
ngân sách, sức mạnh, và nguồn lực của quốc gia và
là công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Kinh tế phải tăng trưởng nhanh, bền vững. Tài
chính không chỉ có nhiệm vụ nuôi dưỡng, phát
triển, khai thác các nguồn lực, thúc đẩy, duy trì
và tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập, mà còn
phải quản lý, phân phối và sử dụng có hiệu
quả mọi nguồn lực, mọi tiềm năng của đất nước.
Trong nền kinh tế thị trường, chức năng phân phối
thu thập của tài chính ngày càng được coi trọng.
Phân phối nguồn lực và thu nhập tài chính có chủ
định, có căn cứ, phù hợp mục tiêu của chiến lược
phát triển kinh tế-xã hội sẽ là yếu tố quyết định
cho phát triển kinh tế bền vững. Chính phủ cần và
có thể phải sử dụng chính sách tài chính, chính
sách ngân sách, chính sách tài khóa để điều tiết
kinh tế vĩ mô; phát huy chức năng ổn định kinh tế
của tài chính. Trong phạm vi và điều kiện ngân
sách còn hạn hẹp, nhu cầu chi tiêu cho kinh tế- xã
hội ngày càng lớn, việc thực hiện chính sách
ngân sách thắt chặt hay nới lỏng đều đòi hỏi
phải có sự cân nhắc và quyết định rất thông minh,
chính xác, nhưng linh hoạt phù hợp từng giai đoạn
phát triển kinh tế . Chính sách ngân sách thắt
chặt đòi hỏi phải hạn chế bội chi, tiến tới
cân bằng ngân sách, nhưng sẽ chịu áp lực chi ngân
sách quá lớn như hiện nay. Thực hiện chính sách
tài chính nới lỏng cho phép thoả mãn nhu cầu
chi tiêu bằng vay nợ (phát hành trái phiếu, công
trái,...) mà lãi suất tiền vay sẽ phải trả bằng
chính tiền thu thuế, phí và lệ phí trong tương
lai. Số có thể vay trong nền kinh tế cho chi tiêu
ngân sách nhà nước cũng chỉ là có hạn. Vì vậy, cần
có sự cân nhắc, tính toán thận trọng mức độ cho
phép và thời han cần thiết của việc áp dụng chính
sách tài chính nới lỏng.
Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn quyết định các
vấn đề kinh tế, các chính sách kinh tế, chính sách
ngân sách, dự toán ngân sách, từng loại thu, từng
lĩnh vực chi và cơ cấu chi đầu tư phát triển, chi
trả nợ, mức bội chi ngân sách nhà nước và các
nguồn bù đắp bội chi. Hơn thế nữa, Quốc hội phải
thảo luận và quyết định về các chỉ tiêu, các chính
sách, các giải pháp thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã
hôi, quyết định phương án phân bổ ngân sách phù
hợp yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội; quyết định
danh mục các chương trình dự án Quốc gia, các công
trình xây dựng cơ bản quan trọng đầu tư từ nguồn
ngân sách nhà nước. Đó là nhiệm vụ rất quan trọng,
phức tạp; một nhiệm vụ vừa mang tính cụ thể, vừa
thể hiện vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thực
hiện tốt, có chất lượng nhiệm vụ này sẽ khẳng định
vị thế và nâng cao trách nhiệm của Quốc hội trước
nhân dân, củng cố lòng tin đối với dân về thực
quyền của Quốc hội và góp phần lành mạnh hóa nền
tài chính Quốc gia. Hơn thế nữa, Quốc hội với vị
thế là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước,
người đại diện của dân, phải thực hiện quyền
giám sát tối cao đối với mọi hoạt động của Nhà
nước; trong đó có hoạt động kinh tế-tài chính và
việc chấp hành ngân sách nhà nước. Thông qua hoạt
động giám sát về kinh tế- tài chính để xem xét,
đánh giá việc tuân thủ luật pháp kinh tế- tài
chính, tính hiệu quả, tính thực tiễn của các chủ
trương, giải pháp, các chính sách kinh tế, tài
chính, tiền tệ trong đời sống kinh tế- xã hội;
tình hình chấp hành ngân sách, chấp hành kỷ luật
tài chính, kỷ luật ngân sách. Chỉ có trên cơ sở
giám sát thường xuyên, liên tục, toàn diện thì
Quốc hội mới có đủ căn cứ tin cậy để xem xét,
quyết định các vấn đề kinh tế, phê chuẩn quyết
toán ngân sách nhà nước. Đây là việc khó, phức
tạp, nhưng rất trọng đại của Quốc hội, những người
thay mặt, chịu trách nhiệm trước cử tri cả nước
trực tiếp xem xét, đánh giá và phê chuẩn những
đồng tiền đã thu của dân, đã chi dùng cho dân, cho
nước không chỉ vì hôm nay, mà còn vì tương lai, vì
sự phát triển lâu dài, bền vững, trường tồn của
quốc gia, dân tộc. Đó cũng là sự tín nhiệm, tin
cậy và uỷ thác của dân, của cử tri cho những đại
biểu của họ ở cơ quan quyền lực cao nhất của nhà
nước. Nâng cao chất lượng, hiệu quả và đảm bảo
thực quyền của Quốc hội trong các quyết định về
kinh tế- tài chính đã và đang là đòi hỏi bức xúc
của đất nước, của nhân dân, là yêu cầu cấp thiết
để tăng cường hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước Pháp
quyền xã hội chủ nghĩa. Cần phải chủ động triển
khai tích cực, có hiệu quả một số giải pháp sau:
Một là,
phải có sự thống nhất nhận thức về Nhà nước Pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, đó là Nhà nước do dân, vì dân, vì một mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh và hiện đại. Trong hệ thống tổ chức của nhà
nước Việt Nam sự phân công về nhiệm vụ và quyền
hạn giữa cơ quan hành pháp và lập pháp trong hoạt
động kinh tế- tài chính cũng là nhằm mục đích nâng
cao trách nhiệm, tính khách quan trước các quyết
định vì sự tăng trưởng kinh tế, vì một nền kinh
tế, tài chính ổn định, có tiềm lực mạnh, an toàn
và hoạt động có hiệu quả. Cần có sự hợp tác thực
sự, cởi mở, hết lòng giữa các cơ quan quản l?ý
hành chính nhà nước
với các cơ quan của Quốc hội. Đồng thời, phải đảm
bảo tính độc lập, tính khách quan của từng cơ quan
trong quá trình xây dựng, thảo luận, xem xét, thẩm
tra báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế-
xã hội, báo cáo dự toán, quyết toán ngân sách nhà
nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và
quyết định các chính sách tài chính của đất nước.
Hai là,
cần hoàn chỉnh và công khai hoá quy trình thảo
luận, thẩm tra và cho ý kiến các báo cáo của Chính
phủ về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã
hội, nhiệm vụ tài chính; lập, thẩm tra và quyết
định dự toán, phương án phân bổ ngân sách và phê
chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước.
Quy trình thảo luận và thẩm tra phải khoa học, cụ
thể; rõ ràng, minh bạch. Từng công việc, từng nội
dung của qui trình và trách nhiệm của mỗi cơ quan,
mỗi cá nhân phải cụ thể, hợp lý. Qui trình thảo
luận, thẩm tra và quyết định về kinh tế-tài chính,
về ngân sách phải được luật hóa và mang tính ràng
buộc chặt chẽ. Trong quá trình thực hiện, nội dung
và phương pháp thực hiện qui trình cần tiếp tục
phát triển và hoàn thiện phù hợp thực tế và có
hiệu lực thực sự. Mọi cơ quan và cá nhân phải tôn
trọng triệt để, tuân thủ nghiêm ngặt qui trình đã
được thiết lập và công bố. Tăng cường việc báo cáo
và giải trình của Chính phủ, của các Bộ ngành
trước Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách, Hội đồng dân
tộc và các Uỷ ban khác về những vấn đề Quốc hội và
cử tri quan tâm, những vấn đề thuộc trách nhiệm
của các nhân, của đơn vị.
Ba là,
cần hệ thống hóa và cập nhật chính sách, chế độ
mới, cũng như những thông tin cần thiết về kinh
tế, tài chính, những định mức, tiêu chuẩn làm căn
cứ cho việc thẩm tra và quyết định những vấn đề
kinh tế-tài chính.
Kinh tế- Tài chính là những vấn đề nhạy cảm, có
phạm vi tác động rộng và chịu sự chi phối, có quan
hệ chặt chẽ với nhiều chủ trương, chiến lược,
chính sách, có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp về
lợi ích với mọi chủ thể trong nền kinh tế. Do đó,
cần phải có sự cập nhật về tình hình kinh tế, xã
hội, thông tin về kinh tế tài chính trong và ngoài
nước,nắm bắt một cách có hệ thống các chính sách,
chế độ đã, đang và sẽ có hiệu lực phục vụ cho việc
thẩm tra, đánh giá và quyết định các vấn đề tổng
thể về kinh tế- xã hội cũng như từng nội dung cụ
thể về từng lĩnh vực kinh tế, xã hội, về tài
chính, ngân sách.
Không thể có các ý kiến và quyết định các vấn đề
kinh tế- tài chính khi thiếu những thông tin tin
cậy đã được lượng hóa. Những thông tin đó không
thể đơn lẻ, không thể chỉ có hiện tại, chỉ có
trong nước, mà đó phải là một hệ thống thông tin
toàn diện, được tích luỹ, gồm cả thông tin quá
khứ, hiện tại, thông tin dự báo và thông tin
trong, ngoài nước. Cần phải tạo lập các ngân hàng
dữ liệu, các kênh thông tin đa chiều, thoả mãn các
căn cứ tối thiểu cho các nhận xét, đánh giá và
quyết định.
Bốn là,
Cần phân tích và chọn lựa những vấn đề
trọng yếu mang tính chiến lược kinh tế- tài chính
để xem xét, quyết định trong các kỳ họp của Quốc
hội.
Mỗi kỳ họp cần tập trung xem xét đánh giá và cho ý
kiến về một hoặc một số vấn đề
Quốc hội cần giành thời gian và trí tuệ cho việc
tìm kiếm, thảo luận, lựa chọn và quyết định các
vấn đề mang tính chiến lược về kinh tế- tài chính
nhà nước, về chiến lược phát triển kinh tế, về cơ
cấu kinh tế, kế hoạch đầu tư dài hạn, ngân sách
dài hạn, trung hạn (ngân sách đa niên độ), các vấn
đề chiến lược đầu tư, cân đối sản xuất-tiêu dùng,
tích luỹ- tiêu dùng, cân đối ngân sách, bội chi
ngân sách có chủ định, nguồn bù đắp bội chi ngân
sách và phương cách sử dụng bội chi ngân sách nhà
nước. Hạn chế tối đa việc thảo luận tại diễn đàn
Quốc hội những vấn đề nhỏ, lẻ, cục bộ và có tính
chất tình thế mang tính điều hành cụ thể về kinh
tế, ngân sách.
Các chuyên đề giám sát cần được lựa chọn có trọng
tâm, trọng điểm, mang tính điển hình và gắn với
những nội dung của Nghị quyết Quốc hội. Có sự
chuẩn bị chu đáo trên tất cả các mặt cho công tác
giám sát. Hình thành mô hình giám sát khoa học,
phù hợp từng vấn đề được giám sát và năng lực giám
sát.
Năm là, Nâng cao năng lực và tăng cường các điều kiện cần thiết cho các cơ quan
của Quốc hội, cho các đại biểu Quốc hội chuyên
trách, trước hết là Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách,
Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội.
Quá trình làm việc trực tiếp và cho ý kiến thẩm
tra đánh giá của Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách và
các cơ quan khác của Quốc hội về kinh tế- tài
chính vô cùng quan trọng và là căn cứ để Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến, để Quốc
hội thảo luận và quyết định. Cần tăng cường cho
các cơ quan của Quốc hội không chỉ phương tiện làm
việc, điều kiện làm việc, nhân lực và hệ thống
thông tin dữ liệu, mà quan trọng hơn là trí tuệ,
là tri thức, là phương pháp, là sự phối hợp trong
công việc, trong qui trình xem xét, thẩm tra. Cần
đề cao trách nhiệm và đảm bảo quyền hạn của từng
cơ quan, từng đại biểu Quốc hội trong nhiệm vụ
quan trọng này.
Sáu
là, Tăng cường tính minh bạch và độ tin
cậy của thông tin phục vụ Quốc hội. Đảm bảo mọi
thông tin trình ra Quốc hội có độ tin cậy cao,
được đánh giá bởi cơ quan chuyên môn độc lập.
Để Quốc hội
có căn cứ thảo luận và quyết định, cũng như tiến
hành giám sát hoạt động kinh tế- tài chính, đòi
hỏi phải có đủ những tư liệu thông tin tối thiểu
cần thiết. Thông tin cung cấp cho Quốc hội phải
minh bạch và có độ tin cậy cao. Trước hết là các
thông tin về chiến lược và nhiệm vụ phát triển
kinh tế -xã hội, định hướng tài chính- ngân sách,
những đánh giá về ngân sách trung hạn, nguồn thu
và nhiệm vụ chi. Tăng cường tính minh bạch của
ngân sách trong giai đoạn lập dự toán đặc biệt là
các cơ sở dữ liệu và tiêu chí dùng cho việc dự
tính các nguồn thu và nhiệm vụ chi. Sớm chuyển
sang áp dụng kế toán dồn tích thay cho phương pháp
kế toán thực thu thực xuất quỹ hiện nay, phản ảnh
xác thực hơn tình hình tài chính quốc gia và ngân
sách nhà nước theo nguyên tắc thừa nhận quyền và
nghĩa vụ ngân sách gắn với năm ngân sách, chứ
không phải là số thực thu và thực xuất quỹ. Số
liệu cung cấp cho Quốc hội phải có xác nhận và
đánh giá của cơ quan kiểm toán nhà nước, phải đạt
độ tin cậy cao nhất có thể.
Kiểm toán nhà nước có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp
pháp, hợp lệ, độ tin cậy và tính hiệu quả của các
khoản thu chi ngân sách nhà nước. ý kiến của Kiểm
toán nhà nước phải là căn cứ tin cậy để Quốc hội
thảo luận, xem xét và quyết định các vấn đề ngân
sách nhà nước. Để đạt được điều đó kiểm toán nhà
nước phải tiến hành xem xét, đánh giá thông tin
một cách khách quan, chỉ tôn trọng luật pháp và
phản ảnh đúng sự thật. Triển khai có kết quả Luật
kiểm toán đã được Quốc hội thông qua, đảm bảo cho
Kiểm toán nhà nước có tính độc lập cao, có địa vị
pháp lí tương xứng trong thực thi nhiệm vụ. Kiểm
soát và nâng cao phẩm chất và đạo đức nghề nghiệp
của kiểm toán viên, đảm bảo cho họ có tiếng nói
độc lập, khách quan.
Bảy là,
đề cao trách nhiệm và nâng cao năng lực của các đại
biểu Quốc hội tr ong thảo luận các vấn đề kinh tế
- xã hội và quyết định dự toán ngân sách nhà nước,
quyết định phương án phân bổ ngân sách Trung ương,
phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước.
Đây là những vấn đề lớn của đất nước. Mỗi đại biểu
Quốc hội, từ những cương vị và vị trí công tác
khác nhau cần có quan điểm toàn cục, khách quan,
thảo luận sâu, chi tiết và có quyết định đúng vì
lợi ích chung. Tuyệt đối tránh tư tưởng cục bộ,
cách nhìn thiển cận, đơn giản, vụn vặt, chỉ thấy
trước mắt, không thấy lâu dài trong thảo luận, xem
xét và thẩm định các vấn đề kinh tế- tài chính.
Cần có kế hoạch trang bị kiến thức và cung cấp đầy
đủ thông tin cần thiết cho các cơ quan của Quốc
hội, cho đại biểu Quốc hội về kinh tế- tài chính.
Tám là, phải tăng cường, đổi mới và nâng cao hiệu
quả giám sát của Quốc hội đối với hoạt động kinh
tế- tài chính.
Từ kết quả giám sát cần có sự đánh giá đầy đủ,
chuẩn xác, tin cậy về tình hình tuân thủ luật pháp
và tuân thủ các quyết định, các nghị quyết của
Quốc hội. Và cũng từ giám sát, Quốc hội sẽ có căn
cứ thực tế để thảo luận và quyết định cái đã qua,
cái sẽ tới. Cần đổi mới hoạt động giám sát của
Quốc hội, giám sát thường xuyên, liên tục, có chọn
lọc, có chủ định. Tăng cường hiệu quả của giám sát
và đề cao, chấp hành hậu quả pháp lý của giám sát.
*
* *
Thảo luận và quyết định các vấn đề kinh tế- tài
chính, giám sát tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh
tế xã hội, tình hình lập và chấp hành ngân sách
nhà nước là thẩm quyền của Quốc hội, cơ quan quyền
lực Nhà nước cao nhất của Nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Đây là công việc lớn, phức tạp
nhưng có ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao chất
lượng hoạt động tài chính, ngân sách, tạo dựng và
củng cố lòng tin của dân vào Nhà nước Pháp quyền
xã hội chủ nghĩa. Cần phải quan tâm triển khai
đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng,
hiệu quả và đảm bảo thực quyền của Quốc hội
trong các quyết định kinh tế, tài chính.
|