SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY DÂN CHỦ TRONG
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
Hoàng Chí Bảo
GS.TS Triết học - Học viện CTQG Hồ Chí Minh
1. Những bước ngoặt của nền Lập pháp dân chủ ở
nước ta
Quốc hội Việt Nam kể từ khi chế độ dân chủ cộng
hoà được thành lập cho đến nay đã có lịch sử 60
năm.
Lịch sử Quốc hội Việt Nam gắn liền với lịch sử
của nhà nước và chế độ ta; đó là lịch sử đấu tranh
anh hùng và bất khuất của dân tộc Việt Nam chống
thực dân đế quốc xâm lược, giữ gìn nền độc lập tự
do của tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, phát
huy quyền làm chủ của nhân dân ta.
Sức mạnh của ý chí, nguyện vọng và quyền lực nhân
dân được thể hiện tập trung ở Quốc hội. Đó là
quyền lập pháp trong cơ cấu quyền lực nhà nước
thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền:
lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Chính phủ) và tư
pháp (Toà án, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao).
Trong vòng 60 năm qua, Quốc hội Việt Nam đã trải
qua 11 khoá, tổ chức và hoạt động của Quốc hội gắn
liền với những sự kiện quan trọng, đánh dấu bước
ngoặt của sự phát triển và đổi mới thể chế ở nước
ta theo các chuẩn mực dân chủ và vận động dân chủ
hoá xã hội.
- Đó là Quốc hội khoá đầu tiên năm 1946 với việc
ban hành Hiến pháp đầu tiên, đặt nền móng cho
quyền lập pháp của nhà nước ta và đồng thời là
Quốc hội vừa kháng chiến vừa kiến quốc, đánh bại
chủ nghĩa thực dân kiểu cũ.
- Đó là Quốc hội của thời kỳ chiến tranh giải
phóng vì độc lập dân tộc và CNXH, vừa trong hoà
bình kiến thiết chế độ mới vừa trong khói lửa của
chiến tranh ác liệt, phải huy động triệt để tài
dân, sức dân để đánh bại chủ nghĩa thực dân
kiểu mới, tiến tới thống nhất đất nước.
- Đó là Quốc hội của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, khẳng
định chủ quyền quốc gia - dân tộc từ sau ngày miền
Nam hoàn toàn giải phóng 4 - 1975, từ đó đến nay,
30 năm đã đi qua trong lịch sử nền lập pháp dân
chủ ở nước ta.
- Đó là Quốc hội của thời kỳ đổi mới, mở cửa, hội
nhập quốc tế, đẩy mạnh dân chủ hoá các lĩnh vực
của đời sống, gắn liền dân chủ hoá với pháp chế
hoá xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của
dân, do dân, vì dân, xây dựng nền dân chủ cho đa
số, thực hiện và phát huy quyền làm chủ chân chính
của nhân dân lao động. 1/5 thế kỷ đã đi qua trong
sự nghiệp đổi mới cũng đồng thời là đổi mới tổ
chức và hoạt động của Quốc hội nước ta.
Thành tựu 20 năm đổi mới ở nước ta là to lớn, có ý
nghĩa lịch sử, nổi bật ở hai lĩnh vực then chốt là
đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.
Góp phần làm nên những thành tựu đó, Quốc hội
nước ta đã có những cống hiến quan trọng đồng thời
cùng với thời gian và kinh nghiệm, Quốc hội Việt
Nam thời kỳ đổi mới đã có bước trưởng thành vuợt
bậc.
Phải trải qua 15 năm tiến hành đổi mới, từ Đại
hội VI (1986) đến Đại hội IX (2001), hệ mục tiêu
của đổi mới ở nước ta mới trở nên hoàn chỉnh và
định hình rõ ràng. Dân chủ đã được khẳng định như
một giá trị, một động lực quan trọng của đổi mới.
Dân chủ cũng đồng thời là một trong những mục tiêu
mà công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng CNXH ở
nước ta hướng tới: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh”.
Trong những nghị quyết quan trọng, có ý nghĩa lịch
sử mà Quốc hội nước ta thông qua trong những năm
gần đây, không thể không nói tới hai nghị quyết
thật sự ấn tượng, phản ánh đúng tâm nguyện của
dân, cũng đồng thời đáp ứng kịp thời những đòi hỏi
bức xúc của xã hội và nhà nước ta trên con đường
dân chủ hoá- công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Đó
là nghị quyết về ban hành và thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở, trước hết là ở xã để phát triển toàn
diện nông thôn - nông nghiệp và nông dân, năm
1998. Với nghị quyết này, Quốc hội - cơ quan đại
biểu cho ý chí và quyền lực nhân dân cao nhất, đã
đem lại cho quần chúng nhân dân một công cụ pháp
lý có hiệu lực để thực hiện quyền làm chủ của mình
tại cơ sở, trong đó có quyền tham gia trực tiếp
vào công việc quản lý nhà nước, kiểm tra và giám
sát mọi hoạt động và hành vi của cán bộ, công chức
do dân uỷ quyền trong việc thực hiện quyền lực
nhân dân. Đó còn là nghị quyết gần đây nhất, Quốc
hội thông qua Luật phòng chống tham nhũng. Đây là
văn bản luật thiết thực và hệ trọng nhất vào lúc
này để đẩy lùi các “trọng bệnh” và “quốc nạn”, để
bảo vệ lợi ích và quyền lực của dân, tránh cho lợi
- quyền của dân khỏi bị xâm hại và tổn thương bởi
những sự tàn phá phản dân chủ nặng nề nhất.
Dân chủ ở cơ sở được đảm bảo bởi quy chế, có giá
trị và sức mạnh pháp lý. Chú trọng tới dân chủ ở
cơ sở là chú trọng đến vai trò và sức mạnh của
dân, bởi dân và các hộ dân trong các cộng đồng dân
cư đều làm ăn, sinh sống ở cơ sở, gây dựng phong
trào từ cơ sở. Đây là địa bàn rộng lớn nhất, với
trên 10.000 đơn vị cơ sở xã - phường - thị trấn,
112.000 thôn, làng, ấp, bản, phum sóc, nơi có trên
60 triệu người dân ở nông thôn trong tổng số 82
triệu dân của cả nước đang sinh sống, sản xuất -
kinh doanh, gây dựng đời sống mới
.
Nghị quyết của Quốc hội về Quy chế dân chủ ở cơ sở
là một nghị quyết rất kịp thời và được lòng dân,
nó xuất phát từ một nền tảng pháp lý dân chủ và
nhân văn sâu sắc là trọng dân, theo đúng
tinh thần dân chủ của Hồ Chí Minh: “trong bầu trời
không gì quý bằng nhân dân”, “Trong thế giới không
gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của toàn dân”, “Dân
chủ là của quý báu nhất trên đời của dân” và “Thực
hành dân chủ rộng rãi là chiếc chìa khoá vạn năng
để giải quyết mọi khó khăn”
.
Trọng dân vì dân là chủ thể gốc của quyền lực, vì
dân là cơ sở xã hội sâu xa nhất của chế độ, vì
nước ta là một nước dân chủ nên nhân dân là người
chủ và làm chủ xã hội.
Một nghị quyết thể hiện tư tưởng trọng dân và
quyết tâm hành động để phục vụ dân, chăm lo bồi
dưỡng sức dân, phát triển sức dân, tiết kiệm sức
dân như chỉ dẫn của Hồ Chí Minh nên đó là nghị
quyết rất được lòng dân. Làm được điều đó, Quốc
hội nước ta là một Quốc hội dân chủ, đáp ứng
đúng lòng mong đợi của dân.
Nghị quyết của Quốc hội về Luật phòng chống tham
nhũng là nghị quyết tỏ rõ quyết tâm của toàn dân
mà Quốc hội là đại biểu trong một nỗ lực làm
trong sạch thể chế, bộ máy công quyền, làm lành
mạnh xã hội.
Quan liêu là đối lập với dân chủ. Tham nhũng chẳng
những là sự suy đồi đạo đức trong hành vi quan
chức, công chức, sự thoái hoá và biến dạng của
quyền lực nhân dân, lợi dụng sự uỷ quyền để mưu
lợi cá nhân, gây hại cho lợi ích của chủ thể quyền
lực là dân mà còn là sức mạnh phản dân chủ, phản
văn hoá tệ hại nhất, có nguy cơ làm hỏng và sụp đổ
cả chế độ, phải ra sức phòng tránh. Quan liêu -
tham nhũng là phản cảm xã hội lớn nhất trong lòng
dân, là điều nhức nhối nhất trong đời sống xã hội
ta, làm cho thể chế không bình yên. Phòng chống
quan liêu, tham nhũng là phù hợp với lô gíc tất
yếu tự nhiên của dân chủ.
Luật phòng chống tham nhũng được ban hành và tổ
chức thực hiện sao cho có hiệu lực và hiệu quả
nhất, điều đó cho thấy, nghị quyết của Quốc hội về
đạo luật này mang tinh thần trọng pháp, coi
pháp luật là tối thượng, theo phương
châm “thượng
tôn pháp luật”, để nghiêm trị mọi hành vi tham
nhũng, hại nước, hại dân, bất kể kẻ mang hành vi
đó là ai, ở cương vị nào, có quyền chức như thế
nào.
Nguyên lý dân chủ - pháp quyền của Quốc hội và
Nhà nước ta cho thấy, đã trọng dân thì phải
trọng pháp và trọng pháp là để trọng dân.
Nghị quyết về đạo luật phòng chống tham nhũng là
nghị quyết tỏ rõ sức mạnh của hành động dân chủ để
chống lại mọi hành vi phản dân chủ. Đó là một bước
tiến của hoạt động lập pháp, của một nền lập pháp
bảo vệ dân, tạo cơ hội và khả năng để dân nhập
cuộc, vào cuộc chiến chống tham nhũng, để cắt bỏ
cái vòi của con bạch tuộc ghê tởm nhất, nhất là
trong thời buổi kinh tế thị trường. Đó không chỉ
là nghị quyết được lòng dân, được dân ủng
hộ mà còn là nghị quyết hợp thời đại, thể
hiện đúng xu thế của thế giới ngày nay, muốn
đạt đuợc dân chủ thì phải kiên quyết chống quan
liêu tham nhũng. Tham nhũng là sự thách thức
lớn nhất với dân chủ. Thái độ, hành động và hiệu
quả chống tham nhũng sẽ là thước đo thử thách toàn
diện cả năng lực, đạo đức, bản lĩnh chính trị của
các cơ quan quyền lực của dân, trước hết là của
Quốc hội. 60 năm qua, Quốc hội nước ta đã có đóng
góp to lớn, xứng đáng với sự tôn vinh của nhân dân
và xã hội.
Giờ đây, thực hành dân chủ, chống quan liêu tham
nhũng vừa thử thách vừa tạo ra cơ hội để Quốc hội
thực sự có bước phát triển mới về chất, để có thể
làm tròn trọng trách mà dân uỷ thác.
2. Định hướng dân chủ trong tổ chức và hoạt động
của Quốc hội thời kỳ đổi mới
Trên cơ sở đổi mới kinh tế có hiệu quả, nước ta đã
tiến hành đổi mới chính trị mà thực chất là đổi
mới hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ hoá
các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nhà nước là một thực thể cấu thành hệ thống chính
trị. Nói tới nhà nước thì trước hết là nói tới
Quốc hội, cơ quan đại biểu cho ý chí và quyền lực
nhân dân cao nhất, là cơ quan lập pháp, trước hết
là lập hiến. Công tác trọng yếu nhất của Quốc hội
là công tác lập pháp, đồng thời là hoạt
động giám pháp đối với tất cả các tổ chức
quyền lực nhà nước, các hành vi của tổ chức và cá
nhân công dân trong xã hội, đảm bảo cho sự tôn
nghiêm pháp luật được thực hiện, quyền bình đẳng
trước pháp luật của tất cả mọi người được tuân
thủ. Đổi mới HTCT không những phải đổi mới nội
dung và phương thức lãnh đạo của Đảng mà còn phải
đổi mới tổ chức và hoạt động của nhà nước, trong
đó có Quốc hội, đổi mới các tổ chức, các đoàn thể
chính trị - xã hội của quần chúng.
Nếu nhà nước là thành phần cốt yếu, giường cột của
chế độ chính trị, của HTCT thì Quốc hội lại là cốt
yếu của nhà nước, là thiết chế biểu thị đầy đủ,
tập trung và thống nhất quyền lực, quyền năng và
quyền uy của nhân dân. Thực chất của chế độ dân
chủ là chế độ uỷ quyền của dân vào nhà nước.
Thông qua bầu cử, dân trực tiếp lựa chọn và
bầu ra những đại biểu thực sự xứng đáng với sự uỷ
quyền của mình ở cơ quan có quyền lực cao nhất để
lập pháp là Quốc hội. Cũng như vậy, dân lựa chọn
bầu ra những đại biểu hợp thành cơ quan đại diện
cho quyền lực của mình ở địa phương và cơ sở (các
Hội đồng nhân dân).
Việc kế thừa và phát huy dân chủ trong tổ chức và
hoạt động của Quốc hội hiện nay đòi hỏi phải tiếp
tục đổi mới Quốc hội từ hai lĩnh vực quan trọng
nêu trên: tổ chức nên một Quốc hội thực sự
dân chủ, thể hiện đúng đắn tính đại diện, đại biểu
cho ý chí và quyền lực của dân, tạo ra một cơ cấu
tổ chức sao cho Quốc hội thực sự có khả năng hoạt
động lập pháp và giám pháp, một Quốc hội có thực
lực và thực quyền đề thực thi dân chủ. Đó còn là
một Quốc hội có nội dung và phương thức hoạt
động một cách dân chủ, chủ động, sáng tạo,
tích cực và năng động, đủ sức chứng tỏ sức mạnh
của dân chủ trong cuộc đấu tranh chống lại những
phản dân chủ dưới mọi hình thức: vi phạm quyền dân
chủ của dân, tập trung quan liêu, thói tự do vô
chính phủ, kể cả dân chủ hình thức. Như đã nói,
tiêu điểm của mọi hoạt động dân chủ ấy là dân
chủ trong hoạt động lập pháp, tạo ra một hệ
thống pháp luật dân chủ, tiến bộ, kiểm tra và giám
sát việc thực thi pháp luật trong tất cả các cơ
quan công quyền, trong các tổ chức và cá nhân công
dân, thực hiện chức năng của Quốc hội là quyết
định những vấn đề quan trọng của đất nước.
Để đổi mới Quốc hội có kết quả từ hai lĩnh vực
nêu trên theo định hướng kế thừa và phát huy dân
chủ, có hàng loạt vấn đề đặt ra cần phải giải
quyết.
Có thể quy vào hai nhóm vấn đề chính: những vấn đề
liên quan tới nhận thức lý luận về dân chủ và
quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện trong tổ
chức và hoạt
động của Quốc hội;
những vấn đề liên quan tới thực tiễn vận động
dân chủ, thực hành dân chủ trong cơ cấu tổ chức bộ
máy và hoạt động của Quốc hội.
Phải giải quyết tốt và đồng bộ cả hai nhóm vấn đề
đó thì việc kế thừa và phát huy dân chủ của Quốc
hội mới trở thành một kết quả trực thực tế đảm bảo
cho nhà nước mạnh, có thực quyền, thực hiện được
sự uỷ quyền của dân, phục vụ nhân dân ngày một
tốt hơn.
§
Vấn đề thứ nhất: Nhận thức lý luận
Cần lưu ý là, cả hai nhóm vấn đề đó không chỉ liên
quan đến các cấu phần khác nhau của nhà nước, nhất
là chính phủ hành pháp, đến hoạt động cải cách nền
hành chính công cũng như hoạt động giám sát, kiểm
sát và xét xử theo luật định, đến sự phối hợp của
các tổ chức chính trị - xã hội của quần chúng, cả
quan phương - chính thống và phi quan phương -
phi chính thống. Trong các mối quan hệ tác động
đó, quan hệ giữa Đảng lãnh đạo và nhà nước quản lý
là mối quan hệ chủ đạo, căn bản nhất. Muốn kế thừa
và phát huy được dân chủ trong tổ chức và hoạt
động của Quốc hội thì trước hết cần phải dân chủ
hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội và với
nhà nước nói chung.
Quốc hội, mà trực tiếp là các đại biểu quốc hội
còn có quan hệ mật thiết và thường xuyên với dân,
với các cử tri. Quốc hội phục vụ dân đồng thời
chịu sự kiểm tra, giám sát, thúc đẩy của dân.
Một quốc hội thực sự dân chủ thì sẽ có tác dụng
rất to lớn trong việc thu hút và lôi cuốn sự quan
tâm của dân chúng, tạo hậu thuẫn xã hội để làm
tăng thực lực, thực quyền của Quốc hội, nhờ đó
Quốc hội đem lại những lợi ích và hiệu quả thiết
thực cho dân chúng, cho quyền làm chủ trên thực
tế của dân.
Bởi thế, tư tưởng về một nhà nước của dân, do dân,
vì dân cần phải chuyền từ một quan niệm chung,
tổng thể về quyền lực chính trị và quyền lực nhà
nước sang từng bộ phận cụ thể của cái tổng thể ấy,
làm cho nó có sức mạnh của tính hiện thực - cụ thể
- trực tiếp chứ không phải là một mệnh đề trừu
tượng, một ý niệm trừu tượng chung dễ bị hình thức
hoá. Dân là chủ thể của nhà nước, thì trước hết
dân là chủ thể của Quốc hội mà chính nhờ có hành
động bỏ phiếu trong bầu cử của dân thì Quốc hội
mới tạo ra được. Quốc hội dân chủ phải là Quốc
hội của dân, do dân, vì dân. Chính phủ do Quốc
hội lập ra theo ý chí, nguyện vọng, thẩm quyền
của dân, nên xét về thực chất, dân cũng lập ra
chính phủ, chính phủ là chính phủ của dân, do
dân, vì dân. Nói rộng ra, hệ thống chính trị cũng
phải như vậy. Vị trí, vai trò chủ thể của dân phải
được khẳng định trong toàn bộ HTCT.
Ở đây, dân với tư cách là quần chúng nhân dân lao
động đã được giải phóng, trở thành người chủ của
xã hội mới, là chủ và làm chủ, đồng
thời dân còn với tư cách là cộng đồng dân tộc,
đó là biểu thị sức mạnh chủ sở hữu giá trị lớn
nhất của chính họ - giá trị dân chủ. Bản chất chính trị của Đảng, của nhà nước và của
hệ thống chính trị đang tồn tại và hiện diện trong
xã hội ta là bản chất giai cấp công nhân. Điều đó
không hề tách rời khỏi mối liên hệ với bản chất
nhân dân, dân tộc thầm nhuần nội dung, giá trị của
dân chủ. Chính nhờ thể hiện sâu sắc bản chất GCCN
mà Đảng, nhà nước và HTCT của chúng ta càng có
điều kiện thuận lợi nhất, càng có nhu cầu tự nhiên
nhất là liên hệ mật thiết, máu thịt với nhân dân,
gắn bó sâu sắc, bền chặt với dân tộc, thống nhất
hữu cơ và tất yếu ĐLDT với CNXH.
GCCN là giai cấp duy nhất mà rốt cuộc lịch sử đã
tìm thấy, có khả năng phấn đấu đến cùng và thực
hiện đến cùng lợi ích xã hội và quyền lực xã hội
của nhân dân và dân tộc, bởi duy nhất chỉ có nó là
giai cấp không có lợi ích riêng với nghĩa là tư
hữu. Nó tìm thấy lợi ích chân chính của mình khi
toàn tâm toàn ý thực hiện và bảo vệ cho lợi ích
chung của toàn dân, toàn xã hội.
Đó là cơ sở sâu xa để hiểu vì sao, tổ chức cách
mạng (Đảng) và tổ chức quyền lực (Quốc hội, Chính
phủ…) cũng như cơ chế tổng thể thực hiện quyền lực
(HTCT) mang bản chất chính trị GCCN thì đồng
thời cũng mang bản chất xã hội là nhân dân và dân
tộc. Sự đồng thuận, nhất trí này bắt nguồn sâu
xa từ sứ mệnh lịch sử của GCCN, từ bản chất, mục
tiêu của CNXH, từ thời đại mới đã mở ra sau Cách
mạng Tháng Mười, cho phép gắn liền ĐLDT với CNXH.
Có thể nói, Đảng, Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ,
Viện Kiểm sát và Toà án) và HTCT ở nước ta đều là
của dân, do dân, vì dân, mang bản chất GCCN đồng
thời đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân
và của dân tộc. Tất cả các tổ chức đó, muốn thực
sự là của dân, do dân, vì dân thì phải đảm bảo
thực hiện, thực hành dân chủ; đảm bảo phát huy
quyền làm chủ của dân, làm cho dân vừa thụ
hưởng được mọi thành quả vật chất, tinh thần của
dân chủ, vừa đấu tranh để bảo vệ, gìn giữ và phát
triển lành mạnh nền dân chủ ở nước ta, thực hiện
thông qua các tổ chức của mình (dân chủ đại diện)
và tự mình (dân chủ trực tiếp) quyền tham gia quản
lý, quyền tư vấn phản biện, giám sát xã hội để
quyền lực không bị biến dạng, thoái hoá.
Tập trung nhất những yêu cầu này chính là tạo ra
hợp lực để đấu tranh chống tham nhũng, giảm thiểu
tới mức thấp nhất những tổn hại do tham nhũng gây
ra, tiến tới đẩy lùi được tham nhũng. Xây dựng nhà
nước pháp quyền thì công tác lập pháp của Quốc
hội càng trở nên quan trọng. Không có dân chủ nào
ở bên ngoài luật pháp. Cũng không có luật pháp nào
là tiến bộ và có ý nghĩa thúc đẩy xã hội phát
triển mà lại không dựng xây trên nền tảng nguyên
tắc, chiến lược dân chủ pháp quyền. Pháp luật là
giới hạn của dân chủ, là hành lang vận động của
dân chủ. Quốc hội và công tác lập hiến, lập pháp
của Quốc hội là nền tảng và sức mạnh pháp lý để
thực hiện dân chủ của nhân dân. Quốc hội cũng là
một quốc hội hành động vì dân, phấn đấu đem
lại lợi quyền cho dân, do đó bản chất của Quốc
hội và nhà nước ta nói chung, cả trong lý luận và
thực tiễn phải gắn liền pháp lý với nhân văn. Đây
là chỗ mà bản chất Quốc hội trùng hợp với bản
chất của dân chủ.
Kế thừa và phát huy dân chủ trong tổ chức và hoạt
động của Quốc hội không có mục đích nào khác là
vì cuộc sống của dân, vì một triển vọng phát triển
tốt nhất của nhân dân và của toàn dân tộc mà Quốc
hội, nhà nước ta nỗ lực thực hiện.
§
Vấn đề thứ hai: giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn.
Để thực hiện định hướng dân chủ nêu trên, việc
tiệp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội
cần tập trung giải quyết các vấn đề, các nhiệm vụ
vừa cấp bách vừa cơ bản, lâu dài mà thực tiễn cuộc
sống đang đặt ra, nhân dân đang
mong đợi. Đây
là cả một tập hợp lớn các vấn đề cần được hình
dung đầy đủ, rõ ràng và có nỗ lực quyết tâm cao để
giải quyết với những bước đi (lộ trình) thích hợp.
- Cải cách và hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu
nhân dân, trước hết là đại biểu Quốc hội.
Trong vấn đề này, cần tập trung trước hết vào việc
sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Luật bầu cử; thực thi
Luật bầu cử trong thực tế, thống nhất và nhất quán
giữa luật bầu cử với các điều khoản trong Hiến
pháp sao cho thực sự
tôn trọng quyền
tự do đề cử, ứng cử của công dân vào cơ quan quyền
lực cao nhất.
Với Luật bầu cử, Hiến pháp và luật pháp nói chung
làm công cụ pháp lý, quá trình tổ chức thực hiện
bầu cử Quốc hội là quá trình thể hiện rõ nhất
trạng thái vận động dân chủ và mức độ dân chủ
trong thực tế. Đây là tiền đề chính trị và dân chủ
chính trị để hình thành nên Quốc hội trong khuôn
khổ nhiệm kỳ. Rõ ràng, muốn có một Quốc hội dân
chủ và có năng lực thực hành dân chủ thì phải
bắt đầu từ dân
chủ trong việc tổ chức nên Quốc hội.
Trong sự trưởng thành ý thức dân chủ của công dân
và của xã hội, một xu hướng tích cực đang hình
thành là sẽ ngày càng có nhiều người tự ứng cử.
Quyền đó của công dân phải được tôn trọng.
Hơn nữa, trong một cơ cấu nhiều thành phần và
tương ứng với nó là một cơ cấu xã hội nhiều giai
cấp, giai tầng, tầng lớp, nhóm xã hội khác nhau
cùng nằm trong cơ cấu đa dân tộc, đa tôn giáo. Cần
chú ý nhiều hơn nữa tới tính đại diện chân thực
về phương diện xã hội - dân tộc - nhân dân trong
cơ cấu đại biểu Quốc hội. Có hai điều nên
làm sau đây:
Nên tăng số lượng đại biểu Quốc hội
ngoài Đảng để đại biểu nhân dân, của dân mang
được nhiều hơn ý nghĩa trực tiếp của khái niệm
này.
Nên giảm bớt số thành viên chính phủ, các quan
chức quản lý, lãnh đạo từ Trung ương tới địa
phương, các cấp, các ngành trong tổng số ghế đại
biểu để tăng thêm hơn nữa đại biểu quốc hội
chuyên nghiệp, chuyên trách và chuyên tâm làm đại
biểu của dân.
Ngoài ra, quy trình hiệp thương dân chủ với vai
trò nòng cốt của Mặt trận cần phải được thực hiện
sao cho hợp lý, khoa học, thực sự dân chủ, bằng
cách thực sự tôn trọng Mặt trận, đề cao vị trí,
vai trò, thẩm quyền của Mặt trận trong công tác
quan trọng này. ý kiến, tiếng nói, các đề xuất
khuyến nghị của Mặt trận phải được tôn trọng và
coi trọng, những phát hiện, kiến nghị của dân, của
cơ sở và dư luận xã hội nói chung phải được đặc
biệt chú ý để có được một danh sách tốt nhất các
ứng cử viên bầu vào quốc hội, đặc biệt là vấn đề
năng lực, phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm xã hội,
am hiểu luật pháp của họ.
Chất lượng là hàng đầu, cơ cấu thành phần, đại
diện được chú trọng nhưng không vì thế mà xem nhẹ
tiêu chuẩn chất lượng. Đơn nhất (bầu 1, giới thiệu
1) trong bầu cử là vô nghĩa nhưng một giới hạn quá
hẹp giữa số lượng cần bầu với số lượng giới thiệu
cũng sẽ là dân chủ hình thức. Phải tạo cho
cử tri một khả năng rộng rãi trong lựa chọn và
quyết định họs bỏ phiếu cho ai, cho xứng đáng với
việc chọn mặt gửi vàng.
Cần tổ chức tốt các cuộc tiếp xúc giữa ứng cử viên
với cử tri một cách dân chủ, tổ chức đối thoại,
tranh luận, đánh giá các chương trình hành động,
các cam kết, hứa hẹn đắc cử của các ứng viên, cung
cấp thông tin tốt nhất, tự nhiên, khách quan chứ
không bố trí hình thức để cử tri có cơ sở quyết
định việc lựa chọn.
- Để hực hiện và phát huy được dân chủ thì mối
quan hệ mật thiết giữa đại biểu quốc hội với cử
tri, với dân chúng là rất quan trọng, chứ
không phải cơ cấu đoàn đại biểu quốc hội ở từng
địa phương như hiện nay. Nên để đại biểu quốc
hội thực sự là người tại địa phương, có điều kiện
gần dân, hiểu dân và dân cũng biết họ tường tận,
tường minh chứ không phải theo mô hình hiện nay,
người đại biểu của dân mà nơi ở và làm việc quá
cách xa dân thì giữa họ không thể hiểu biết và
giám sát được nhau, trở nên hình thức.
- Có chế độ quy định, cơ chế và chế tài rõ ràng để
đại biểu gặp gỡ, tìm hiểu cuộc sống, nguyện vọng
của dân, dân tìm đến đại biểu để đề đạt, để chất
vấn.
Chấm dứt lối hình thức như bấy lâu nay, đại biểu
chỉ gặp dân trước kỳ họp và sau kỳ họp còn dân thì
không quan tâm thiết tha với việc ấy, hình
thành một lớp cử tri chuyên nghiệp, chuyên
tiếp xúc với đại biểu, thông tin 2 chiều ít giá
trị, cái thật, cái bức xúc của dân vẫn không có ai
biết, không có ai giải quyết.
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội
cần được tổ chức và hoạt động theo đúng yêu cầu
khoa học và dân chủ, không tự biến mình thành một
cấp, cấp trên của Quốc hội; chỉ tập trung nỗ lực
vào chuẩn bị tốt nhất chương trình làm việc của kỳ
họp Quốc hội , trong đó mấu chốt là công tác lập
pháp, chất vấn, giải trình gữa đại biểu quốc hội
với các thành viên chính phủ.
- Cơ cấu các uỷ ban chuyên môn của Quốc hội
rất quan trọng, hoạt động và năng lực của các uỷ
ban này sẽ quyết định phần lớn chất lượng hiệu quả
của Quốc hội. Do đó phải biết thiết kế tốt hệ
thống các uỷ ban, năng lực các thành viên uỷ ban.
Uỷ ban dân tộc, uỷ ban dân nguyện cũng như uỷ ban
pháp luật và các ban chuyên môn kinh tế, xã hội
cần phải đầu tư thật tốt về nguồn nhân lực và
điều kiện làm
việc, sao cho nắm thông tin xã hội từ phía người
dân nhanh nhất, truyền tải ý kiến của dân tới Quốc
hội tốt nhất, đúng nhất, kịp thời và hiệu quả
nhất.
- Phải chuyển mạnh phương thức hoạt động của Quốc
hội,
từ Quốc hội tham luận sang Quốc hội thảo luận,
tranh luận, đối thoại, chất vấn, giải trình một
cách thực chất thiết thực, hiệu quả, đảm bảo thu
hút người dân quan tâm tới sinh hoạt của Quốc hội,
dự thính, quan sát trực tiếp hoạt động của Quốc
hội. Rút ngắn thời gian họp Quốc hội ở mỗi kỳ họp
để tránh lãng phí thời gian, tiền của vật chất,
lực lượng phục vụ, dành thời gian cho hoạt động
cũng như phải tinh giảm họp hành, hội nghị trong
phạm vi cả nước vì đây là một gánh nặng của xã
hội, của dân, nó tiếp tục kéo dài phong cách hành
chính quan liêu, cả nước chìm ngập trong họp hành,
hội nghị.
- Tăng thêm thời gian chất vấn của ĐBQH đối với
các thành viên chính phủ,
tất cả các bộ ngành đều phải là đối tượng chất
vấn, giám sát. Chất lượng chất vấn và trả lời phải
được nâng cao, đối thoại, tranh luận, hỏi - đáp
trực tiếp, đó là nơi những người được dân uỷ quyền
cùng vì dân mà thể hiện cao nhất năng lực cũng như
trách nhiệm của mình. Đó không phải là nơi hai bên
trao đổi diễn văn, báo cáo chuẩn bị sẵn cho nhau.
Phải làm sao cho công việc này không rơi vào
hình thức, muốn
vậy phải tìm cách kiểm tra xem tình hình chuyển
biến như thế nào giữa 2 kỳ họp, từ những sự trả
lời và hứa hẹn của các Bộ trưởng trước Quốc hội .
- Áp dụng thường xuyên và mạnh mẽ chế độ Quốc hội
xem xét, bỏ phiếu tín nhiệm các thành viên chính
phủ,
tạo ra một tâm lý xã hội cho những người giữ chức
quyền phải luôn luôn coi trọng dư luận xã hội, chủ
động và đủ sức vượt qua áp lực xã hội để quản lý,
cầm quyền cho tốt hơn, nhất là chống quan liêu
tham nhũng.
- Đặc biệt chú trọng hoạt động phân bố, quyết định
ngân sách của Quốc hội,
thực hiện vai trò giám sát, kiểm tra của Quốc hội
đối với các cơ quan nhà nước và xã hội nói chung.
- Xây dựng và thực hiện quy chế hay cơ chế làm
việc, phối hợp giữa Quốc hội với lãnh đạo Đảng,
với Chính phủ, với Mặt trận và đoàn thể để thực
thi dân chủ một cách thực chất, nghiêm túc nhất.
Đó là những vấn đề, những nhiệm vụ đặt ra cần giải
quyết, đảm bảo cho Quốc hội thực sự là Quốc hội
của dân, do dân, vì dân, môt Quốc hội mang tinh
thần đổi mới, kếp hợp và gắn liền trí tuệ - dân
chủ - đoàn kết - đổi mới với nhau, đảm bảo cho
Quốc hội thực sự trọng dân, trọng pháp./
|