|
TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẠI BIỂU QUỐC
HỘI VỚI CỬ TRI
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
Khúc Bảo Tuý
Phó Vụ trưởng Vụ công tác đại biểu
Ngay khi giành được độc lập, xoá bỏ ách
thống trị của thực dân phong kiến, lần đầu
tiên quyền làm chủ của người dân nước ta đã
được thừa nhận và quy định trong Hiến pháp
1946: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ
cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là
của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân
biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai
cấp, tôn giáo”. Kế thừa và phát triển
các tư tưởng tiến bộ của bản Hiến pháp đầu
tiên, các bản Hiến pháp tiếp theo của nước
ta đều khẳng định “Nhà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền
lực Nhà nước thuộc về nhân dân”. Tuy
nhiên nhân dân không thể trực tiếp thực
hiện quyền lực Nhà nước mà phải bầu ra người
đại diện cho mình để thực thi quyền lực Nhà
nước, người đó là đại biểu Quốc hội và đại
biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Chính vì vậy, khi đề cập đến mối quan hệ
giữa đại biểu Quốc hội với cử tri, trước hết
chúng ta phải xác định đây là mối quan hệ
hữu cơ, biện chứng giữa hai chủ thể: người
đại diện quyền lực nhân dân, thay mặt nhân
dân thực hiện quyền lực Nhà nước và người
dân làm chủ, uỷ quyền cho người đại diện của
mình trong cơ quan quyền lực Nhà nước.
I- Căn cứ pháp lý
Điều 97 của Hiến pháp năm 1992 quy định: “đại
biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí,
nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện
cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn
đại diện cho nhân dân cả nước. Đại biểu
Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri,
chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và
phản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng
của cử tri với Quốc hội và các cơ quan Nhà
nước hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và
báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và
của Quốc hội; trả lời những yêu cầu và kiến
nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc, theo dõi
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực
hiện các quyền đó”.
Để cụ thể hoá Điều 97 của Hiến pháp, Luật tổ
chức Quốc hội đã quy định: “đại biểu Quốc
hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu
sự giám sát cuả cử tri, thường xuyên tiếp
xúc với cử tri” (Điều 51). Như vậy, Luật
tổ chức Quốc hội đã phát triển mối quan hệ
giữa đại biểu Quốc hội với cử tri là phải
liên hệ chặt chẽ với cử tri nhưng cũng phải
thường xuyên tiếp xúc với cử tri. Ngoài ra,
mỗi năm ít nhất một lần đại biểu Quốc hội
phải báo cáo trước cử tri về việc thực hiện
nhiệm vụ đại biểu của mình. Cử tri có thể
trực tiếp hoặc thông qua Mặt trận Tổ quốc
yêu cầu đại biểu báo cáo công tác, có thể
nhận xét đối với việc thực hiện nhiệm vụ của
đại biểu Quốc hội.
Điều 12 của Quy chế hoạt động của đại biểu
Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội quy định:
“đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp
xúc cử tri theo chương trình tiếp xúc cử tri
của Đoàn đại biểu Quốc hội. Trong trường hợp
không thể tham gia tiếp xúc cử tri thì đại
biểu Quốc hội báo cáo với Trưởng Đoàn đại
biểu Quốc hội. Đại biểu Quốc hội có thể tiếp
xúc cử tri nơi cư trú, nơi làm việc”.
Để hoạt động tiếp xúc cử tri trở thành hoạt
động thường xuyên, đi vào thực chất và đa
dạng các hình thức tiếp xúc, ngày 10/9/2004,
Uỷ ban thường vụ Quốc hội phối hợp với Đoàn
Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam có Nghị quyết liên tịch số
06/2004/NQLT/UBTVQH11-ĐCTUBTWMTTQVN ban hành
Hướng dẫn về việc đại biểu Quốc hội tiếp xúc
cử tri, trong đó quy định “Ngoài những
đợt tiếp xúc cử tri theo định kỳ trước và
sau kỳ họp Quốc hội, đại biểu Quốc hội cần
tiếp xúc cử tri cả ở nơi cư trú và nơi làm
việc; tiếp xúc cử tri theo các chuyên đề,
lĩnh vực mà đại biểu Quốc hội quan tâm hoặc
trực tiếp gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri”.
Như vậy, các quy định của Hiến pháp, Luật và
các văn bản liên quan đến mối quan hệ giữa
đại biểu Quốc hội với cử tri là hoạt động
tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội. Hoạt
động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
là một trong những hoạt động rất quan trọng
không thể thiếu được của đại biểu Quốc hội,
nó là cầu nối thông tin để đại biểu Quốc hội
có thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Việc đổi mới và tăng cường mối quan hệ giữa
đại biểu Quốc hội với cử tri là một yêu cầu
khách quan nhằm đáp ứng nhiệm vụ ngày càng
cao của cơ quan dân cử trong đó có tổ chức
Quốc hội.
II. Thực trạng mối quan hệ của đại biểu Quốc
hội với cử tri
Mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với cử
tri thực chất là việc đại biểu Quốc hội tiếp
xúc cử tri, lắng nghe, tiếp thu ý kiến, kiến
nghị của cử tri để phản ánh với Quốc hội và
để nắm thông tin phục vụ cho hoạt động đại
biểu của mình. Qua theo dõi thực tiễn hoạt
động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội,
chúng tôi thấy rằng từ nhiều khoá Quốc hội
đến nay, nhìn chung các Đoàn đại biểu Quốc
hội tổ chức cho các đại biểu tiếp xúc cử tri
trước và sau kỳ họp là khá nề nếp. Và cứ mỗi
kỳ họp thì chúng ta thu nhận được hàng nghìn
ý kiến, kiến nghị của cử tri tập hợp lại để
báo cáo tại kỳ họp. Và chính từ những ý
kiến, kiến nghị đó mà chúng ta báo cáo với
Quốc hội, đây là cơ sở để Quốc hội thảo
luận, đánh giá tình hình kinh tế- xã hội của
đất nước, cũng như là thực hiện việc giám
sát, đánh giá về những hoạt động chung của
Chính phủ và các cơ quan tư pháp trong việc
thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội. Tuy
nhiên, chúng ta cũng đều nhận rõ vấn đề mối
quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với cử tri
cũng như chất lượng tiếp xúc cử tri của đại
biểu Quốc hội còn nhiều vấn đề phải bàn và
phải tiếp tục nâng cao. Mối quan hệ này vẫn
là mối quan hệ 1 chiều, thụ động, bởi lẽ đại
biểu Quốc hội vẫn tiếp xúc cử tri theo định
kỳ trước và sau kỳ họp là chủ yếu, mà không
đa dạng các hình thức tiếp xúc cử tri. Chúng
tôi xin đề cập về thực trạng này trên một số
khía cạnh sau:
1. Về hình thức tiếp xúc cử tri
Hiện nay có 2 hình thức tiếp xúc cử tri, đó
là Hội nghị tiếp xúc cử tri và gặp gỡ, tiếp
xúc cá nhân hoặc nhóm cử tri. Hội nghị tiếp
xúc cử tri lại được chia thành Hội nghị tiếp
xúc cử tri theo định kỳ trước và sau kỳ họp
Quốc hội tại địa phương nơi đại biểu Quốc
hội ứng cử, Hội nghị tiếp xúc cử tri nơi cư
trú, nơi làm việc và Hội nghị tiếp xúc cử
tri theo chuyên đề, lĩnh vực mà đại biểu
Quốc hội quan tâm. Qua báo cáo tình hình
tiếp xúc cử tri của các Đoàn đại biểu Quốc
hội cho thấy hình thức Hội nghị tiếp xúc cử
tri đang được dùng phổ biến, mà chủ yếu là
tiếp xúc định kỳ trước và sau kỳ họp Quốc
hội. Từ đó có tình trạng ở nhiều nơi, thành
phần tham dự tiếp xúc cử tri là các “đại cử
tri”, nhất là các đồng chí đại diện lãnh đạo
các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể ở địa
phương, cơ sở, các đồng chí cán bộ hưu trí
đến nhiều. Còn đối tượng cử tri trẻ, doanh
nghiệp, cán bộ nghiên cứu, cử tri ở cơ sở,
cử tri trực tiếp sản xuất thì rất ít. Đấy là
hạn chế làm chúng ta chưa lắng nghe được ý
kiến của đông đảo cử tri.
Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ
Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Hướng dẫn
về việc đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri đã
quy định cụ thể các hình thức tiếp xúc cử
tri và việc tổ chức thực hiện tiếp xúc cử
tri cho mỗi hình thức tiếp xúc. Qua theo dõi
cho thấy, việc tiếp xúc cử tri tại nơi làm
việc và nơi cư trú mới chỉ được thực hiện
một cách cá biệt. Tuy nhiên, hiệu quả và tác
dụng của hình thức tiếp xúc này là rất rõ
rệt. Những cử tri tại nơi đại biểu Quốc hội
làm việc và cư trú qua tiếp xúc đều rất phấn
khởi bày tỏ những tâm tư, nguyện vọng của
mình với mong muốn đại biểu Quốc hội sẽ là
cầu nối để cử tri có thể thực hiện quyền làm
chủ của mình. Từ đó cho thấy việc đa dạng
hoá các hình thức tiếp xúc cử tri là rất cần
thiết và cấp bách để từng bước nâng cao chất
lượng của công tác tiếp xúc cử tri nói riêng
và tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa đại
biểu Quốc hội và cử tri nói chung.
Ngoài ra, việc tiếp xúc cử tri hiện nay vẫn
là tiếp xúc một chiều, đại biểu Quốc hội chủ
động tiếp xúc khi có nhu cầu mà chưa có sự
chủ động nào từ phía cử tri. Cũng có ý kiến
cho rằng việc hàng tháng các Đoàn đại biểu
Quốc hội đều có chương trình tiếp công dân,
thì các cử tri có thể bày tỏ ý kiến của
mình. Chúng tôi cho rằng, phải quan niệm
việc tiếp xúc cử tri là công việc thường
xuyên của đại biểu Quốc hội. Các đại biểu là
do cử tri bầu ra nên quyền yêu cầu được gặp
gỡ, tiếp xúc với đại biểu phải được ưu tiên
cho các cử tri. Khi cử tri có yêu cầu tiếp
xúc thì Văn phòng giúp việc Đoàn đại biểu
Quốc hội có trách nhiệm giúp đại biểu Quốc
hội sắp xếp, bố trí để đại biểu Quốc hội có
thể gặp gỡ cử tri.
2. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn
vị trong việc thúc đẩy mối quan hệ giữa đại
biểu Quốc hội với cử tri
Mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với cử
tri là gắn bó hữu cơ, nhưng để mối quan hệ
này thực chất và có hiệu quả thì vai trò tổ
chức, giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức hữu
quan là rất quan trọng, có tính chất cầu nối
để thúc đẩy mối quan hệ này có cả chiều rộng
và chiều sâu. Như Nghị quyết liên tịch giữa
Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
ban hành Hướng dẫn về việc đại biểu Quốc hội
tiếp xúc cử tri đã khẳng định: “Đoàn đại
biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân
dân, Uỷ ban nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc các cấp và các cơ quan, đơn
vị, tổ chức hữu quan trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp
chuẩn bị và tổ chức chu đáo các hội nghị
tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội”.
Qua thực tiễn tiếp xúc cử tri thời gian qua,
có thể nói vai trò của Đoàn đại biểu Quốc
hội và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội là
rất quan trọng. Điều đó được thể hiện trong
trong việc xây dựng kế hoạch tiếp xúc cử
tri; tổ chức thực hiện kế hoạch tiếp xúc cử
tri của đại biểu Quốc hội; việc phân công
các đại biểu Quốc hội trong Đoàn tiếp xúc cử
tri tại các đơn vị bầu cử ở địa phương; việc
phối hợp với các cơ quan tuyên truyền ở địa
phương để thông báo trên các phương tiện
thông tin đại chúng về nội dung, thời gian,
địa điểm các cuộc tiếp xúc giữa đại biểu
Quốc hội với cử tri.
Bên cạnh đó, nhắc đến vai trò của các cơ
quan trong việc thúc đẩy mối quan hệ giữa
đại biểu Quốc hội với cử tri, thì không thể
không nhắc đến vai trò rất quan trọng của Uỷ
ban Mặt trận tổ quốc các cấp. Phát huy vai
trò là cơ sở chính trị cuả chính quyền nhân
dân, nơi thể hiện ý chí nguyện vọng, tập hợp
khối đại đoàn kết toàn dân, nơi hiệp thương
và thống nhất tổ chức hành động của các tổ
chức thành viên, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các
cấp đã phối hợp chặt chẽ với Đoàn đại biểu
Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ
ban nhân dân và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc
hội trong việc xây dựng chương trình, tổ
chức thực hiện chương trình, chủ trì các
cuộc tiếp xúc và tổng hợp ý kiến, kiến nghị
của cử tri. Ngoài ra, Mặt trận tổ quốc còn
vận động nhân dân tham gia quản lý nhà nước,
giám sát các hoạt động của chính quyền và
hoạt động của các đại biểu Quốc hội do chính
mình bầu ra, để đại biểu Quốc hội thực sự là
đại biểu của dân.
Sự ra đời của Văn phòng giúp việc Đoàn đại
biểu Quốc hội cũng là một điều kiện quan
trọng giúp cho chất lượng công tác tiếp xúc
cử tri của đại biểu Quốc hội nâng lên một
bước. Văn phòng phục vụ Đoàn đại biểu Quốc
hội có trách nhiệm giúp Đoàn đại biểu Quốc
hội trong việc xây dựng kế hoạch tiếp xúc cử
tri; việc phối hợp với Ban thường trực Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc, Thường trực Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức
để đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri; việc
theo dõi, rà soát và đôn đốc giải quyết, trả
lời kiến nghị của cử tri đã nêu tại kỳ tiếp
xúc trước; chuẩn bị tài liệu phục vụ công
tác tiếp xúc cử tri và kinh phí phục vụ cuộc
tiếp xúc.
3. Việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử
tri
Việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri
là một nhiệm vụ rất quan trọng của các cơ
quan, tổ chức hữu quan, có ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả của công tác tiếp xúc cử
tri, tác động lớn đến mối quan hệ giữa đại
biểu Quốc hội với cử tri. Luật và các văn
bản hướng dẫn chỉ quy định đại biểu Quốc hội
có trách nhiệm tập hợp, tổng hợp ý kiến,
kiến nghị của cử tri và giám sát việc giải
quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri. Trong
thời gian qua, hầu hết ý kiến, kiến nghị của
cử tri cả nước đều được Đoàn đại biểu Quốc
hội tập hợp đầy đủ, phân loại theo thẩm
quyền giải quyết và theo từng lĩnh vực cụ
thể. Các ý kiến thuộc thẩm quyền giải quyết
của địa phương thì được gửi cho các cơ quan
nhà nước, tổ chức, đơn vị hữu quan ở địa
phương để nghiên cứu, giải quyết. Các ý kiến
thuộc thẩm quyền của các cơ quan Trung ương
thì Đoàn đại biểu Quốc hội gửi tới Ban dân
nguyện của Uỷ ban thường vụ Quốc hội để
chuyển tới các Bộ, ngành nghiên cứu giải
quyết, trả lời. Nhìn chung, các Bộ, ngành
đều nghiêm túc trả lời bằng văn bản, trúng
vấn đề mà cử tri quan tâm. Văn bản trả lời
của các bộ, ngành là cơ sở để các Đoàn đại
biểu Quốc hội kiến nghị với cấp uỷ, chính
quyền trong việc lãnh đạo, điều hành công
việc ở địa phương; đồng thời là thông tin để
các vị đại biểu Quốc hội báo cáo với cử tri.
Tuy nhiên, vẫn còn có một số văn bản trả lời
ý kiến, kiến nghị cử tri còn chung chung,
chưa đáp ứng được vấn đề cử tri kiến nghị,
cá biệt có vấn đề không được trả lời, để cử
tri kiến nghị nhiều lần; nhiều ý kiến, kiến
nghị của cử tri chậm được giải quyết, hoặc
những điều đã hứa vởi cử tri chưa được các
cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết một
cách đầy đủ, kịp thời, còn tình trạng hứa
nhưng “không giải quyết”.
4. Mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội kiêm
nhiệm với cử tri
Hiện nay, Quốc hội khoá XI với số lượng 120
đại biểu Quốc hội chuyên trách tại các cơ
quan của Quốc hội và tại các địa phương, có
thể nói số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động
kiêm nhiệm vẫn chiếm đa số.
Trước đây, đại biểu Quốc hội chuyên trách
chủ yếu tại các cơ quan của Quốc hội, đại
biểu Quốc hội ở các địa phương hầu hết là
các đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm
cho nên sau kỳ họp đều tập trung giải quyết
công việc của cơ quan, đơn vị mình. Điều
kiện dành cho công tác tiếp xúc cử tri nói
riêng và dành cho việc thực hiện trách nhiệm
đại biểu Quốc hội nói chung còn nhiều hạn
chế. Hầu hết các đại biểu Quốc hội kiêm
nhiệm chỉ sắp xếp thời gian định kỳ trước và
sau kỳ họp Quốc hội. Bên cạnh đó, nhiều vị
đại biểu Quốc hội vẫn chưa quan tâm đúng mức
trong việc thực hiện trách nhiệm tiếp xúc cử
tri, chưa tự mình xây dựng kế hoạch tìm đối
tượng và hình thức tiếp xúc cử tri cũng như
là chưa lưu tâm đến việc giải quyết ý kiến,
kiến nghị. Do vậy, những ý kiến, kiến nghị
của cử tri chưa được giải quyết một cách kịp
thời và thoả đáng. Có tình trạng là rất
nhiều ý kiến, kiến nghị của cử tri do đại
biểu Quốc hội nêu lên bị các cơ quan đùn đẩy
hoặc là né tránh. Cho nên hiệu quả của việc
tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội bị hạn
chế rất nhiều. Nếu tình hình này kéo dài thì
sẽ ảnh hưởng đến uy tín của đại biểu Quốc
hội và ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ
giữa đại biểu Quốc hội với cử tri. Có những
đại biểu Quốc hội, chính vì vậy mà “ngại”
tiếp xúc cử tri. Đó là tình hình trước đây
khi chúng ta chưa có đại biểu Quốc hội
chuyên trách.
5. Mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội chuyên
trách với cử tri.
Vấn đề tiếp theo là vai trò, vị trí và trách
nhiệm của đại biểu Quốc hội chuyên trách
trong việc góp phần vào việc nâng cao hiệu
qủa tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội,
tăng cường mối quan hệ giữa đại biểu Quốc
hội với cử tri. Đại biểu Quốc hội chuyên
trách và đại biểu Quốc hội nói chung về
trách nhiệm tiếp xúc cử tri thì không có gì
khác nhau. Điều đó đã được các văn bản pháp
luật quy định rõ. Bên cạnh những khó khăn
chung, thì các đại biểu Quốc hội chuyên
trách có điều kiện thuận lợi hơn trong mối
quan hệ, tiếp xúc với cử tri. Đó là điều
kiện về thời gian, có điều kiện tiếp cận các
nội dung, các báo cáo mà Quốc hội đưa ra bàn
nghị sự để xem xét. Từ đó, việc tăng cường
mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với cử
tri, phải bắt đầu từ trách nhiệm của mỗi đại
biểu Quốc hội nói chung và các đại biểu Quốc
hội chuyên trách nói riêng.
Quốc hội khoá XI, cùng với sự tăng lên về số
lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách ở cả
các cơ quan của Quốc hội và Đoàn đại biểu
Quốc hội, mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội
với cử tri cũng được nâng lên một bước. Hoạt
động tiếp xúc cử tri nói riêng được cải
tiến, chất lượng nâng lên đáng kể, giảm dần
tính hình thức đơn điệu và ngày càng thiết
thực hiệu quả, hình thức tiếp xúc cử tri có
đa dạng và linh hoạt hơn. Có được sự chuyển
biến này, phần lớn là do chúng ta có đại
biểu Quốc hội chuyên trách ở địa phương nên
có điều kiện thuận lợi trong việc lập kế
hoạch và tổ chức hoạt động tiếp xúc cử tri.
Bởi lẽ các vị đại biểu Quốc hội chuyên trách
ở địa phương hầu hết là Trưởng, Phó Đoàn đại
biểu Quốc hội, vì vậy có điều kiện chủ động
về thời gian để xây dựng kế hoạch tiếp xúc
cử tri. Các đại biểu này căn cứ vào chương
trình, kế hoạch hoạt động của Quốc hội, của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, tình hình thực tế
ở địa phương và yêu cầu của đại biểu trong
Đoàn (nếu có), để chỉ đạo Văn phòng Đoàn đại
biểu Quốc hội xây dựng kế hoạch tiếp xúc cử
tri và phân công các vị đại biểu Quốc hội
trong Đoàn thực hiện kế hoạch đó.
Ngoài ra, đại biểu Quốc hội chuyên trách
cũng thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn như
một đại biểu Quốc hội trong Đoàn là có trách
nhiệm tiếp xúc cử tri do Đoàn đại biểu Quốc
hội phân công. Mặt khác, với vai trò là chủ
trì, điều phối việc thực hiện kế hoạch tiếp
xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội, đại
biểu Quốc hội chuyên trách ở địa phương có
tác động rất tích cực thúc đẩy, hỗ trợ các
đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm tăng cường
trách nhiệm hoạt động tiếp xúc cử tri của
mình. Bên cạnh đó, nhiều khi có tình trạng
đại biểu Quốc hội trong Đoàn chưa sắp xếp
được thời gian để tham dự đầy đủ các cuộc
tiếp xúc cử tri do Đoàn đại biểu Quốc hội
phân công, trong trường hợp đó, vai trò của
đại biểu Quốc hội chuyên trách được thể hiện
rất rõ rệt, việc tổ chức tiếp xúc cử tri ở
đơn vị bầu cử đó vẫn được tiến hành theo kế
hoạch đã thống nhất.
III- Những đề xuất tăng cường mối quan hệ
giữa đại biểu Quốc hội với cử tri
Trên cơ sở phân tích thực trạng mối quan hệ
giữa đại biểu Quốc hội với cử tri, chúng tôi
xin đề xuất một số vấn đề cần quan tâm cải
tiến để tăng cường mối quan hệ giữa đại biểu
Quốc hội với cử tri:
1.
Thực hiện tốt các quy định về các hình thức
tiếp xúc cử tri để khắc phục tính hình thức
trong việc tiếp xúc cử tri, hạn chế việc
tiếp xúc “cử tri chuyên nghiệp” hoặc “đại cử
tri”. Tổ chức tiếp xúc cử tri phù hợp với
từng đối tượng cử tri để lắng nghe được
nhiều ý kiến, kiến nghị của cử tri, như tiếp
xúc cử tri nơi công tác (làm việc), tiếp xúc
cử tri nơi cư trú; hoặc tổ chức hội nghị
tiếp xúc cử tri với thành phần đa dạng, đại
diện được đầy đủ các tầng lớp nhân dân, như
mời đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và đại
diện các đoàn thể quần chúng, các hội đoàn;
đại diện UBND và lãnh đạo các Sở, Ban, ngành
và lãnh đạo các huyện, quận…
Đối với các cuộc tiếp xúc cử tri trước và
sau kỳ họp Quốc hội để thu thập ý kiến, kiến
nghị của cử tri đóng góp vào chương trình kỳ
họp, nội dung kỳ họp và báo cáo kết quả kỳ
họp Quốc hội với cử tri, có thể tổ chức tiếp
xúc cử tri theo giới, ngành, Mặt trận tổ
quốc và các đoàn thể; tiếp xúc cử tri là cán
bộ công nhân viên, các nhà doanh nghiệp là
đối tượng điều chỉnh của luật hoặc có trách
nhiệm thực thi pháp luật để báo cáo chuyên
sâu về từng bộ luật hoặc những vấn đề, những
lĩnh vực cần tập trung chỉ đạo để thực hiện
tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội theo
Nghị quyết của Quốc hội.
2.
Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, đồng
thời, tăng cường đại biểu Quốc hội chuyên
trách. Đây chính là yêu cầu quan trọng nhất
để đổi mới, nâng cao hiệu lực và hiệu quả
hoạt động của Quốc hội nói chung cũng như
mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với cử
tri nói riêng. Cần phải qui định rõ ràng
tiêu chuẩn của những người ra ứng cử đại
biểu Quốc hội (chứ không phải tiêu chuẩn đại
biểu Quốc hội như Luật bầu cử qui định).
Ngoài các quy định về năng lực, trình độ,
cần quy định thêm về tiêu chuẩn có điều kiện
để tham gia các hoạt động của Quốc hội như
thời gian, sức khoẻ và tâm huyết với công
tác và được đào tạo các kỹ năng hoạt động
Quốc hội như kỹ năng tiếp xúc cử tri, kỹ
năng giám sát…. Song song với chất lượng đại
biểu Quốc hội, thì trong những năm tới, cần
phải tăng cường số lượng và nâng cao chất
lượng hoạt động của đại biểu Quốc hội chuyên
trách. Quốc hội cần có một tỷ lệ thích hợp
các đại biểu hoạt động chuyên trách ở Hội
đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội và các
Đoàn đại biểu Quốc hội. Cần phải chuẩn bị
nhân sự đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên
trách ngay từ khi chuẩn bị bầu cử. Ngoài ra,
hoạt động tiếp xúc cử tri, tăng cường mối
quan hệ với cử tri là một hoạt động thường
xuyên và không thể thiếu của đại biểu Quốc
hội. Các vị đại biểu Quốc hội cần chủ động
sắp xếp thời gian và chủ động trong công tác
này và yêu cầu Văn phòng giúp việc Đoàn đại
biểu Quốc hội phối hợp với các cơ quan ở địa
phương triển khai và coi đây là một tiêu
chuẩn khi xem xét đánh giá các hoạt động của
đại biểu Quốc hội hàng năm.
3.
Cần bỗi dưỡng kỹ năng tiếp xúc cử tri cho
các vị đại biểu Quốc hội và đề cao tinh thần
trách nhiệm của đại biểu Quốc hội trước cử
tri. Văn phong Quốc hội cũng rất quan tâm
đến công tác này và đã thành lập Trung tâm
bồi dưỡng đại biểu dân cử. Hiện nay Trung
tâm này đã dần kiện toàn và đi vào hoạt
động. Sắp tới, hoạt động của Trung tâm cần
được tăng cường, việc nâng cao kỹ năng hoạt
động của đại biểu dân cử nói chung và kỹ
năng tiếp xúc cử tri nói riêng là yêu cầu
khách quan để nâng cao chất lượng hoạt động
của đại biểu Quốc hội, từng bước nâng cao
chất lượng hoạt động chung của Quốc hội.
4.
Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban thường trực
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, Văn phòng
Đoàn đại biểu Quốc hội và các cơ quan, đơn
vị, tổ chức hữu quan cần phối hợp tốt để
chuẩn bị và tổ chức chu đáo các hội nghị
tiếp xúc cử tri cũng như phục vụ các cuộc
gặp gỡ giữa đại biểu Quốc hội với cử tri. Có
thể nói các cơ quan này là những đầu mối rất
quan trọng, góp phần vào việc tăng cường mối
quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với cử tri.
5.
Cần đẩy mạnh công tác giải quyết các ý kiến,
kiến nghị của cử tri. Đây là việc làm rất
khó vì liên quan đến thẩm quyền giải quyết
của nhiều cấp, ngành ở cả trung ương và địa
phương. Các vị đại biểu Quốc hội cần tích
cực đôn đốc, theo dõi tình hình giải quyết
của các cơ quan mà mình đã chuyển ý kiến đến
để kịp thời thông báo với cử tri, nếu cần có
thể tự mình tìm hiểu và trao đổi với cơ quan
có thẩm quyền để làm rõ vấn đề, bảo đảm
quyền lợi của cử tri. Khi những ý kiến, kiến
nghị của cử tri được giải quyết thì niềm tin
của cử tri đối với đại biểu Quốc hội sẽ được
nâng lên, mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội
với cử tri sẽ gần gũi và gắn kết hơn. |