|
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG QUỐC HỘI THỰC
HIỆN
QUYỀN LỰC CỦA NHÂN DÂN TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
VIỆT NAM
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
GS. TS Lê Hữu Nghĩa
Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản
Trong Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội Đảng
lần thứ VII năm 1991 đã khẳng định Chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư
tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách
mạng ở nước ta. Việc chính thức đưa tư tưởng
Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng đánh
dấu một bước tiến mới, một bước phát triển quan
trọng trong tư duy lý luận của Đảng là nhận thức
đầy đủ hơn, sâu sắc hơn vai trò, vị trí của tư
tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng nước ta. Tư
tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn
diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách
mạng Việt Nam, trong đó tư tưởng về xây dựng Nhà
nước kiểu mới nói chung, xây dựng Quốc hội của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân nói riêng giữ
vị trí hết sức quan trọng.
1- Cũng giống như các tư tưởng khác, tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới; về xây
dựng Quốc hội thực hiện quyền lực của nhân dân
cũng trải qua một quá trình hình thành và phát
triển. Thông qua nghiên cứu lý luận, trải nghiệm
thực tiễn, tổng kết những kinh nghiệm và bài học
về xây dựng Nhà nước trong lịch sử dân tộc và lịch
sử thế giới. Hồ Chí Minh đã ngày càng tiếp cận đến
những tư tưởng tiến bộ về Nhà nước, về Quốc hội.
Quá trình đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh
cũng là quá trình tìm tòi một mô hình Nhà nước
tiến bộ trong đó có một mô hình Quốc hội phù hợp
cho đất nước sau khi giành được độc lập.
Qua nghiên cứu chế độ Nhà
nước ở các nước tư bản như Pháp, Mỹ… Hồ Chí Minh
nhận thấy rằng thực chất của khẩu hiệu “tự do,
bình đẳng, bác ái” do giai cấp tư sản nêu ra là tự
do tư sản, bình đẳng tư sản và bác ái tư sản mà
thôi, là chứa đựng sự bất bình đẳng, mất tự do, sự
nghèo khổ, bất công, đối xử tàn bạo đối với người
lao động. Nguyên nhân của tình trạng đó theo Người
là do “những cuộc cách mạng không đến nơi”, chính
quyền vẫn ở trong tay một số ít người, cho nên
“cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng
công nông vẫn cứ cực khổ”.
Chỉ khi đến Liên Xô, người mới tìm thấy một mô
hình nhà nước kiểu mới, ở đó “phát đất ruộng cho
dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền,… ra sức
tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế
giới đại đồng”.
Mô hình nhà nước đó đã gợi ra cho Người về một
kiểu nhà nước sẽ được xây dựng ở Việt Nam trong
tương lai.
Năm 1941, Hồ Chí Minh về
nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, chủ trì Hội
nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1941) thực hiện sự
chuyển hướng chiến lược và sách lược cách mạng.
Trong Chương trình Việt Minh do Người đề ra
sau đó đã khẳng định : “Sau khi đánh đuổi được đế
quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một Chính phủ nhân
dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà… Chính phủ ấy do
quốc dân đại hội cử ra”.
Ở đây tư tưởng về nhà nước là đại biểu cho khối
đoàn kết của toàn thể quốc dân là tư tưởng sáng
suốt của Hồ Chí Minh, phù hợp với nét đặc thù của
thực tiễn dân tộc.
Đến năm 1945, phong trào cách mạng phát triển
mạnh, căn cứ địa cách mạng được mở rộng, khu giải
phóng ra đời, Uỷ ban nhân dân cách mạng cũng được
thành lập để thi hành 10 chính sách của Việt Minh.
Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào đã
quyết định phát động Tổng khởi nghĩa, thành lập Uỷ
ban dân tộc giải phóng Việt Nam, ra mắt Quốc dân
Đại hội làm chức năng Chính phủ lâm thời ngay sau
Cách mạng tháng Tám thắng lợi.
Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập,
bản Tuyên ngôn nổi tiếng về quyền của các
dân tộc, long trọng tuyên bố với quốc dân đồng bào
và với thế giới về sự khai sinh của Nhà nước Việt
Nam mới. Tuyên ngôn đã khẳng định quyền độc lập tự
do của dân tộc Việt Nam và đặt cơ sở pháp lý cho
sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Sau đó một ngày tại phiên
họp đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà (ngày 3-9-1945), Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ
cấp bách là: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân
chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng
hay cuộc Tổng Tuyển Cử với chế
độ phổ thông đầu phiếu”
để sớm có một nhà nước hợp hiến do nhân dân bầu
ra. Ngày 17-9-1945 Người ký sắc lệnh ấn định thể
thức Tổng tuyển cử, ngày 20-9-1945 ký sắc lệnh
thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 vị do
Người làm Trưởng ban. Và cuộc Tổng tuyển cử trong
cả nước đã được tiến hành vào ngày 6-1-1946 với
khoảng 90% cử tri đi bỏ phiếu bất chấp những khó
khăn do thù trong giặc ngoài gây ra. Kết quả đã có
333 đại biểu trúng cử. Ngày 2-3-1946 Quốc hội mới
– cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đã họp phiên
đầu tiên, mở rộng thêm 50 ghế cho Việt Nam Quốc
dân đảng và 20 ghế cho Việt Nam Cách mạng đồng
minh hội theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Quốc hội đã cử ra Chính phủ liên hiệp kháng chiến
do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, đây là Chính phủ
hợp hiến đầu tiên do đại biểu của nhân dân bầu ra.
Và ngày 9-11-1946 bản Hiến pháp mới đã được Quốc
hội thông qua, trong đó quy định rõ các quyền tự
do dân chủ của nhân dân dưới một chính thể dân chủ
rộng rãi. Trong Hiến pháp 1946 cũng như trong các
bài nói, bài viết và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã thể hiện rất rõ tư tưởng của Người về xây
dựng một Nhà nước Việt Nam kiểu mới của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân, xây dựng một Quốc hội
với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất, là cơ quan đại diện dân cử cao nhất, thể
hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân.
2- Tư tưởng xây dựng Nhà nước, xây dựng
Quốc hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là
sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng nhà nước, xây dựng Quốc hội Việt
Nam.
Trước hết Hồ Chí Minh khẳng định bản chất dân chủ
của chế độ ta, nhà nước ta. Trong một chế độ dân
chủ, nhà nước dân chủ, người dân được đặt ở vị trí
cao nhất – dân là chủ, dân làm chủ, còn các cơ
quan nhà nước và cán bộ nhà nước chỉ là đày tớ, là
“công bộc” của nhân dân. Người khẳng định:
“Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do
dân cử ra…
Nói tóm lại, quyền hành và
lực lượng đều ở nơi dân”
Trong thư gửi Uỷ ban nhân dân các cấp tháng
10-1945, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta phải hiểu
rằng, các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc cho
đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để
gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu
dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của
Pháp, Nhật.
Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm
Việc gì hại đến dân ta phải
hết sức tránh”
Người còn khẳng định rằng:
“Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc
đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ”;
“từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy,
nếu không làm được việc cho dân, thì dân không cần
đến nữa”,
thậm chí Người còn nói: “Nếu chính phủ làm hại dân
thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.
Nghĩa là khi các cơ quan nhà nước không đáp ứng
được lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì sẽ bị
nhân dân bãi miễn. Sau khi giành được chính quyền,
nhân dân uỷ quyền cho các đại diện do mình bầu ra.
Cho nên theo Hồ Chí Minh “nhân dân có quyền bãi
miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân
dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng
với sự tín nhiệm của nhân dân”.
Ngay sau khi giành được
chính quyền, Hồ Chí Minh đã sớm nhìn thấy nguy cơ
thoái hoá biến chất, xa dân, mất dân chủ từ trong
bộ máy chính quyền nhà nước và các cán bộ, công
chức nhà nước và Người đã kịch liệt phê phán. Ngày
17-9-1945, tức 15 ngày sau khi đọc Tuyên ngôn
độc lập, trong thư gửi các đồng chí tỉnh Nghệ
An, Hồ Chí Minh viết: “Chúng ta đã lập nên một
chính thể Dân chủ Cộng hoà, nay cần bắt tay
ngay vào công việc dọn dẹp, sắp đặt, giữ gìn kiến
thiết. Trong điều kiện mới, nhiều cán bộ Đảng, Nhà
nước, đoàn thể vẫn cúc cung tận tuỵ nhưng cũng có
người lên mặt làm quan Cách mạng, miệng thì nói
dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối quan chủ,
miệng nói phụng sự quần chúng, khi làm thì trái
ngược với lợi ích của quần chúng”.
Người yêu cầu cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống
đều phải là đày tớ trung thành của nhân dân. Người
nói: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ
trưởng, uỷ viên này khác là làm gì?
Làm đày tớ. Làm đày tớ cho
nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”.
Mặt khác, Hồ Chí Minh không
bao giờ đối lập vai trò người lãnh đạo với người
đày tớ của nhân dân trong bản thân người cán bộ
của Đảng và Nhà nước mà trái lại Người yêu cầu
phải làm thế nào để xứng đáng vừa là người lãnh
đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân
dân (Di chúc). Đảng lãnh đạo không có nghĩa
là đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Người viết: “Chế độ ta
là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng
ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ,
từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến
xã, bất kỳ cấp nào và ngành nào - đều phải là
người đày tớ trung thành của nhân dân".
Những chỉ dẫn trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
xây dựng nhà nước dân chủ, Quốc hội của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân, về cán bộ là đày tớ
trung thành của nhân dân, hết lòng vì nhân dân mà
phục vụ mặc dù cách thời điểm hiện nay đã vài chục
năm, thậm chí có chỉ dẫn đã qua 60 năm, song vẫn
mang ý nghĩa trọng đại và nóng hổi, cấp thiết đối
với việc xây dựng Nhà nước nói chung, xây dựng
Quốc hội nói riêng của chúng ta hiện nay. Và một
điều rất đáng tiếc là đã qua 60 năm xây dựng nhà
nước kiểu mới, song những cảnh báo của Chủ tịch Hồ
Chí Minh về nguy cơ tha hoá quyền lực, biến chất,
quan liêu, xa dân, mất dân chủ với dân trong bộ
máy nhà nước vẫn chưa ngăn chặn được, đang đe doạ
sự sống còn của chế độ ta.
Trong việc xây dựng Nhà nước kiểu mới, xây dựng
Quốc hội nhân dân, Hồ Chí Minh đã sớm có tư tưởng
về nhà nước pháp quyền với hiệu lực pháp lý mạnh
mẽ. Ngay từ năm 1919, khi đưa ra yêu sách 8 điểm
gửi tới Hội nghị Véc-xây đã có 4 điểm liên quan
đến vấn đề pháp quyền, còn lại liên quan đến công
lý và quyền con người. Sau này, trong bài Việt
Nam yêu cầu ca, Hồ Chí Minh đã khẳng định vai
trò pháp quyền bằng câu thơ:
“Bảy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh
pháp quyền”
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, để xác lập nền
tảng pháp lý của một nhà nước kiểu mới theo hướng
pháp quyền, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo để soạn thảo
Hiến pháp dân chủ đầu tiên – Hiến pháp 1946. Hiến
pháp 1946 đã tuân thủ 3 nguyên tắc cơ bản của một
Nhà nước dân chủ. Đó là: 1) Đoàn kết toàn dân,
không phân biệt giống nòi, trai gái, giai cấp, tôn
giáo; 2) Bảo đảm các quyền tự do, dân chủ cho nhân
dân; 3) Thực hiện một chính quyền mạnh mẽ và sáng
suốt của nhân dân. Với những nguyên tắc trên đây,
Hiến pháp 1946 đã bảo đảm về mặt pháp lý tất cả
quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân và
Hiến pháp là cơ sở pháp lý để tiến hành công việc
của đất nước.
Theo chương trình làm việc của Quốc hội khoá I,
một số đạo luật quan trọng khác cũng được xúc tiến
soạn thảo. Tuy nhiên kế hoạch trên chưa thực hiện
được bởi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta.
Ngày 19-12-1946 theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, cả nước lại phải bước vào cuộc trường
chinh chống thực dân Pháp, bảo vệ nền độc lập dân
tộc.
Để giải quyết khó khăn do thiếu luật, Chính phủ
cách mạng và Hồ Chí Minh đã điều hành đất nước
bằng chế độ Sắc lệnh – những văn bản pháp luật rất
phù hợp với điều kiện chiến tranh. Trong 24 năm ở
cương vị Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã ký ban hành
2 bản Hiến pháp (1946;1959), 16 đạo luật, 163 sắc
lệnh và nhiều văn bản dưới luật khác. Khối lượng
văn bản luật đó luôn thể hiện tính nhân đạo, nhân
văn, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của nhà nước
dân chủ nhân dân.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh,
một nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh là nhà
nước quản lý đất nước bằng pháp luật và phải làm
cho pháp luật có hiệu lực thực tế. Pháp luật của
nước ta là pháp luật dân chủ, do đó dân chủ phải
đi đôi với pháp luật, pháp luật phải đi đôi với
giáo dục đạo đức. Pháp luật phải nghiêm minh, phải
quy định rõ quyền và nghĩa vụ công dân, thể chế
hoá quyền dân chủ của người dân, pháp luật phải
bảo đảm quyền công dân, quyền con người được tôn
trọng trong thực tế. Vì vậy Hồ Chí Minh rất chăm
lo hoàn thiện Hiến pháp và pháp luật, đồng thời
chăm lo đưa pháp luật vào đời sống, xây dựng cơ
chế kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật;
thực hiện thưởng phạt nghiêm minh: “Không vì công
mà quên lỗi, vì lỗi mà quên công”. Người nhắc nhở
cán bộ phải lo “làm sao cho nhân dân biết hưởng
quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình,
dám nói, dám làm”.
Có thể khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng và
Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ khi thành lập và
trong suốt quá trình quản lý đất nước, Nhà nước ta
ngày càng thể hiện rõ những phẩm chất và đặc trưng
của một nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, luôn là một nhà nước hợp hiến,
hợp pháp, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở
những quy định của Hiến pháp, pháp luật, vận hành
trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Hiến pháp và
hệ thống pháp luật của chúng ta ngày càng được bổ
sung và hoàn thiện không chỉ phù hợp với những đặc
thù của quá trình phát triển đất nước mà còn hướng
tới sự phù hợp với hệ thống công ước và luật pháp
quốc tế. Điều đó gắn liền với vai trò to lớn của
Quốc hội bởi vì Quốc hội là cơ quan duy nhất của
Nhà nước ta có quyền lập hiến và lập pháp.
3- Tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng Quốc hội của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, thực hiện quyền lực, quyền làm
chủ của nhân dân trong một Nhà nước pháp quyền
Việt Nam ngày càng được thể hiện sinh động trong
quá trình xây dựng và phát triển. Từ Quốc hội khóa
I đến nay đã 60 năm, Quốc hội đã trải qua 11 khoá
hoạt động, gắn liền với những giai đoạn lịch sử
của cách mạng nước ta. Trong quá trình đó, Quốc
hội ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng
là cơ quan đại diện dân cử cao nhất, cơ quan quyền
lực nhà nước cao nhất, là đại biểu cho toàn thể
quốc dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định
: “Quốc hội là tiêu biểu cho ý chí thống nhất của
dân tộc ta, một ý chí sắt đá không gì lay chuyển
nổi”.
Tính đại diện cao nhất của Quốc hội nước ta thể
hiện ở chỗ:
-
Quốc hội có cơ cấu thành phần đại biểu đại diện
rộng rãi cho các tầng lớp nhân dân.
-
Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của
mình trên cơ sở sự tín nhiệm của nhân dân, do nhân
dân uỷ quyền.
-
Quốc hội do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm
trước nhân dân. Đại biểu Quốc hội có cơ cấu, thành
phần phản ánh sự đoàn kết rộng rãi các giai cấp,
tầng lớp nhân dân và các dân tộc.
Sáu mươi năm qua Quốc hội nước ta luôn nỗ lực phấn
đấu để thực sự là cơ quan quyền lực của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân. Quốc hội đã thể hiện
ngày càng tốt hơn vai trò quyền lực, ý chí và
nguyện vọng cao nhất của nhân dân. Quốc hội đã ban
hành 4 bản Hiến pháp, 197 luật và Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội đã ban hành 195 pháp lệnh. Những văn bản
pháp luật đó đã đi vào cuộc sống của đất nước và
giữ vai trò là cơ sở pháp lý để nhà nước điều
hành, quản lý đất nước và để điều chỉnh hành vi
của nhân dân.
Đặc biệt trong 20 năm đổi mới đất nước, Quốc hội
ngày càng phát huy vai trò của mình là cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất, từng bước xây dựng,
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
tăng cường pháp chế và hiệu lực quản lý của bộ máy
Nhà nước, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đổi
mới.
Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 1992 – Hiến
pháp cả nước tiến hành đổi mới – và được Quốc hội
sửa đổi vào năm 2001. Cùng với việc sửa đổi Hiến
pháp, Quốc hội đã đẩy mạnh soạn thảo và ban hành
các văn bản pháp luật một cách khẩn trương, đồng
bộ để đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động và
tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Từ năm 1987 đến
tháng 6-2005, Quốc hội đã ban hành 145 luật , bộ
luật, trong đó có 6 bộ luật lớn (chưa kể tại Kỳ
họp thứ 8, Quốc hội khoá XI họp từ 18-10 đến
29-11-2005, Quốc hội đã xem xét và thông qua 14 dự
án luật), 4 quy chế hoạt động của Quốc hội và Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội; đã thông qua và ban hành
149 pháp lệnh. Số bộ luật, luật tăng gấp 3 lần so
với thời kỳ trước đổi mới. Những văn bản luật đó
đã tạo khung khổ pháp lý để nhà nước quản lý bằng
pháp luật trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Hoạt động của Quốc hội ngày càng được cải tiến
theo hướng giảm bớt tính hình thức, ngày càng thực
quyền hơn. Sinh hoạt của Quốc hội được đổi mới
theo hướng ngày càng dân chủ hơn, chất lượng được
nâng cao, thể hiện được tiếng nói, nguyện vọng của
nhân dân.
Tuy nhiên đứng trước cơ hội và thách thức to lớn
của đất nước trong giai đoạn mới, cần phải quán
triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh trong đổi mới
tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, làm
cho Quốc hội ngày càng xứng đáng là đại biểu cao
nhất cho quyền lực của nhân dân và là cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất; là cơ quan duy nhất
có quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước và giám sát tối cao toàn
bộ hoạt động của Nhà nước.
Yêu cầu đổi mới Quốc hội nhằm 1) khắc phục những
hạn chế, yếu kém trong tổ chức và hoạt động của
Quốc hội; 2) phát huy vai trò Quốc hội trong việc
tạo lập môi trường thể chế và điều kiện thuận lợi
cho việc phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa; 3) góp phần hoàn thiện nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa; 4) góp phần xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 5) phát
triển đất nước phù hợp với xu hướng vận động của
thời đại và 6) thúc đẩy quá trình chủ động và tích
cực hội nhập kinh tế quốc tế.
Để thực hiện các yêu cầu trên, chúng ta cần tiếp
tục đổi mới tư duy, nhận thức sâu sắc hơn tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước, về Quốc hội, nâng cao
chất lượng đại biểu Quốc hội và chất lượng hoạt
động của Quốc hội nhằm phát huy mạnh mẽ hơn nữa
vai trò của Quốc hội trong sự nghiệp đổi mới toàn
diện đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh./.
|