Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG QUỐC HỘI THỰC HIỆN

QUYỀN LỰC CỦA NHÂN DÂN TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM

(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển"

Hà Nội, 23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)

GS. TS Lê Hữu Nghĩa

Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

 

Trong Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1991 đã khẳng định Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng ở nước ta. Việc chính thức đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng đánh dấu một bước tiến mới, một bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng là nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn vai trò, vị trí của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng nước ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó tư tưởng về xây dựng Nhà nước kiểu mới nói chung, xây dựng Quốc hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân nói riêng giữ vị trí hết sức quan trọng.

1- Cũng giống như các tư tưởng khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới; về xây dựng Quốc hội thực hiện quyền lực của nhân dân cũng trải qua một quá trình hình thành và phát triển. Thông qua nghiên cứu lý luận, trải nghiệm thực tiễn, tổng kết những kinh nghiệm và bài học về xây dựng Nhà nước trong lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới. Hồ Chí Minh đã ngày càng tiếp cận đến những tư tưởng tiến bộ về Nhà nước, về Quốc hội. Quá trình đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh cũng là quá trình tìm tòi một mô hình Nhà nước tiến bộ trong đó có một mô hình Quốc hội phù hợp cho đất nước sau khi giành được độc lập.

Qua nghiên cứu chế độ Nhà nước ở các nước tư bản như Pháp, Mỹ… Hồ Chí Minh nhận thấy rằng thực chất của khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” do giai cấp tư sản nêu ra là tự do tư sản, bình đẳng tư sản và bác ái tư sản mà thôi, là chứa đựng sự bất bình đẳng, mất tự do, sự nghèo khổ, bất công, đối xử tàn bạo đối với người lao động. Nguyên nhân của tình trạng đó theo Người là do “những cuộc cách mạng không đến nơi”, chính quyền vẫn ở trong tay một số ít người, cho nên “cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ”(1). Chỉ khi đến Liên Xô, người mới tìm thấy một mô hình nhà nước kiểu mới, ở đó “phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền,… ra sức tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng”(2). Mô hình nhà nước đó đã gợi ra cho Người về một kiểu nhà nước sẽ được xây dựng ở Việt Nam trong tương lai.

Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1941) thực hiện sự chuyển hướng chiến lược và sách lược cách mạng. Trong Chương trình Việt Minh do Người đề ra sau đó đã khẳng định : “Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một Chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà… Chính phủ ấy do quốc dân đại hội cử ra”(3). Ở đây tư tưởng về nhà nước là đại biểu cho khối đoàn kết của toàn thể quốc dân là tư tưởng sáng suốt của Hồ Chí Minh, phù hợp với nét đặc thù của thực tiễn dân tộc.

Đến năm 1945, phong trào cách mạng phát triển mạnh, căn cứ địa cách mạng được mở rộng, khu giải phóng ra đời, Uỷ ban nhân dân cách mạng cũng được thành lập để thi hành 10 chính sách của Việt Minh. Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào đã quyết định phát động Tổng khởi nghĩa, thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam, ra mắt Quốc dân Đại hội làm chức năng Chính phủ lâm thời ngay sau Cách mạng tháng Tám thắng lợi.

Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập, bản Tuyên ngôn  nổi tiếng về quyền của các dân tộc, long trọng tuyên bố với quốc dân đồng bào và với thế giới về sự khai sinh của Nhà nước Việt Nam mới. Tuyên ngôn đã khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam và đặt cơ sở pháp lý cho sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Sau đó một ngày tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (ngày 3-9-1945), Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ cấp bách là: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng Tuyển Cử  với chế độ phổ thông đầu phiếu”(4) để sớm có một nhà nước hợp hiến do nhân dân bầu ra. Ngày 17-9-1945 Người ký sắc lệnh ấn định thể thức Tổng tuyển cử, ngày 20-9-1945 ký sắc lệnh thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 vị do Người làm Trưởng ban. Và cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước đã được tiến hành vào ngày 6-1-1946 với khoảng 90% cử tri đi bỏ phiếu bất chấp những khó khăn do thù trong giặc ngoài gây ra. Kết quả đã có 333 đại biểu trúng cử. Ngày 2-3-1946 Quốc hội mới – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đã họp phiên đầu tiên, mở rộng thêm 50 ghế cho Việt Nam Quốc dân đảng và 20 ghế cho Việt Nam Cách mạng đồng minh hội theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quốc hội đã cử ra Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, đây là Chính phủ hợp hiến đầu tiên do đại biểu của nhân dân bầu ra. Và ngày 9-11-1946 bản Hiến pháp mới đã được Quốc hội thông qua, trong đó quy định rõ các quyền tự do dân chủ của nhân dân dưới một chính thể dân chủ rộng rãi. Trong Hiến pháp 1946 cũng như trong các bài nói, bài viết và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rất rõ tư tưởng của Người về xây dựng một Nhà nước Việt Nam kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, xây dựng một Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là cơ quan đại diện dân cử cao nhất, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.

2- Tư tưởng xây dựng Nhà nước, xây dựng Quốc hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước, xây dựng Quốc hội Việt Nam.

Trước hết Hồ Chí Minh khẳng định bản chất dân chủ của chế độ ta, nhà nước ta. Trong một chế độ dân chủ, nhà nước dân chủ, người dân được đặt ở vị trí cao nhất – dân là chủ, dân làm chủ, còn các cơ quan nhà nước và cán bộ nhà nước chỉ là đày tớ, là “công bộc” của nhân dân. Người khẳng định:

“Nước ta là nước dân chủ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra…

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” (5)

Trong thư gửi Uỷ ban nhân dân các cấp tháng 10-1945, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật.

Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm

Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh” (6)

Người còn khẳng định rằng: “Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ”(7); “từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân, thì dân không cần đến nữa”(8), thậm chí Người còn nói: “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(9). Nghĩa là khi các cơ quan nhà nước không đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì sẽ bị nhân dân bãi miễn. Sau khi giành được chính quyền, nhân dân uỷ quyền cho các đại diện do mình bầu ra. Cho nên theo Hồ Chí Minh “nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”(10).

Ngay sau khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã sớm nhìn thấy nguy cơ thoái hoá biến chất, xa dân, mất dân chủ từ trong bộ máy chính quyền nhà nước và các cán bộ, công chức nhà nước và Người đã kịch liệt phê phán. Ngày 17-9-1945, tức 15 ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, trong thư gửi các đồng chí tỉnh Nghệ An, Hồ Chí Minh viết: “Chúng ta đã lập nên một chính thể Dân chủ Cộng hoà, nay cần bắt tay ngay vào công việc dọn dẹp, sắp đặt, giữ gìn kiến thiết. Trong điều kiện mới, nhiều cán bộ Đảng, Nhà nước, đoàn thể vẫn cúc cung tận tuỵ nhưng cũng có người lên mặt làm quan Cách mạng, miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối quan chủ, miệng nói phụng sự quần chúng, khi làm thì trái ngược với lợi ích của quần chúng”(11). Người yêu cầu cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống đều phải là đày tớ trung thành của nhân dân. Người nói: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, uỷ viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”(12).

Mặt khác, Hồ Chí Minh không bao giờ đối lập vai trò người lãnh đạo với người đày tớ của nhân dân trong bản thân người cán bộ của Đảng và Nhà nước mà trái lại Người yêu cầu phải làm thế nào để xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân (Di chúc). Đảng lãnh đạo không có nghĩa là đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Người viết: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ cấp nào và ngành nào - đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân"(13).

Những chỉ dẫn trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước dân chủ, Quốc hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, về cán bộ là đày tớ trung thành của nhân dân, hết lòng vì nhân dân mà phục vụ mặc dù cách thời điểm hiện nay đã vài chục năm, thậm chí có chỉ dẫn đã qua 60 năm, song vẫn mang ý nghĩa trọng đại và nóng hổi, cấp thiết đối với việc xây dựng Nhà nước nói chung, xây dựng Quốc hội nói riêng của chúng ta hiện nay. Và một điều rất đáng tiếc là đã qua 60 năm xây dựng nhà nước kiểu mới, song những cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nguy cơ tha hoá quyền lực, biến chất, quan liêu, xa dân, mất dân chủ với dân trong bộ máy nhà nước vẫn chưa ngăn chặn được, đang đe doạ sự sống còn của chế độ ta.

Trong việc xây dựng Nhà nước kiểu mới, xây dựng Quốc hội nhân dân, Hồ Chí Minh đã sớm có tư tưởng về nhà nước pháp quyền với hiệu lực pháp lý mạnh mẽ. Ngay từ năm 1919, khi đưa ra yêu sách 8 điểm gửi tới Hội nghị Véc-xây đã có 4 điểm liên quan đến vấn đề pháp quyền, còn lại liên quan đến công lý và quyền con người. Sau này, trong bài Việt Nam yêu cầu ca, Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò pháp quyền bằng câu thơ:

“Bảy xin Hiến pháp ban hành

Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”(14)

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, để xác lập nền tảng pháp lý của một nhà nước kiểu mới theo hướng pháp quyền, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo để soạn thảo Hiến pháp dân chủ đầu tiên – Hiến pháp 1946. Hiến pháp 1946 đã tuân thủ 3 nguyên tắc cơ bản của một Nhà nước dân chủ. Đó là: 1) Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, trai gái, giai cấp, tôn giáo; 2) Bảo đảm các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân; 3) Thực hiện một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Với những nguyên tắc trên đây, Hiến pháp 1946 đã bảo đảm về mặt pháp lý tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân và Hiến pháp là cơ sở pháp lý để tiến hành công việc của đất nước.

Theo chương trình làm việc của Quốc hội khoá I, một số đạo luật quan trọng khác cũng được xúc tiến soạn thảo. Tuy nhiên kế hoạch trên chưa thực hiện được bởi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Ngày 19-12-1946 theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước lại phải bước vào cuộc trường chinh chống thực dân Pháp, bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Để giải quyết khó khăn do thiếu luật, Chính phủ cách mạng và Hồ Chí Minh đã điều hành đất nước bằng chế độ Sắc lệnh – những văn bản pháp luật rất phù hợp với điều kiện chiến tranh. Trong 24 năm ở cương vị Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã ký ban hành 2 bản Hiến pháp (1946;1959), 16 đạo luật, 163 sắc lệnh và nhiều văn bản dưới luật khác. Khối lượng văn bản luật đó luôn thể hiện tính nhân đạo, nhân văn, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của nhà nước dân chủ nhân dân.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh là nhà nước quản lý đất nước bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực thực tế. Pháp luật của nước ta là pháp luật dân chủ, do đó dân chủ phải đi đôi với pháp luật, pháp luật phải đi đôi với giáo dục đạo đức. Pháp luật phải nghiêm minh, phải quy định rõ quyền và nghĩa vụ công dân, thể chế hoá quyền dân chủ của người dân, pháp luật phải bảo đảm quyền công dân, quyền con người được tôn trọng trong thực tế. Vì vậy Hồ Chí Minh rất chăm lo hoàn thiện Hiến  pháp và pháp luật, đồng thời chăm lo đưa pháp luật vào đời sống, xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật; thực hiện thưởng phạt nghiêm minh: “Không vì công mà quên lỗi, vì lỗi mà quên công”. Người nhắc nhở cán bộ phải lo “làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”(15).

Có thể khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ khi thành lập và trong suốt quá trình quản lý đất nước, Nhà nước ta ngày càng thể hiện rõ những phẩm chất và đặc trưng của một nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, luôn là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở những quy định của Hiến pháp, pháp luật, vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Hiến pháp và hệ thống pháp luật của chúng ta ngày càng được bổ sung và hoàn thiện không chỉ phù hợp với những đặc thù của quá trình phát triển đất nước mà còn hướng tới sự phù hợp với hệ thống công ước và luật pháp quốc tế. Điều đó gắn liền với vai trò to lớn của Quốc hội bởi vì Quốc hội là cơ quan duy nhất của Nhà nước ta có quyền lập hiến và lập pháp.

3- Tư tưởng  Hồ Chí Minh về xây dựng Quốc hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực hiện quyền lực, quyền làm chủ của nhân dân trong một Nhà nước pháp quyền Việt Nam ngày càng được thể hiện sinh động trong quá trình xây dựng và phát triển. Từ Quốc hội khóa I đến nay đã 60 năm, Quốc hội đã trải qua 11 khoá hoạt động, gắn liền với những giai đoạn lịch sử của cách mạng nước ta. Trong quá trình đó, Quốc hội ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng là cơ quan đại diện dân cử cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao  nhất, là đại biểu cho toàn thể quốc dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định : “Quốc hội là tiêu biểu cho ý chí thống nhất của dân tộc ta, một ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi”(16).

Tính đại diện cao nhất của Quốc hội nước ta thể hiện ở chỗ:

- Quốc hội có cơ cấu thành phần đại biểu đại diện rộng rãi cho các tầng lớp nhân dân.

- Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình trên cơ sở sự tín nhiệm của nhân dân, do nhân dân uỷ quyền.

- Quốc hội do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Đại biểu Quốc hội có cơ cấu, thành phần phản ánh sự đoàn kết rộng rãi các giai cấp, tầng lớp nhân dân và các dân tộc.

Sáu mươi năm qua Quốc hội nước ta luôn nỗ lực phấn đấu để thực sự là cơ quan quyền lực của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Quốc hội đã thể hiện ngày càng tốt hơn vai trò quyền lực, ý chí và nguyện vọng cao nhất của nhân dân. Quốc hội đã ban hành 4 bản Hiến pháp, 197 luật và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành 195 pháp lệnh. Những văn bản pháp luật đó đã đi vào cuộc sống của đất nước và giữ vai trò là cơ sở pháp lý để nhà nước điều hành, quản lý đất nước và để điều chỉnh hành vi của nhân dân.

Đặc biệt trong 20 năm đổi mới đất nước, Quốc hội ngày càng phát huy vai trò của mình là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, từng bước xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế và hiệu lực quản lý của bộ máy Nhà nước, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới.

Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 1992 – Hiến pháp cả nước tiến hành đổi mới – và được Quốc hội sửa đổi vào năm 2001. Cùng với việc sửa đổi Hiến pháp, Quốc hội đã đẩy mạnh soạn thảo và ban hành các văn bản pháp luật một cách khẩn trương, đồng bộ để đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Từ năm 1987 đến tháng 6-2005, Quốc hội đã ban hành 145 luật , bộ luật, trong đó có 6 bộ luật lớn (chưa kể tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XI họp từ 18-10 đến 29-11-2005, Quốc hội đã xem xét và thông qua 14 dự án luật), 4 quy chế hoạt động của Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; đã thông qua và ban hành 149 pháp lệnh. Số bộ luật, luật tăng gấp 3 lần so với thời kỳ trước đổi mới. Những văn bản luật đó đã tạo khung khổ pháp lý để nhà nước quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hoạt động của Quốc hội ngày càng được cải tiến theo hướng giảm bớt tính hình thức, ngày càng thực quyền hơn. Sinh hoạt của Quốc hội được đổi mới theo hướng ngày càng dân chủ hơn, chất lượng được nâng cao, thể hiện được tiếng nói, nguyện vọng của nhân dân.

Tuy nhiên đứng trước cơ hội và thách thức to lớn của đất nước trong giai đoạn mới, cần phải quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh trong đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, làm cho Quốc hội ngày càng xứng đáng là đại biểu cao nhất cho quyền lực của nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Yêu cầu đổi mới Quốc hội nhằm 1) khắc phục những hạn chế, yếu kém trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội; 2) phát huy vai trò Quốc hội trong việc tạo lập môi trường thể chế và điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; 3) góp phần hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; 4) góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 5) phát triển đất nước phù hợp với xu hướng vận động của thời đại và 6) thúc đẩy quá trình chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

Để thực hiện các yêu cầu trên, chúng ta cần tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức sâu sắc hơn tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, về Quốc hội, nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội và chất lượng hoạt động của Quốc hội nhằm phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của Quốc hội trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh./.


1 Hồ Chí Minh Toàn tập. Nxb CTQG, H, 2000, t.2, tr.270.

2 Sđd, t.2, tr.280

3 ĐCSVN. Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, t.7. tr.150

4 Hồ Chí Minh Toàn tập. Nxb CTQG, H, 2000, t.4, tr.8

5 Sđd.t.5, tr.698.

6 Sđd.t.4, tr.56-57.

7 Sđd.t.5, tr.60.

8 Sđd.t.6, tr.365.

9 Sđd.t.5, tr.60.

10 Sđd.t.9, tr.591.

11 Sđd.t.4, tr.19-21.

12 Sđd.t.8, tr.375.

13 Sđd.t.10, tr.323.

14 Sđd.t.1, tr.438.

15 Sđd, t.12, tr.223.

16 Sđd, t.7, tr.497.

 

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện