BƯỚC NHẢY VỌT LỊCH SỬ MỞ ĐẦU THỂ CHẾ NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN
CỦA DÂN TỘC, DO DÂN TỘC VÀ VÌ DÂN TỘC VIỆT NAM
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
PGS. Lê Mậu Hãn
1.
Việt Nam là một quốc gia dân tộc có hơn ngàn năm
văn hiến. Quá trình dựng nước và giữ nước đã hun
đúc và phát triển ngày càng sâu sắc ý thức về độc
lập, chủ quyền đất nước và khát vọng tự do. Hồ Chí
Minh viết:
“nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do hơn là
nhờ quân đông sức mạnh, nước Nam đã thắng”,
các đội xâm lược phong kiến đông mạnh trong lịch
sử. Đó là nội dung cốt lõi của chủ nghĩa dân tộc
Việt Nam. Song động lực của chủ nghĩa dân tộc vĩ
đại đó không phải bất cứ lúc nào cũng có thể khơi
dậy và phát động mạnh mẽ được.
Vào giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam
đã suy thoái đến cực điểm. Lợi dụng lá cờ tự do và
bình đẳng, đế quốc Pháp đã xâm lược, biến Việt Nam
thành một thuốc địa của chúng. Dưới ách thống trị
hà khắc và tàn bạo của thực dân Pháp, nhân dân
Việt Nam mất hết quyền đọc lập, tự do.
Vào đầu thập kỷ thứ hai của thế kỷ XX, Nguyễn Ái
Quốc - Hồ Chí Minh đã nhận lấy trách nhiệm lịch sử
suy tìm một giải pháp, một con đường giải phóng
dân tộc phù hợp với nhu cầu tiên hoá của dân tộc
theo xu thế phát triển tiến bộ của nhân loại.
Người đã nghiên cứu, tiếp biến và phát triển biện
chứng giá trị tư tưởng văn hoá truyền thống trong
đó cốt lõi là chủ nghĩa dân tộc, ý chí độc lập và
khát vọng tự do của tổ tiên ta, tinh hoa văn hoá
phương Đông và phương Tây, đặc biệt là học thuyết
cách mạng của Mác và Lênin, đã xây dựng được một
hệ thống quan điểm toàn diện và sáng tạo về giải
phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do và tạo lập
một thể chế quyền lực của “quần chúng số nhiều”
cho dân tộc Việt Nam. Hệ thống quan điểm đó có ý
nghĩa như một học thuyết cách mạng giải phóng dân
tộc, vì độc lập tự do của Hồ Chí Minh.
Tháng 6/1919, thay mặt những người Việt Nam yêu
nước sống ở Pháp, Hồ Chí Minh đã gửi đến Hội nghị
hoà bình ở Vécxai bản yêu sách trong có yêu cầu
đòi cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách
cho người bản xứ cũng được những đảm bảo về mặt
pháp luật như người Âu châu, và phải thay đổi chế
độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật. Đó
là tư tưởng đầu tiên về “thần linh pháp quyền”
của Hồ Chí Minh.
Từ định hướng tư tưởng pháp quyền đầu tiên đó, Hồ
Chí Minh đã tiếp tục phát triển trên cơ sở thực
tiễn của cuộc đấu tranh dân tộc phù hợp với xu thế
của cách mạng trên thế giới, từng bước đề ra chủ
trương và tạo lập một nhà nước pháp quyền ở Việt
Nam.
Cuối tháng 1/1941, Hồ Chí Minh đã về nước trực
tiếp tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh chống Pháp
- Nhật của nhân dân Việt Nam. Nắm vững và giương
cao ngọn cờ độc lập tự do được xác định trong
cương lĩnh đầu tiên của Đảng, Hội nghị lần thứ 8
của Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 5/1941 do
Người chủ trì đã quyết định thay đổi chiến lược
cách mạng, khẳng định cách mạng Đông Dương lúc
bấy giờ là một cuộc “cách mạng dân tộc giải
phóng”. Nhiệm vụ đánh Pháp - Nhật không phải
là nhiệm vụ riêng của giai cấp công nhân, nông dân
mà là nhiệm vụ chung của toàn thể nhân dân. Lúc
này không phân biệt công nhân, nông dân, phú nông,
địa chủ, tư sản bản xứ; ai có lòng yêu nước thương
nòi sẽ cùng nhau thống nhất vào mặt trận chung,
đem tiềm lực dân tộc để giành quyền độc lập, tự
do. Mặt trận ấy là Việt Nam độc lập đồng minh gọi
tắt là Việt Minh. Chương trình cứu nước của Việt
Minh nhằm thực hiện hai điều cốt yếu mà toàn thể
đồng bào ta đang mong ước là: “làm cho nước
Việt Nam được hoàn toàn độc lập; dân tộc Việt Nam
được sung sướng tự do”. Sau khi đánh đuổi được
Pháp - Nhật sẽ
“thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh
thần tân dân chủ. Chính phủ nước Việt Nam mới theo
thể chế cộng hoà dân chủ chứ không phải là chính
phủ Xô viết công nông binh như đã đề ra năm 1930.
Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy
không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào
mà là của chung của toàn thể dân tộc”.
Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà lấy ngọn
cờ đỏ ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ
toàn quốc và do “Quốc dân đại hội cử lên”.
Chủ trương thay đổi chiến lược của Hội nghị lần
thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 5/1941
dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh có ý
nghĩa quyết định đến chiều hướng phát triển thắng
lợi của cuộc vận động giải phóng dân tộc từ 1941 -
1945.
Tháng 10/1944, trong bối cảnh chiến tranh thế giới
sắp bước vào giai đoạn kết thúc, thắng lợi sẽ
thuộc về các lực lượng dân chủ chống phát xít, Hồ
Chí Minh đã gửi thư cho quốc dân đồng bào thông
báo chủ trương triệu tập Đại hội đại biểu quốc
dân để bầu ra một cơ cấu đại biểu cho sự chân
thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể
quốc dân Việt Nam trước vận hội mới của đất nước.
“Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín,
trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc,
ngoài thì giao thiệp với các hữu bang”.
Từ tháng 3/1945 trở đi, một cao trào kháng Nhật
cứu nước đã phát động mạnh mẽ trong toàn quốc.
Cuộc khởi nghĩa từng phần đã diễn ra thắng lợi ở
nhiều địa phương. Ngày 16/4/1945, Tổng bộ Việt
Minh ra Chỉ thị tổ chức Uỷ ban dân tộc giải
phóng là hình thức tiền chính phủ trong đó
nhân dân học tập để tiến lên giành chính quyền
cách mạng. Trong các vùng giải phóng, các căn cứ
địa cách mạng thì tổ chức Uỷ ban nhân dân cách
mạng do dân dùng phổ thông đầu phiếu hay do
đại biểu hội nghị các giới bầu lên.
Hội nghị quân sự cách mạng Bắc kỳ họp từ ngày 15
đến 20/4/1945 cũng thảo luận và đề nghị triệu tập
một cuộc đại biểu đại hội của các giới, các đảng
phái, các thân sĩ toàn quốc để thành lập Uỷ ban
dân tộc giải phóng Việt Nam và tiến tới thành lập
Chính phủ lâm thời. Điều này đã thể hiện rõ tư
tưởng và chủ trương tổ chức Quốc dân Đại hội của
Hồ Chí Minh có tầm quan trọng đặc biệt, được sự
nhất trí của Đảng và của Mặt trận Việt Minh.
Đến giữa tháng 8/1945, cao trào kháng Nhật cứu
nước đã phát triển đến đỉnh cao. Quân đội phát xít
Nhật bị quân Đồng minh đánh bại. Vua Nhật tuyên bố
đầu hàng không điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương
rệu rã - Chính phủ Trần Trọng Kim tê liệt. Thời cơ
Tổng khởi nghĩa đã chín muồi, song tình thế cũng
rất khẩn cấp. Quân Đồng minh sắp kéo vào và thực
dân Pháp cũng ráo riết trở lại xâm lược Đông
Dương…
Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng đã kịp thời
họp và quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành
chính quyền trong cả nước, xác lập địa vị làm chủ
nước nhà của nhân dân Việt Nam trước khi quân Đồng
minh vào Đông Dương giải giáp quân đội Nhật. Uỷ
ban khởi nghĩa đã ra Quân lệnh cho quân dân toàn
quốc phải đứng lên đem sức ta mà giải phóng cho
ta, phải giành lại cho được quyền độc lập tự do và
phải hành động cho kịp thời cơ với một tinh thần
anh dũng, quả cảm.
Khởi nghĩa giành lại độc lập tự do là sự nghiệp
của dân tộc và do dân tộc đồng tâm nhất trí thực
hiện một cách kịp thời cơ, không thể chậm trễ bỏ
lỡ cơ hội. Vì vậy ngay sau khi Hội nghị đại biểu
toàn quốc của Đảng bế mạc, Hồ Chí Minh và Tổng bộ
Việt Minh quyết định khai mạc ngay Đại hội đại
biểu quốc dân - Đại hội họp ở đình Tân Trào, huyện
Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang từ chiều 16 đến
17/8/1945. Đại hội đã nhất trí với chủ trương phát
động Tổng khởi nghĩa của Đảng và Tổng bộ Việt
Minh, thông qua 10 chính sách lớn về đối nội và
đối ngoại trong đó điểm đầu tiên là “phải giành
lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập”
và thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt
Nam gồm 15 thành viên do Hồ Chí Minh làm
Chủ tịch, Trần Huy Liệu làm phó Chủ tịch. Uỷ ban
có tính chất như Chính phủ lâm thời của nước Việt
Nam mới có nhiệm vụ thay mặt quốc dân mà giao
thiệp với các nước ngoài và chủ trì mọi công việc
trong nước.
Tổ chức thắng lợi Quốc dân Đại hội Tân Trào
để quyết định chuyển xoay vận nước bằng cuộc Tổng
khởi nghĩa, thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng có
tính chất như một chính phủ lâm thời của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà là một điển hình thành công
sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc tổ chức
xây dựng cơ sở đầu tiên cho chế độ dân chủ cộng
hoà Việt Nam, một tiến bộ rất lớn trong lịch sử
đấu tranh giải phóng dân tộc ta từ ngót một thế kỷ
nay.
Quốc dân Đại hội mang tầm vóc lịch sử như một Quốc
hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời trong
đêm trước cuộc Tổng khởi nghĩa.
Đây là một sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong việc kết hợp sức mạnh cách mạng và tính hợp
pháp ngay trong những ngày đầu khởi nghĩa để giành
và giữ chính quyền dân chủ của chung cả dân tộc
Việt Nam.
2.
Cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi
trong cả nước. Theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Uỷ ban dân tộc giải phóng tự cải tổ, mời
thêm một số trí thức nhân sĩ tham gia lập thành
Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch (28/8/1945). Đây là
một Chính phủ quốc gia thống nhất, giữ
trọng trách chỉ đạo quốc dân, đợi ngày triệu tập
Quốc hội để cử ra một Chính phủ cộng hoà chính
thức.
Ngày 30/8/1945, tại thành phố Huế, trước hàng vạn
quần chúng đến dự, phái đoàn Chính phủ Trung ương
do đồng chí Trần Huy Liệu - Bộ trưởng Bộ Thông tin
tuyên truyền làm trưởng đoàn, thay mặt Chính phủ
chấp nhận Tuyên cáo thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại
để Chính phủ dân chủ cộng hoà điều khiển quốc dân;
triệt để ủng hộ Chính phủ giữ vững nền độc lập
nước nhà; giao nộp ấn, kiếm cho phái đoàn để từ
nay trở đi được làm dân tự do của một nước độc
lập. Sự thoái vị của Bảo Đại có ý nghĩa là đã
“hợp pháp hoá”, theo một số truyền thống ngày nay
đã được thừa nhận trên thế giới, chính quyền cách
mạng đã được thừa nhận, hợp pháp hoá một cách vẻ
vang…”.
Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính
phủ long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên
bố về quyền dân tộc của các nước trên thế giới là
bất khả xâm phạm. Đó là
“Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình
đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung
sướng và quyền tự do”
Các nguyên tắc dân tộc, bình đẳng đã đước các nước
Đồng minh công nhận ở các Hội nghị Têhêran và Cựu
kim sơn quyết không thể không nhận quyền độc lập
của dân Việt Nam. Dân tộc Việt Nam phải được tự
do! Dân tộc Việt Nam phải được độc lập!
Chính vì lẽ đó, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà trịnh trọng tuyên bố với thế giới
rằng:
“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và
sự thực đã thành một nước tự do và độc lập”.
Quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam được
khẳng định trong Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ
Chí Minh công bố ngày 2/9/1945 đã đặt cơ sở
pháp lý quan trọng ngay từ ngày đầu khai sinh
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Việt Nam đã thành một nước độc lập tự do. Chính
phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới
thành lập là cơ quan điều hành nhà nước cao nhất
giữ trọng trách lịch sử, chỉ đạo toàn dân thực thi
ngay các nhiệm vụ cấp bách về nội trị, ngoại giao,
về quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội đời đến ngày
bầu Quốc hội cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
dân; cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để cử ra một Chính phủ
chính thức, hợp pháp, hợp hiến. Việc quy định Hiến
pháp, thành lập Chính phủ chính thức là một trong
những nhiệm vụ hàng đầu để củng cố và tăng cường
chính quyền của nhân dân, cho nên ngay ngày
3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ,
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ dưới chế độ chuyên chế
của thực dân và phong kiến
“nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không
được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có
một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ
chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế
độ phổ thông đầu phiều. Tất cả công dân trai gái
mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không
phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống…”.
Đề nghị đó có giá trị lịch sử như một “Tuyên bố
lập hiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngày 8/9/1945, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số
14/SL quy định sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu
Quốc hội. Sắc lệnh cũng quy định Quốc hội có toàn
quyền ấn định Hiến pháp cho nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà. Một Uỷ ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 thành
viên do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban đã
được thành lập theo Sắc lệnh số 34/SL ngày
20/9/1945. Ngày 17/10/1945, Chính phủ đã ký Sắc
lệnh số 51/SL quy định Tổng tuyển cử bằng phổ
thông đầu phiếu. Đây là những Sắc lệnh quan trọng
đầu tiên về xây dựng quyền làm chủ của công dân
Việt Nam đối với vận mệnh đất nước qua việc bầu cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ:
“Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự
do lựa chọn những người có tài có đức, để gánh vác
công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ
là người muốn lo việc nước đều có quyền ra ứng cử;
hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không
chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống,
giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì
đều có hai quyền đó. Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển
cử tức là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ đoàn
kết”.
Cuộc chuẩn bị Tổng tuyển cử diễn ra rất khẩn
trương trong điểu kiện vừa kháng chiến ở miền Nam,
vừa phải giải quyết các nhiệm vụ nội trị, ngoại
giao, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội trong cả
nước. Đây thực sự là một cuộc đấu tranh rất gay go
phức tạp. Dựa vào các thế lực của quân đội nước
ngoài có mặt trên đất nước ta lúc bấy giờ, các
phần tử phản bội tổ quốc, các tổ chức đối lập nhất
là Việt quốc, Việt cách ra sức chống đối Tổng
tuyển cử, đưa ra những yêu sách vô lý như đòi
chiếm 1/3 số ghế đại biểu trong Quốc hội, đòi giữ
các Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục, Bộ
Thanh niên trong Chính phủ…
Chính phủ đã kiên quyết bác bỏ mọi yêu sách vô lý
và chống lại mọi âm mưu phá hoại của Việt quốc và
Việt cách, đồng thời kiên trì và khôn khéo nhân
nhượng để tạo sự ổn định tình hình cho cuộc Tổng
tuyển cử. Đại diện của Việt Minh và Việt quốc,
Việt cách đã thương lượng, ký các văn bản ghi nhận
tinh thần, nguyên tắc và các biện pháp hợp tác
trong đó có các điểm quan trong: coi độc lập và
đoàn kết trên hết, ủng hộ Tổng tuyển cử, đình chỉ
công kích lẫn nhau, mở rộng Chính phủ lâm thời…
Chính vì vậy, ngày 1/1/1946, Chính phủ lâm thời tự
cải tổ thành Chính phủ liên hiệp lâm thời, mở rộng
thêm một số thành viên của Việt quốc, Việt cách.
Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm có 18 thành viên
vẫn do Hồ Chí Minh giữ chức Chủ tịch kiêm ngoại
giao, Nguyễn Hải Thần (Việt cách) là Phó Chủ tịch…
Công tác chuẩn bị Tổng tuyển cử được Chính phủ chỉ
đạo chặt chẽ từ Trung ương đến các địa phương. Các
ban bầu cử ở các làng xã do Uỷ ban nhân dân trực
tiếp đảm nhận.
Những người có tài, có đức muốn lo việc nước đã ra
ứng cử hoặc được quần chúng giới thiệu ra ứng cử.
Những người có năng lực hành chính trong các Uỷ
ban nhân dân, những thân hào, thân sĩ ra ứng cử
cùng đứng tên chung một số quốc gia liên hiệp
với những người ứng cử của Việt Minh.
Cuộc vận động tuyên truyền về bầu cử, ứng cử diễn
ra sôi nổi và phong phú khắp cả nước. Các cơ quan
thông tin đại chúng, nhất là các báo Cứu Quốc, báo
Sự Thật đã giữ vai trò quan trọng trong việc hướng
dẫn, cổ vũ quần chúng, thông tin về Tổng tuyển cử
trong cả nước và đấu tranh phê phán sự xuyên tạc
của các lực lượng chính trị đối lập. Đặc biệt, tờ
báo Quốc hội chỉ ra trong thời kỳ Tổng tuyển cử
nhằm mục đích nêu rõ giá trị của cuộc Tổng tuyển
cử, giới thiệu khả năng, thành tích và chương
trình của những người ứng cử…
Danh sách nhứng người ứng cử ở các tỉnh, thành
phố… đã được công bố công khai để nhân dân tự do
lựa chọn.
Ngày 6/1/1946, cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên -
Quốc hội lập hiến của nước Việt Nam đã diễn ra
trong cả nước, kể cả các vùng đang có chiến sự ở
Nam Bộ, Nam Trung Bộ, ở Tây Nguyên… ở Hà Nội, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã cùng hàng vạn cử tri đã thực
hiện quyền lợi công dân trong ngày lịch sử
6/1/1946, ngày hội dân chủ cao nhất của mọi công
dân. Người đi bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội ở
phòng bỏ phiếu đặt tại nhà số 10 phố Hàng Vôi (nay
là phố Lý Thái Tổ), Hàng Gai, Hàng Trống, Thuỵ
Khuê, Ô Đông Mác.
Cuộc bầu cử tại các tỉnh không có chiến sự ở miền
Bắc và miền Trung diễn ra an toàn mặc dù một số
nơi phải đấu tranh quyết liệt để ngăn chặn sự phá
hoại của bọn đối lập cực đoan. Riêng ở Nam Bộ và
Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, cuộc bầu cử diễn ra vô
cùng khó khăn, quyết liệt do sự đánh phá của thực
dân Pháp. Nhiều nơi máu của cán bộ chiến sĩ đã đổ
trong khi làm nhiệm vụ Tổng tuyển cử, trong đó có
đồng chí Nguyễn Văn Tư- Uỷ viên Ban quản trị Tổng
công đoàn Nam Bộ. ở Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ,
Tân An, Tây Nguyên cũng bị quân đội Pháp ném bom,
bắn phá làm một số người bị chết và bị thương.
Cuộc vận động Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946 thực sự là một
cuộc đấu tranh chính trị vô cùng khó khăn, và
không kém phần quyết liệt, thậm chí đã đổ máu để
thực thi quyền dân chủ chính trị của mọi công dân
nước Việt Nam độc lập tự do ngay trong những tháng
đầu cách mạng mới thành công.
Kết quả cuộc đấu tranh đó đã thành công rực rỡ. ở
71 tỉnh thành trong cả nước, 89% tổng số cử tri đã
đi bầu cử, bầu được 333 đại biểu trong đó 57% đại
biểu thuộc các đảng phái yêu nước và cách mạng
khác nhau, 43% không đảng phái, 10 đại biểu nữ, 34
đại biểu các dân tộc ít người. Trong cuộc Tổng
tuyển cử này mọi công dân Việt Nam đều tự do và
bình đẳng thực hiện quyền bầu cử và ứng cử vào
Quốc hội. Trong số hàng ngàn người ra ứng cử, nhân
dân đã tự mình lựa chọn bầu được 333 đại biểu.
Riêng ở Hà Nội cử tri đã chọn được 6 đại biểu
trong số 74 người ứng cử ở thành phố này. Quốc hội
đã hội tụ các đại biểu của cả ba miền Bắc, Trung,
Nam, đại diện cho ý chí của dân tộc, có đại diện
của các thế hệ người Việt Nam đương thời, đại diện
của Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ, của Việt Minh,
các ngành, các giới, các giai cấp, tầng lớp xã
hội, các dân tộc ít người, các tôn giáo, những
nhà tư sản dân tộc, công thương, những nhân sĩ trí
thức và cả những người vốn là quan lại cao cấp của
chế độ cũ, cả Vĩnh Thuỵ vừa rời bỏ ngai vàng bệ
ngọc để được làm dân một nước độc lập.
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử dẫn đến kỳ họp
thứ nhất của Quốc hội ngày 2/3/1946 là một bước
tiến của tổ chức cơ quan Nhà nước cao nhất của
Việt Nam. Quốc hội đã bầu ra Ban Thường trực Quốc
hội do học giả Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban, thành
lập Chính phủ chính thức - Chính phủ liên hiệp
kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Tổ chức
nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã có cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội và cơ quan
hành chính cao nhất là Chính phủ, một Nhà nước của
dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc có đủ tư cách
pháp lý và uy tín để thực hiện những nhiệm vụ lịch
sử trọng đại của đất nước. Đứng trước tình thế
nước nhà đang bị thực dân Pháp xâm lược, Quốc hội
đã công nhận Chính phủ liên hiệp kháng chiến do
Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, một vị Chủ tịch
được Quốc hội tôn vinh “xứng đáng với Tổ quốc” và
“trao quyền bính” cho Chính phủ tuỳ theo tình thế
để thực hiện nhiệm vụ đưa kháng chiến đến thắng
lợi và nước nhà đến độc lập hoàn toàn.
Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất có nhiệm vụ
và đã thông qua bản Hiến pháp đều tiên của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một Hiến pháp dân chủ,
khẳng định quyền dân tộc độc lập, thống nhất lãnh
thổ, xây dựng thể chế dân chủ cộng hoà, một chế độ
bảo đảm quyền tự do của mọi công dân không phân
biệt nam nữ, giàu nghèo, đặc biệt ưu đãi đỗi với
đồng bào các dân tộc ít người… như Chỉ tịch Hồ Chí
Minh đã nêu rõ: “Đây là bản Hiến pháp đầu tiên
trong lịch sử nước nhà và cũng là bản Hiến pháp
đầu tiên ở Đông Nam Á”. Hiến pháp đó tuyên bố
với thế giới nước Việt Nam đã được độc lập, dân
Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó đã
nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các tộc
ít người ở Việt Nam và một tinh thần liêm khiết,
công bằng của các giai cấp.
Quốc hội đã chuẩn y quyết định uỷ nhiệm cho Chính
phú và Ban thường trực dựa vào các nguyên tắc đã
định trong Hiến pháp để ban hành các luật. Với
quyết định đó, Quốc hội tiếp tục hoạt động, gánh
vác trách nhiệm mới, làm nhiệm vụ lập hiến và lập
pháp phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể Việt Nam
lúc bấy giờ.
Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của Việt Nam năm 1946
đã bầu ra Quốc hội cơ quan quyền lực Nhà nước cao
nhất. Quốc hội đã cử ra Chính phủ chính thức, ấn
định cho Việt Nam một Hiến pháp dân chủ, công bằng
của các giai cấp. Thắng lợi đó là một mốc son
đánh dấu bước nhảy vọt lịch sử về thể chế dân chủ
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Thắng lợi
đó là một minh chứng hùng hồn về giá trị sáng
tạo và tính thực tiễn của tư tưởng Nhà nước pháp
quyền của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc của
Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Quốc hội đang
phát huy vai trò của cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân, của dân tộc và là cơ quan quyền lực Nhà
nước cao nhất, từng bước hoàn thiện xây dựng Nhà
nước pháp quyền dân chủ, tăng cường pháp chế, hiệu
lực quản lý và giám sát bộ máy Nhà nước. Ngẫm suy
về giá trị lý luận và thực tiễn của Quốc hội Việt
Nam thời lập chế độ dân chủ cộng hoà. Tổng bí thư
Nông Đức Mạnh nguyên Chủ tịch Quốc hội đã nói:
“Truyền thống yêu nước cách mạng và những kinh
nghiệm hoạt động của Quốc hội khoá I dưới ánh sáng
tư tưởng Hồ Chí Minh đang tiếp tục khơi nguồn sáng
tạo và soi sáng con đường cho Quốc hội nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam vươn lên tầm cao mới
trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền mang
đậm bản sắc Việt Nam và dấu ấn của thời đại”.
Bản án chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam,
phần II, Nxb Lao Động, H 1997, tr 102
Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia
H1995, tập 4,
Nông Đức Mạnh - Lời giới thiệu-Lịch sử Quốc
hội Việt Nam. 1946-960, Nxb Chính trị Quốc
gia, H 1994, tr 7
|