|
VỀ QUYỀN GIÁM SÁT TỐI CAO CỦA QUỐC HỘI
TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA
DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
PGS, TS. Lê Minh Thông
Viện Khoa học Tổ chức, Ban Tổ chức Trung ương
I. QUYỀN GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI QUA CÁC BẢN HIẾN
PHÁP VIỆT NAM
Giám sát vừa là một hoạt động mang tính quyền
lực nhà nước vừa là một phương thức
đảm bảo
quyền lực nhà nước được thực hiện đúng trong
phạm vi,
thẩm quyền,
hình thức mà pháp luật đã quy định cho mỗi một
thiết chế quyền lực trong thực tiễn hoạt động.
Hoạt động giám sát là một hoạt động phức tạp,
chi phối mạnh mẽ đến hiệu quả của hoạt động thực
hiện quyền
lực nên luôn được
quy định chặt chẽ bởi luật pháp và thường ở tầm
quy định cao nhất là Hiến pháp.
Lịch sử lập Hiến Việt Nam
đã đánh dấu nhiều giai đoạn phát triển của quyền
giám sát đối với hoạt động nhà nước. Các bản
Hiến pháp nước ta, từ Hiến pháp 1946, Hiến pháp
1959, 1980 đến Hiến pháp 1992 đều đưa ra các cơ
chế kiểm soát quyền lực dưới nhiều hình thức
biểu hiện khác nhau. Tuy nhiên vượt lên sự thể
hiện khác nhau ấy là tính nhất quán về vị trí,
vai trò to lớn của Quốc hội - cơ quan đại biểu
cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất, có quyền
thực hiện
quyền giám sát tối cao
đối với
hoạt động
nhà nước.
Tuy nhiên cần phải thấy rằng, chỉ từ Hiến pháp
1980 đến Hiến pháp 1992, tính tối cao trong
quyền giám sát của Quốc hội mới chính thức được
ghi nhận. Điều này có nghĩa là, mặc dù ngay từ
bản Hiến pháp đầu tiên, Hiến pháp 1946, quyền
giám sát của Nghị viện nhân dân đã được gián
tiếp quy định, nhưng để đạt tới đỉnh “tối cao”
quyền này đã phải trải qua nhiều giai đoạn phát
triển. Mỗi bản Hiến pháp là một bước phát triển
có tính xác định hơn đối với tính chất và nội
dung của quyền này.
Hiến pháp 1946 quy định “Nghị viện là cơ quan có
quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà” và dường như chưa có quy định cụ thể về
quyền giám sát của Nghị viện. Trong các quy định
của Hiến pháp 1946, quyền giám sát của Nghị viện
nhân dân được quy định một cách gián tiếp đối
với hoạt động của Nhà nước thông qua quyền “kiểm
soát và phê bình Chính phủ” của Ban thường vụ
(Điều 36), quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với Ban
thường vụ (Điều 39), bỏ phiếu tín nhiệm Nội các
(Điều 54).
Hiến pháp năm 1946 chưa có các quy định cụ thể
các
thẩm quyền
của Nghị viện, trong lúc lại có các quy định khá
cụ thể và mạnh mẽ về
thẩm quyền
của Chính phủ mà đứng đầu là Chủ tịch nước. Với
quy định “Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Nghị
viện thảo luận lại đạo luật, khi đã được thông
qua (Điều 31) và “Chủ tịch nước Việt Nam không
phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội
phản quốc” (Điều 50) đã tạo nên một địa vị pháp
lý khá độc lập của Chủ tịch nước trong mối quan
hệ với Nghị viện nhân dân. Điều này cho ta thấy
tuy không tổ chức bộ máy nhà nước theo
nguyên tắc
phân quyền và đối trọng nhưng trong một ý nghĩa
nào đó quyền lập pháp và quyền hành pháp cũng đã
được phân định trong quy định Hiến pháp 1946 ở
nước ta. Có lẽ cũng vì vậy mà Hiến pháp 1946 xác
định Nghị viện là cơ quan có quyền cao nhất và
Chính phủ là “cơ quan
hành chính
cao nhất của toàn quốc” (Điều 43).
Đây có thể xem là một trong những cơ sở giải
thích vì sao Hiến pháp 1946 không quy định trực
tiếp quyền giám sát toàn bộ hoạt động của Nhà
nước với ý nghĩa là quyền của Nghị viện. Cũng
như vậy quyền giám sát của Nghị viện không mang
ý nghĩa và vị trí “giám sát tối cao” đối với
toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
Hiến pháp 1959 là một bước phát triển về quyền
giám sát của Quốc hội nước ta, mặc dù quyền giám
sát của Quốc hội vẫn chưa được xem như một chức
năng quan trọng của Quốc hội như các bản Hiến
pháp sau này. Các Điều 43, 44 Hiến pháp năm 1959
quy định “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”,
“Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp
của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” đã xác định
rõ hơn tính chất và vị trí của Quốc hội trong bộ
máy nhà nước.
ở Hiến pháp 1959, quyền giám sát của Quốc hội đã
được đề cập với tính cách là một trong những
quyền hạn của Quốc hội tại Điều 50. Tuy nhiên
quyền giám sát của Quốc hội vẫn chỉ mới dừng ở
mức độ “giám sát việc thi hành Hiến pháp” (khoản
3 Điều 50) mà chưa phải là “giám sát toàn bộ
hoạt động của Nhà nước”.
Mặt khác cũng như Hiến pháp 1946, quyền giám sát
của Quốc hội vẫn mới trong tính cách là một
trong những quyền hạn của Quốc hội mà chưa phải
là giám sát tối cao, mặc dù các Điều 53 quy định
quyền hạn của ủy ban Thường vụ Quốc hội “giám
sát công tác của Hội đồng Chính phủ của Toà án
nhân dân tối cao và của Viện kiểm sát nhân dân
tối cao (khoản 6 Điều 53) và Điều 67 quy định
“nếu Quốc hội thấy cần thiết và trong thời gian
Quốc hội không họp, nếu ủy ban Thường vụ Quốc
hội thấy cần thiết, thì có thể tổ chức các ủy
ban điều tra về những vấn đề nhất định…” hay
Điều 50 cũng quy định “các đại biểu Quốc hội có
quyền chất vấn Hội đồng Chính phủ và các cơ quan
thuộc Chính phủ”.
So với Hiến pháp 1946, quyền giám sát của Quốc
hội đã được xác định cụ thể hơn với các phạm vi,
đối tượng rộng lớn hơn. Tuy tính chất tối cao
của quyền giám sát Quốc hội chưa được nêu trực
tiếp trong ngôn ngữ Hiến pháp, nhưng các quy
định của Hiến pháp về quyền giám sát này đã gián
tiếp bao hàm ý nghĩa tối cao và phạm vi giám sát
đã bắt đầu bao quát các hoạt động của Nhà nước.
Đây là một bước phát triển có tính bước ngoặt
của quyền giám sát của Quốc hội. Sự phát triển
này xuất phát từ một loạt các yếu tố có tính
lịch sử, chẳng hạn, trong Hiến pháp 1959 ranh
giới xác định giữa quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp đã trở nên mờ nhạt. Vị trí của Quốc hội
đã được đề cao với
nguyên tắc
tổ chức quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng
quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội
đồng nhân dân các cấp… Quốc hội, Hội đồng nhân
dân các cấp và các cơ quan nhà nước khác đều
thực hành
nguyên tắc tập trung dân chủ.
Hiến pháp 1980 và 1992 không chỉ là một bước
phát triển quan trọng đối với quyền giám sát của
Quốc hội, mà còn đưa quyền này lên một tầm cao
mới với tính cách là “quyền giám sát tối cao đối
với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”. Theo các
quy định của
Hiến pháp 1980 và 1992, giám sát tối cao đối với
toàn bộ hoạt động của Nhà nước không chỉ là
quyền tối cao còn là một chức năng đặc biệt có
tính hiến định của Quốc hội nước ta.
“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất mà của
nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến
và lập pháp.
Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về
đối nội và đối ngoại, những mục tiêu phát triển
kinh tế và văn hoá, những quy tắc chủ yếu về tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan
hệ xã hội và hoạt động của công dân.
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối
với toàn bộ hoạt động của Nhà nước” (Điều 82 -
Hiến pháp 1980, Điều 83 - Hiến pháp 1992).
Như vậy cả Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 đều
đã khẳng định: quyền giám sát của Quốc hội là
quyền giám sát tối cao và phạm vi thực hiện
quyền giám sát tối cao là toàn bộ hoạt động
của Nhà nước. Với ý nghĩa ấy Hiến pháp 1980,
đặc biệt Hiến pháp 1980 đã có nhiều quy định xác
định ở mức độ đáng kể hàng loạt vấn đề liên quan
đến nội dung của quyền giám sát tối cao, chủ thể
thực hiện quyền giám sát, đối tượng giám sát,
phương thức giám sát.
Phân tích các quy định của Hiến pháp 1992 có thể
nên tóm tắt như sau:
- Về chủ thể:
Chủ thể của hoạt động giám sát của Quốc hội theo
quy định của Hiến pháp và pháp luật gồm có:
* Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội: Là cơ quan thường
trực của Quốc hội,
ủy ban
Thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,
nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội; giám
sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân,
Viện kiểm sát nhân dân (Điều 91 Hiến pháp 1992).
* Hội đồng dân tộc và các
ủy ban của Quốc hội: Điều 94 của Hiến pháp quy
định: “Hội đồng dân tộc thực hiện quyền giám sát
việc thi hành chính sách dân tộc, các chương
trình, các
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng
núi và đồng bào có dân tộc thiểu số”. Điều 95
của Hiến pháp quy định: “Các ủy ban của Quốc hội
thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn do luật định”. Luật tổ chức Quốc hội
đã cụ thể hoá các Điều 94, 95 của Hiến pháp bằng
những quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn,
giám sát của Hội đồng dân tộc và từng ủy ban của
Quốc hội. Xét về góc độ pháp lý thì
thẩm quyền
giám sát của Hội đồng dân tộc, các ủy ban của
Quốc hội đã được Hiến pháp và các đạo luật quy
định. Tuỳ thuộc vào chức năng đảm trách và lĩnh
vực được phân công, Hội đồng dân tộc và các ủy
ban tự tổ chức
hoạt động
giám sát và báo cáo
kết quả
giám sát với
ủy ban
Thường vụ Quốc hội (có thể báo cáo với Quốc
hội). Cũng có những vấn đề Hội đồng dân tộc và
các ủy ban thực hiện quyền giám sát theo sự phân
công, ủy quyền của ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các cơ quan này thực hiện quyền giám sát trong
phạm vu quyền hạn do luật định. Khi cần thiết,
các chủ thể này có quyền cử các thành viên của
mình đến các cơ quan, tổ chức hữu quan để điều
tra, xem xét về vấn đề mà Hội đồng dân tộc và
các ủy ban quan tâm (Điều 89 - Hiến pháp 1992).
* Đại biểu Quốc hội: Là người đại diện cho cử
tri đã bầu ra mình nói riêng, cử tri cả nước nói
chung. Đại biểu Quốc hội thực hiện quyền giám
sát qua hoạt động chất vấn đối với Chủ tịch
nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ
trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Toà
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao (Điều 89 - Hiến pháp 1992).
- Về đối tượng:
Để phân biệt hoạt động giám sát của Quốc hội với
các cơ quan có chức năng giám sát hiến định khác
như Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn…, đối tượng giám
sát là một yếu tố quan trọng. Cụ thể hoạt động
giám sát của Quốc hội tác động lên các đối
tượng: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh
án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao. Đây đều là các cơ
quan và các chức danh cấp cao của bộ máy nhà
nước; các chức danh (Chủ tịch nước, Chủ tịch
Quốc hội) và người đứng đầu các cơ quan nhà nước
cấp cao (ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ,
Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao) đều do Quốc hội bầu ra trong số các đại
biểu Quốc hội và Quốc hội có quyền bãi miễn; khi
xét thấy cần thiết hoặc khi Quốc hội đề nghị,
các chức danh này phải chịu trách nhiệm và báo
cáo công tác của cơ quan mình trước Quốc hội,
phải trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội; các
văn bản do các cơ quan nhà nước nói trên ban
hành đều phải hợp Hiến, hợp pháp và Quốc hội có
quyền sửa đổi, huỷ bỏ hoặc đình chỉ việc thực
hiện các văn bản đó khi xét thấy có sự vi phạm
Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp
lệnh của ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bởi thế,
nhiều nhà khoa học cho rằng tính tối cao của
hoạt động giám sát của Quốc hội ngoài những yếu
tố quyết định khác, còn bắt nguồn từ yếu tố đối
tượng chịu giám sát.
- Về nội dung của hoạt động giám sát:
Căn cứ vào Điều 84 Hiến pháp 1992 chúng ta thấy,
hoạt động giám sát của Quốc hội gồm 2 nội dung
chính:
+ Theo dõi, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp đối
với hoạt động của các
đối tượng
chịu giám sát và các văn bản do các
đối tượng
này ban hành;
+ Xử lý các hành vi vi phạm bằng các biện pháp
chế tài như: bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức danh
cấp cao trong bộ máy nhà nước; đình chỉ, bãi bỏ
các văn bản trái với Hiến pháp, pháp luật.
- Về phương thức thực hiện:
Phương thức thực hiện quyền giám sát gồm có:
+ Xét báo cáo của Chủ tịch nước,
ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại các
kỳ họp;
+ Chất vấn của các đại biểu Quốc hội trong hoặc
ngoài kỳ họp;
+ Khi xét thấy cần thiết thì tiến hành kiểm tra
thực tế việc tuân theo Hiến pháp, luật của Quốc
hội, pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban Thường vụ
Quốc hội;
+ Xem xét việc khiếu nại, tố cáo của công dân.
Cụ thể hoá chức năng giám sát của Quốc hội, Luật
về hoạt động giám sát năm 2003 quy định Quốc hội
có thêm
hình thức giám sát mới là thành lập ủy ban điều
tra lâm thời và bỏ phiếu tín nhiệm đối với các
chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
ủy ban điều tra lâm thời được thành lập theo đề
nghị của ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc theo đề
nghị của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Hội
đồng dân tộc, ủy ban của Quốc hội hoặc theo đề
nghị của Quốc hội. ủy ban lâm thời sẽ trình báo
cáo điều tra của mình cho Quốc hội và Quốc hội
có thể ra nghị quyết về vấn đề được điều tra.
Sự phát triển các quy định của các bản Hiến pháp
Việt Nam về quyền giám sát tối cao của Quốc hội
cho thấy, quyền giám sát của Quốc hội liên quan
trực tiếp đến các quan hệ quyền lực trong cơ cấu
tổ chức bộ máy nhà nước. Hiệu quả thật sự của
việc thực hiện quyền giám sát tối cao không chỉ
phụ thuộc vào việc quy định quyền này trong Hiến
pháp mà còn phụ thuộc vào tính thực quyền của
Quốc hội trong hoạt động thực thi quyền lực nhà
nước. Hiến pháp 1992, Luật tổ chức Quốc hội và
Luật giám sát 2003 đã tạo ra những khuôn khổ
pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt
động giám sát của Quốc hội. Trên thực tế Quốc
hội đã gặt hái những thành tựu trong quá trình
thực hiện quyền giám sát của mình. Tuy nhiên
những thành tựu ấy cũng như những bất cập trong
hoạt động thực tiễn lại đang đặt ra không ít vấn
đề phải tiếp tục nghiên cứu, trao đổi từ góc độ
của mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
II. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI QUYỀN GIÁM SÁT
TỐI CAO CỦA QUỐC HỘI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO
DÂN VÀ VÌ DÂN
- Một trong những đặc điểm cơ bản nhất có tính
phổ biến của nhà nước pháp quyền là quyền lực
nhà nước phải được tổ chức và thực hiện theo các
nguyên tắc dân chủ. Tại các quốc gia tư sản,
quyền lực nhà nước về cơ bản được tổ chức và
thực hiện theo nguyên tắc phân quyền và đối
trọng. Nguyên tắc này dù được thể hiện dưới các
hình thức chính thể nhà nước khác nhau (Cộng hoà
nghị viện, Cộng hoà tổng thống hay Cộng hoà
lưỡng tính…) nhưng đều nhất quán ở vấn đề có
tính nguyên lý: quyền lực nhà nước không thể tập
trung vào một người, một cơ quan, bởi vậy nó
phải được phân chia và được kiểm soát lẫn nhau
bởi các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, quyền
hành pháp và quyền tư pháp. Chính vì vậy, cơ chế
giám sát quyền lực nhà nước được xác lập ngay
trong mối quan hệ đối trọng và kiềm chế giữa các
cơ quan thực thi ba quyền hợp thành quyền lực
nhà nước.
ở Việt Nam,
nguyên tắc phân quyền và đối trọng không
được chấp nhận và vận dụng trong tổ chức quyền
lực nhà nước. Thay vào đó là
nguyên tắc
quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự
phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện ba quyền:
quyền lập
pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.
Với nguyên
tắc này, mối quan hệ quyền lực được xác
định trong cấu trúc bộ máy nhà nước ta đã có một
bước phát triển mới về chất theo yêu cầu của nhà
nước pháp quyền: quyền lực nhà nước tuy không
phân chia (phân quyền) nhưng đã có sự phân công,
phối hợp giữa các cơ quan thực hiện 3 quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp.
Sự phân công, phối hợp
giữa các cơ quan thực hiện
quyền lập
pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp
trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt
Nam cho thấy: Hiến pháp không trao toàn bộ quyền
lực nhà nước cho bất kỳ một cơ quan nào, toàn bộ
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân
thực hiện ủy quyền quyền lực cho các
cơ quan
lập pháp, hành pháp, tư pháp
.
Nhận thức rõ điểm này sẽ khắc phục quan niệm cho
rằng toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về Quốc
hội, biến Quốc hội thành cơ quan toàn quyền.
Thực tế Hiến pháp 1992 xác định Quốc hội là cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất nhưng cũng chỉ
quy định Quốc hội có 14 quyền hạn mà thôi. Do
vậy về thực chất Quốc hội trong nhà nước pháp
quyền là cơ quan thực hiện quyền lập pháp (bao
gồm cả quyền lập hiến) là một trong 5 cơ quan có
địa vị “cao nhất” trong cấu trúc bộ máy quyền
lực ở nước ta. Địa vị pháp lý của Quốc hội trong
tư cách là “cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”
trong hệ thống các cơ quan có địa vị “tối cao”
thuộc bộ máy nhà nước đang đặt ra một vấn đề lý
luận cần được nghiên cứu, giải đáp: quyền lực
nhà nước cần được kiếm soát như thế nào giữa các
cơ quan “tối cao” và “cao nhất” trong quá
trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta.
Kinh nghiệm giám sát quyền lực nhà nước ở các
nước phát triển cho thấy cơ chế tự kiểm soát
quyền lực, tức là kiểm soát ngay bên trong các
quan hệ quyền lực giữa các cơ quan lập pháp,
hành pháp, tư pháp, có ý nghĩa lớn đối với việc
ngăn ngừa nguy cơ lạm dụng quyền lực của cơ quan
này, đảm bảo hoạt động quyền lực của cơ quan này
luôn được kiểm tra, giám sát từ phía cơ quan
khác, theo nguyên lý tự kiểm soát và kiềm chế
lẫn nhau.
Hiến pháp và các luật về tổ chức bộ máy nhà nước
ở nước ta chưa đưa ra một cơ chế kiểm soát lẫn
nhau giữa các cơ quan thực hiện
quyền lập
pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.
Pháp luật hiện hành trao cho Quốc hội quyền giám
sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động nhà nước
trong đó bao hàm quyền giám sát tối cao đối với
hoạt động của Chính phủ, Chủ tịch nước,
Toà án tối
cao,
Viện kiểm sát tối cao đã loại bỏ quyền
của các cơ quan này trong việc kiềm chế hoặc
kiểm soát việc thực hiện quyền lập pháp của Quốc
hội, đặt hoạt động quyền lực của Quốc hội ra
ngoài sự kiểm soát. Hiến pháp đầu tiên của nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà - Hiến pháp 1946 đã
từng có quy định về quyền của người đứng đầu cơ
quan hành pháp yêu cầu Nghị viện thảo luận lại
đạo luật mà Nghị viện
đã thông qua. “Những luật đã được Nghị viện biểu
quyết, Chủ tịch nước Việt Nam phải ban bố chậm
nhất là 10 hôm sau khi nhận được thông tri.
Nhưng trong hạn ấy, Chủ tịch có quyền yêu cầu
Nghị viện thảo luận lại (Người viết nhấn
mạnh)….” (Điều 31 - Hiến pháp 1946). Quy
định quyền của Chủ tịch nước yêu cầu Nghị viện
thảo luận lại đạo luật đã biểu quyết là sự vận
dụng hạt nhân hợp lý quyền “veto” của người đứng
đầu cơ quan hành pháp vốn là một thực tiễn pháp
lý có tính phổ biến ở nhiều nước phát triển,
trong điều kiện nước ta. Quy định như vậy cho
thấy, Hiến pháp 1946 đã xác định một hình thức
kiểm soát quyền lực do người đứng đầu cơ quan
hành pháp thực hiện đối với việc thực hiện quyền
lập pháp của Quốc hội. Thiết nghĩ bài học rút ra
từ Hiến pháp 1946 về cơ chế kiểm soát quyền lực
cần được nghiên cứu tiếp thu trong quá trình xây
dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta.
Vấn đề đặt ra trong nhà nước pháp quyền là cần
thiết lập một cơ chế kiểm tra, giám sát lẫn nhau
trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước
giữa các cơ quan “cao nhất” hay tối cao của các
nhánh quyền lực trong bộ máy nhà nước ở trung
ương. Nếu nhu cầu này được xác lập thì “quyền
giám sát tối cao” trong ý nghĩa là quyền duy
nhất thuộc về Quốc hội cần được xem xét lại một
cách hợp lý, cả về nội dung, hình thức biểu hiện
và phương thức thực hiện quyền quan trọng này.
- Nhà nước pháp quyền đòi
hỏi quán triệt và tuân thủ nguyên tắc tính tối
cao và bất khả xâm phạm của Hiến pháp. Do vậy
một trong những vấn đề quan trọng phải đặt ra
trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền là
sự bảo vệ tính tối cao và thiêng liêng của Hiến
pháp với một cơ chế bảo hiến phù hợp. Sự cần
thiết phải bảo vệ Hiến pháp không chỉ liên quan
đến hoạt động hành pháp hay hoạt động tư pháp mà
còn liên quan đến hoạt động lập pháp do Quốc hội
thực hiện. Bởi lẽ như một nguyên lý trong nhà
nước pháp quyền, toàn bộ hoạt động quyền lực nhà
nước bất luận là hoạt động lập pháp, hành pháp
hay tư pháp đều phải được thực hiện trong khuôn
khổ Hiến pháp theo đúng các quy định của Hiến
pháp. Hoạt động xây dựng ban hành các đạo luật
của Quốc hội không phải là một loại hoạt động
không chứa đựng các nguy cơ vi phạm Hiến pháp,
đưa ra đạo luật trái với các quy định của Hiến
pháp. Thực tiễn pháp lý
thế giới
đã cho thấy không ít ví dụ về các đạo luật do
Nghị viện ban hành trái với Hiến pháp và bị bãi
bỏ, thông qua các giải pháp “bảo hiến” của mỗi
nước. Việt Nam cũng không thể xem là ngoại lệ,
khả năng Quốc hội thông qua luật chứa đựng các
quy định trái với Hiến pháp không phải là không
có. Do vậy hoạt động xây dựng và ban hành các
đạo luật của Quốc hội phải được giám sát bởi một
cơ chế bảo hiến thích hợp. Giả sử rằng trong quá
trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta một
cơ chế bảo hiến được xác lập, đặt hoạt động lập
pháp của Quốc hội vào tầm giám sát của cơ quan
bảo hiến, thì một lần nữa lại cần nhận thức lại
về “quyền giám sát tối cao” của Quốc hội trong
sự quy chiếu với các chuẩn mực của nhà nước pháp
quyền.
Về phương diện lý luận, cơ chế bảo hiến liên
quan chặt chẽ đến địa vị quyền lực nhà nước cao
nhất của Quốc hội, đến quyền giám sát tối cao
của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động nhà nước.
Do vậy việc thiết lập một cơ chế bảo hiến như
thế nào trong tương lai sẽ chi phối mạnh đến mô
hình tổng thể của Quốc hội, đến nội dung và
phương thức thực hiện quyền giám sát tối cao của
Quốc hội. Các nghiên cứu về thiết lập mô hình
“bảo hiến” ở Việt Nam đều thống nhất ở quan điểm
lý luận về sự cần thiết thiết lập cơ chế bảo
hiến ở Việt Nam, nhưng lại rất khác nhau ở các
kiến giải và đề xuất mô hình tổ chức cơ quan bảo
hiến. Tổng hợp các nghiên cứu của các nhà khoa
học pháp lý về cơ chế bảo hiến có thể nêu phương
án chủ yếu sau:
- Phương án một:
Quốc hội thành lập ủy ban giám sát Hiến pháp
trực thuộc Quốc hội để giúp Quốc hội thực hiện
việc bảo hiến đối với các văn bản pháp luật do
Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
Toà án nhân
dân tối cao,
Viện kiểm
sát nhân dân tối cao,
chính quyền
địa phương ban hành.
Thành viên của ủy ban giám sát Hiến pháp phải là
các đại biểu Quốc hội được bầu theo thủ tục
thông thường. ủy ban giám sát Hiến pháp có trách
nhiệm trình báo cáo
kết quả
giám sát của mình đề Quốc hội xem xét và quyết
định.
Với mô hình ủy ban giám sát Hiến pháp này, Quốc
hội tiếp tục được khẳng định là cơ quan quyền
lực nhà nước cao nhất. Về thực chất ủy ban giám
sát Hiến pháp chỉ là một cơ quan thuộc Quốc hội,
một cơ cấu mang tính giúp việc chứ không thể trở
thành một cơ cấu có quyền quyết định về tính hợp
Hiến của các văn bản pháp luật được giám sát.
Đối tượng giám sát của ủy ban giám sát Hiến pháp
cũng chỉ là các văn bản pháp luật từ pháp lệnh
trở xuống. Như vậy các đạo luật vẫn nằm ngoài sự
giám sát tính hợp hiến của chúng. Do vậy hoạt
động thực hiện quyền lập pháp của Quốc hội về cơ
bản vẫn không phải là
đối tượng
giám sát nhìn từ yêu cầu đòi hỏi của
nguyên tắc
về tính tối cao và bất khả xâm phạm của Hiến
pháp.
- Phương án hai:
Thành lập cơ quan bảo hiến độc lập không thuộc
Quốc hội, để thực hiện một cách độc lập các hoạt
động giám sát tính hợp hiến của các hoạt động
nhà nước, trong đó bao gồm cả hoạt động lập pháp
của Quốc hội. Đây là một phương án khá phổ biến
trong nhiều mô hình nhà nước pháp quyền trên thế
giới. Tính độc lập của cơ quan bảo vệ Hiến pháp
(có thể là Hội đồng bảo hiến, Toà án
Hiến pháp…)
được đảm bảo bởi tính cân bằng trong quan hệ
quyền lực giữa các cơ quan thực hiện
quyền lập
pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.
Trong điều kiện cụ thể ở nước ta, mô hình cơ
quan bảo hiến độc lập này còn phải gắn liền với
vai trò giám sát việc thực hiện quyền lực nhà
nước từ phía Đảng cầm quyền - Đảng Cộng sản Việt
Nam. Nếu phương án này được xây dựng thì khả
năng độc lập và sức mạnh tài phán của cơ quan
bảo hiến này được đảm bảo trước hết bởi Đảng
Cộng sản Việt Nam. Với mô hình này, người đứng
đầu cơ quan bảo hiến (có thể là Toà án Hiến
pháp) sẽ do Quốc hội bầu ra trong số các đại
biểu Quốc hội, các thành viên của các cơ quan
này có thể do Quốc hội hoặc
ủy ban
Thường vụ Quốc hội phê chuẩn theo đề nghị
của Chủ tịch nước.
Cơ chế bảo hiến với mô hình cơ quan bảo hiến độc
lập tất yếu sẽ làm thay đổi các quan hệ tổ chức
quyền lực nhà nước, trong đó vai trò của Quốc
hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất sẽ
phải được nhận thức lại.
- Phương án 3:
Cơ cấu lại tổ chức và
thẩm quyền
của Toà án
nhân dân tối cao, theo đó
Toà án nhân
dân tối cao được trao quyền bảo vệ Hiến
pháp.
Để thực hiện được
thẩm quyền
bảo vệ Hiến pháp,
Toà án nhân
dân tối cao cần được quy định lại về vị
trí, chức năng trong bộ máy nhà nước, bỏ bớt một
số chức năng hiện hành để tập trung vào chức
năng bảo vệ Hiến pháp; cơ cấu lại số lượng, chất
lượng, thành phần và phương thức bổ nhiệm đặc
biệt đối với các thẩm phán
Toà án nhân
dân tối cao, để đảm bảo năng lực, trình
độ, phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp
của mỗi một thẩm phán
Toà án nhân
dân tối cao trong việc thực hiện nhiệm
vụ, trách nhiệm thiêng liêng là bảo vệ Hiến pháp
trước mọi sự xâm hại có thể xảy ra.
Dù cơ quan bảo hiến sẽ được thiết lập theo mô
hình nào chăng nữa, thì việc xuất hiện một cơ
quan bảo hiến sẽ làm thay đổi nội dung và phương
thức thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc
hội trong
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân và vì dân ở nước ta.
- Trở lại với quyền giám sát của Quốc hội theo
pháp luật hiện hành, thì các quy định hiện nay
về chủ thể thực hiện quyền giám sát, về
đối tượng
của quyền giám sát tối cao vẫn đang đặt ra không
ít vấn đề chưa thật sự sáng tỏ.
Trước hết là vấn đề chủ thể thực hiện quyền giám
sát tối cao. Xét về hình thức, chủ thể quyền
giám sát tối cao đương nhiên phải là Quốc hội.
Tuy nhiên trên thực tế, Quốc hội thực hiện quyền
giám sát không chỉ trên các kỳ họp toàn thể mà
còn thông qua hoạt động giám sát của
ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các
ủy ban của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội.
Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội cũng đã quy
định các quyền này cho các cấu trúc tổ chức và
đại biểu Quốc hội. Vấn đề đặt ra là quyền giám
sát và hoạt động giám sát của
ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và
các ủy ban, các đại biểu Quốc hội có phát sinh
từ quyền giám sát tối cao của Quốc hội và vì vậy
có mang tính tối cao? Mâu thuẫn lý luận được đặt
ra là ở chỗ: nếu quan niệm quyền giám sát tối
cao chỉ thuộc về toàn bộ Quốc hội và chỉ được
thực hiện trên các kỳ họp toàn thể với các thể
thức được ghi trong Hiến pháp và Luật tổ chức
Quốc hội, vô hình dung đã thu hẹp phạm vi thực
hiện quyền này và thậm chí làm cho việc thực
hiện quyền này trở nên hình thức trong điều kiện
Quốc hội nước ta chưa phải là một Quốc hội hoạt
động thường xuyên. Ngoài ra, mâu thuẫn còn biểu
hiện ở chỗ, quyền giám sát và hoạt động giám sát
của ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các
ủy ban và các đại biểu Quốc hội nếu không mang ý
nghĩa phát sinh từ quyền giám sát tối cao của
Quốc hội, thì vị trí, vai trò và tính chất của
các quyền và hoạt động giám sát của các loại chủ
thể này cần được nhìn nhận ra sao? Khi thực hiện
quyền giám sát của mình đối với hệ thống của Nhà
nước, các chủ thể này có quyền được nhân danh
Quốc hội hay không? Nhưng nếu quan niệm quyền và
hoạt động giám sát của các chủ thể này là xuất
phát từ quyền giám sát tối cao của Quốc hội, thì
hoạt động giám sát của Quốc hội sẽ trở nên khó
xác định về phạm vi, phương thức và hậu quả pháp
lý của các hoạt động giám sát. Sự lúng túng
trong việc xác định tính chất các quan hệ trong
quá trình thực hiện quyền giám sát tối cao giữa
Quốc hội và các cơ quan tổ chức thuộc Quốc hội
chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến
tình trạng kém hiệu quả trong hoạt động giám sát
của Quốc hội. Để khắc phục tình trạng này cần
tiếp tục nghiên cứu, thống nhất quan điểm về chủ
thể của quyền giám sát tối cao.
Thật ra chủ thể của quyền giám sát tối cao là
đương nhiên thuộc về toàn bộ Quốc hội trong ý
nghĩa là một chỉnh thể với cấu trúc thống nhất
chứ không đơn thuần là phép cộng của các cơ quan
như ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các
ủy ban, các đại biểu Quốc hội. Trong nhà nước
pháp quyền,
thẩm quyền của
ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các
ủy ban không có tính độc lập, mà phát sinh từ
thẩm quyền
của chính Quốc hội. Các cơ quan này về bản chất
chỉ là các cơ cấu bộ máy chuẩn bị nội dung cho
các hoạt động của Quốc hội, toàn thể Quốc hội
thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của mình. Do
vậy giám sát do các cơ quan thuộc Quốc hội trong
nhà nước pháp quyền thực hiện không phải là các
hoạt động giám sát mang tính độc lập. Về thực
chất các hoạt động giám sát này đều nằm trong
quy trình thực hiện quyền giám sát tối cao của
Quốc hội, là một công đoạn để chuẩn bị cho Quốc
hội thực hiện quyền giám sát tối cao tại các kỳ
họp. Quan điểm này xuất phát từ các khía cạnh
sau:
Thứ nhất:
Các cơ quan thuộc Quốc hội
trong nhà nước pháp quyền không phải là các cấu
trúc quyền lực có tính độc lập, do vậy các kết
luận quyết định của các cơ quan này, trong đó có
cả các kết luận về các
vấn đề
thuộc nội
dung giám sát của
các cơ quan
này chỉ có hiệu lực thi hành khi được
Quốc hội
thông qua
hay phê chuẩn và trở thành
quyết định,
kết luận của chính
Quốc hội.
Đấy là vấn
đề rất cơ bản để
nâng cao
hiệu quả giám sát của
Quốc hội,
khắc phục tình trạng các kết luận giám sát của
các cơ quan
thuộc Quốc
hội chỉ mang tính
kiến nghị
đối với các
đối tượng thuộc
quyền giám
sát của họ, nên
dường như hiệu lực pháp lý không mạnh và không
thật sự mang lại hiệu quả. Vấn đề đặt ra là các
kết quả giám sát, các kết luận giám sát do các
cơ quan
thuộc Quốc
hội
thực hiện
cần được báo cáo đầy đủ, thảo luận nghiêm túc
tại các phiên họp của
Quốc hội
và Quốc hội
phải thông
qua
quyết định
của mình (có thể dưới dạng
nghị quyết)
về các kết luận giám sát của các
cơ quan
Quốc hội
đệ trình và chính
Quốc hội
thảo luận, trở thành
quyết định,
kết luận giám sát của
Quốc hội,
buộc các cơ
quan,
tổ chức,
cá nhân liên quan có
trách nhiệm
nghiêm túc chấp hành.
Thứ hai:
Hoạt động giám sát tối cao của
Quốc hội
về cơ bản là diễn ra tại các phiên họp của
Quốc hội.
Tuy nhiên không phải chỉ đến kỳ họp
Quốc hội
mới tiến hành việc giám sát. Trên
thực tế
các hoạt
động giám sát của Quốc hội do các cơ quan
thuộc Quốc
hội
thực hiện
đã diễn ra trước kỳ họp, để chuẩn bị
một
phần nội
dung cho
Quốc hội
thực hiện
quyền giám
sát tối cao tại
phiên họp. Do vậy phiên họp của
Quốc hội
là hình thức cơ bản để
Quốc hội
thực hiện
một
cách chính thức quyền giám sát tối cao và kỳ họp
cũng chính là công đoạn cuối cùng kết thúc
một
chu trình
thực hiện
quyền giám sát tối
cao của
Quốc hội.
Do vậy cần quan niệm
hoạt động
giám sát tối cao của
Quốc hội
là một
hoạt động
có tính chu trình, được bắt đầu từ thời điểm
xuất hiện nhu cầu giám sát
đối với
các
đối tượng,
nội dung
giám sát cụ thể,
thông qua
các hoạt
động giám sát của
các cơ quan
Quốc hội,
của các đại biểu
Quốc hội
và kết thúc tại phiên họp của
Quốc hội
với việc
Quốc hội xem xét,
thảo luận và
thông qua
các quyết
định về giám sát.
Thứ ba:
Nội dung thảo luận của
Quốc hội
liên quan đến việc
thực hiện
quyền giám
sát tối cao tại các
phiên họp, không chỉ là các báo cáo
hoạt động
của Chủ tịch nước,
ủy ban
Thường vụ
Quốc hội,
Chính phủ,
Toà án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
mà còn là các báo cáo giám sát của
ủy ban
Thường vụ
Quốc hội,
Hội đồng dân
tộc, các ủy ban,
các uỷ ban lâm thời về
kết quả
giám sát do các
cơ quan
này thực
hiện theo
nhiệm vụ,
chức năng
của mình. Trong ý nghĩa này,
Quốc hội
xem xét, thảo luận các báo cáo giám sát do các
cơ quan
thuộc Quốc
hội
thực hiện
và đệ trình, trên
cơ sở
đó thông qua
các kết luận cần thiết có giá trị pháp lý cao
bắt buộc các
cơ quan,
tổ chức,
cá nhân liên quan nghiêm túc
thi hành, không chỉ
biến các hoạt động giám sát của các cơ quan này
thành giám sát tối cao của Quốc hội, mà còn đưa
lại cho các hoạt động giám sát một ý nghĩa hiệu
lực thực tế, một sức mạnh pháp lý thật sự, chứ
không còn là các kiến nghị để rồi việc có thực
hiện các kiến nghị này hay không lại phụ thuộc
rất lớn vào “thiện ý” và ‘‘tinh thần trách
nhiệm’’ của các cơ quan, tổ chức hay cá nhân có
liên quan.
- Quốc hội trong nhà nước pháp quyền là một hình
thức tổ chức dân chủ quan trọng để thực hiện
quyền lực nhà nước với hai trụ cột chính là các
ủy ban của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội. Do
vậy đại biểu Quốc hội đóng vai trò đặc biệt quan
trọng không chỉ trong hoạt động lập Hiến, lập
pháp, quyết định các vấn đề trọng đại của đất
nước mà còn cả trong hoạt động thực hiện quyền
giám sát tối cao của Quốc hội. Do vậy việc nhận
thức đầy đủ và đề cao vai trò giám sát của đại
biểu Quốc hội có ý nghĩa lớn đến việc nâng cao
hiệu quả và chất lượng giám sát của đại biểu
Quốc hội. Để thực hiện vai trò giám sát của
mình, đại biểu Quốc hội không chỉ tham gia vào
hoạt động của Quốc hội trong việc xem xét các
báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước,
ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Chính phủ,
Toà án nhân
dân tối cao,
Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, các báo cáo giám
sát của các cơ quan Quốc hội mà còn được thể
hiện ở hoạt động chất vấn. Chất vấn của đại
biểu Quốc hội là hình thức giám sát mang tính
quyền lực nhà nước. Điều 98 - Hiến pháp 1992 quy
định: “Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ
tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính
phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính
phủ, Chánh án
Toà án nhân
dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm
sát nhân dân tối cao…”.
Trong
thời gian
gần đây các đại biểu
Quốc hội
đã tích cực sử dụng quyền chất vấn của mình như
một
công cụ giám sát khá mạnh
mẽ. Cùng với việc mở rộng
dân chủ
trong sinh
hoạt của
Quốc hội,
các hoạt
động chất vấn và
trả lời chất vấn đã
góp phần làm cho
hoạt động
giám sát của
Quốc hội
trở nên sôi động tại các kỳ họp của
Quốc hội,
thu hút được sự quan tâm, theo dõi của cử tri.
Tuy nhiên
vấn đề đang đặt ra
là hiệu quả của chất vấn đến đâu và cần phải
tiếp tục đổi
mới
hoạt động
chất vấn và trả lời chất vấn
như thế nào
để có được các
kết quả
thiết thực. Theo chúng tôi, để
hoạt động
chất vấn thật sự có
hiệu quả
và thiết thực cần quan tâm tới các
vấn đề
sau:
+ Năng lực
thực hiện
chất vấn của đại biểu
Quốc hội.
Để đại biểu
thực hiện được
quyền chất vấn, đại biểu phải thường xuyên được
cung cấp thông tin đầy đủ và
kịp thời
về mọi vấn
đề mà đại biểu đó
quan tâm. Có như vậy mới loại bỏ được tình trạng
là hỏi để “biết” để có thông tin về báo cáo với
cử tri. Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là
năng lực
xử lý thông tin của các đại biểu. Trong
điều kiện
nước ta, các đại biểu
Quốc hội
không có các chuyên gia trợ giúp trực tiếp,
ngoài các hỗ trợ
kỹ thuật
của bộ máy
phục vụ
chung, các đại biểu phải tự mình xử lý thông
tin. Đặc điểm của
cơ cấu
đại biểu và tính chất
hoạt động
không thường xuyên của
Quốc hội,
nhiều
đại biểu
hoạt động kiêm
nhiệm nên
năng lực
hoạt động
đại biểu của
nhiều
đại biểu bị hạn chế.
Vấn đề cấp thiết là phải
xây dựng
và thực hiện
được một
cơ chế
cung cấp thông tin và hỗ trợ
năng lực
xử lý thông tin cho các đại biểu để có thể hỏi
đúng và trúng các
vấn đề
cần chất vấn.
+ Thời gian chất vấn và
trả lời chất vấn còn bị quy định khá hạn chế. Do
vậy các đại biểu không có cơ hội chất vấn cả về
độ sâu lẫn chiều rộng các
vấn đề
quan tâm, và đại biểu cũng chỉ có thể chất vấn
những cá nhân đã được
Chính phủ
phân công trả lời chất vấn.
Sự hạn chế này đã làm cho
hoạt động
chất vấn luôn bị khống chế
thời gian,
trả lời gò ép. Do vậy cần
nghiên cứu
đổi mới
quy trình chất vấn và trả lời chất vấn vẫn theo
hướng giành thêm
thời gian,
tăng cường
đối thoại và tranh luận. Người trả lời chất vấn
không đọc lại văn bản trả lời chất vấn với các
vấn đề
được nêu trước, mà chỉ trả lời trực tiếp các câu
hỏi của đại biểu đặt ra trực tiếp từ văn bản hay
ngoài các câu bỏi đã được nêu trong văn bản.
+ Để hướng sự chú ý chất
vấn của các đại biểu vào
những
vấn đề
bức xúc đang được cử tri quan tâm, cần
nghiên cứu
áp dụng chế độ “điều trần” của
Chính phủ,
của các Bộ trưởng về
những
nội dung
cụ thể mà
Quốc hội quan tâm.
Trên
cơ sở
điều trần của
Chính phủ,
hay của Bộ trưởng về
những
nội dung
cụ thể, các đại biểu tiến hành các chất vấn
không chỉ để làm rõ thêm bản chất của
vấn đề
được điều trần mà còn thể hiện thái độ
đánh giá
của mình về sự “điều trần” của
Chính phủ
hay các quan chức do
Quốc hội
bầu hoặc bổ nhiệm.
+ Kết thúc chất vấn và trả
lời chất vấn
Quốc hội
cần có hình thức thể hiện thái độ và sự
đánh giá
chính thức của mình về sự trả lời chất vấn của
những
người
được chất vấn. Hình thức thể hiện thích hợp có
thể là thông
qua
một
nghị quyết
của Quốc hội
về chất vấn và trả lời chất vấn, làm
cơ sở
để đánh giá
sự tín nhiệm của
Quốc hội
đối với
những
người
có trách
nhiệm trả lời chất
vấn của các đại biểu
Quốc hội.
- Vấn đề giám sát tối cao
của Quốc hội
trong quá trình
xây dựng
nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và
vì dân ở
Việt Nam
là một
nội dung
quan trọng đang được đi sâu
nghiên cứu
làm sáng tỏ trên
nhiều
phương diện
lý luận và
thực tiễn.
Luật về hoạt
động giám sát của
Quốc hội
được thông
qua năm 2003 là
một
bước phát
triển mới trong quá
trình đổi
mới và
nâng cao
hiệu quả
hoạt động
của Quốc hội
theo các yêu
cầu của
nhà nước pháp quyền.
Tuy nhiên
những
vấn đề
đặt ra trong luật vẫn chỉ mới là bước đầu và
chưa thể gọi là đầy đủ và hoàn chỉnh. Để
Quốc hội
thực hiện
có hiệu quả
quyền giám
sát tối cao của
mình trong
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân và vì dân cần tiếp tục
đổi mới
tư duy mạnh mẽ về
tổ chức
bộ máy
nhà nước,
về
nguyên tắc
tổ chức
quyền lực
nhà nước, về
quyền lực
của luật
pháp để
xây dựng
một
Quốc hội
có quyền lực
thực tế
đúng với vị trí là “cơ
quan
quyền lực nhà nước
cao nhất” là “cơ
quan đại biểu cao
nhất của
nhân dân”./.
|