|
QUỐC HỘI VỚI CÔNG TÁC DÂN NGUYỆN
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
Lê Quang Bình
Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Trưởng ban
dân nguyện
Năm 2006 này, chúng ta sẽ kỷ niệm 60 năm cuộc
tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội khoá I của nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà - Nhà nước công nông
đầu tiên ở Đông Nam Châu Á. Mặc dù cuộc bầu cử
diễn ra với muôn vàn khó khăn, dưới bom đạn của
kẻ thù nhưng cuộc Tổng tuyển cử đã thắng lợi và
đưa đến Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam ra
đời.
Từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đến nay, Quốc hội
Việt Nam đã có 11 nhiệm kỳ hoạt động, dù ở những
giai đoạn khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, nhưng
Quốc hội các khoá đều có những đóng góp xứng
đáng vào sự nghiệp cách mạng chung của đất nước,
của dân tộc.
Ngay từ Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà đã quy định: “Tất cả mọi quyền
bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt
Nam” nhân dân thực hiện quyền lực thông qua cơ
quan đại diện đó là Quốc hội và Hội đồng nhân
nhân.
Nhân dân bầu ra Quốc hội, vì thế Quốc hội là cơ
quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất có chức năng lập
hiến, lập pháp; quyết định những vấn đề quan
trọng của đất nước và thực hiện quyền giám sát
tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, chịu sự giám sát
của nhân dân, lắng nghe ý kiến nguyện vọng của
nhân dân là một đặc tính thuộc về bản chất của
Quốc hội. Do đó Quốc hội, các cơ quan của Quốc
hội và đại biểu Quốc hội phải thường xuyên tiếp
xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của
cử tri, thu thập và phản ánh trung thực ý kiến,
kiến nghị của cử tri, và phải quan tâm đến việc
giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền đối với
khiếu nại, tố cáo của công dân và ý kiến, kiến
nghị của cử tri nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của nhân dân, lợi ích của Nhà nước và của
tập thể, bảo đảm trên thực tế tất cả quyền lực
Nhà nước thuộc về nhân dân.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “Dân
nguyện” có nghĩa là nguyện vọng của dân,
được hiểu là những mong muốn, ước nguyện của
nhân dân, và nếu nhìn dưới góc độ quản lý Nhà
nước thì đó chính là nguyện vọng của nhân dân
đối với Nhà nước. Công dân có quyền bày tỏ ý
kiến, kiến nghị hoặc khiếu nại, tố cáo với cơ
quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền nhằm
thực hiện quyền làm chủ của mình tham gia vào
hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì
dân, do đó việc quan tâm đến ý chí, nguyện vọng
của nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân lại
càng có ý nghĩa quan trọng và luôn là mục tiêu
hàng đầu trong tổ chức và hoạt động của bộ máy
Nhà nước. Với mục tiêu đó, Nhà nước ta phải luôn
bảo đảm rằng mọi ý chí, nguyện vọng của nhân dân
đều được tiếp nhận, phản ánh kịp thời và được
nghiên cứu, giải quyết một cách hợp lý nhất,
hiệu quả nhất, đồng thời Nhà nước phải ghi nhận,
bảo đảm thực hiện và tạo điều kiện thuận lợi
nhất để nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của
mình mà trước hết là ghi nhận, bảo đảm thực hiện
các quyền cơ bản của con người, trong đó quyền
khiếu nại, tố cáo là một nội dung quan trọng.
Để tiếp cận được ý chí, nguyện vọng của nhân
dân, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân, Nhà
nước ta đặt ra nhiều phương thức, cơ chế khác
nhau thông qua các cơ quan Nhà nước, tổ chức
chính tri, tổ chức chính trị-xã hội, trong đó
việc thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan
đại diện của nhân dân là phương thức phổ biến và
hiệu quả nhất. Quốc hội, Hội đồng nhân dân các
cấp với tư cách là các cơ quan đại biểu cao nhất
của nhân dân, nên cũng phải có trách nhiệm cao
nhất trong việc tiếp thu, xử lý ý kiến, kiến
nghị của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của nhân dân.
Với ý nghĩa quan trọng đó, Quốc hội cần phải có
những cơ chế thích hợp trong tổ chức bộ máy,
trong phương thức hoạt động của mình để tiếp cận
ý chí, nguyện vọng của toàn thể nhân dân, qua đó
thu thập, tiếp nhận, phản ánh ý kiến, kiến nghị
của nhân dân, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo và bảo
đảm rằng các cơ quan Nhà nước đã nghiên cứu,
giải quyết triệt để những ý kiến, kiến nghị,
khiếu nại, tố cáo đó phù hợp với lợi ích của
nhân dân.
Từ sự phân tích trên có thể rút ra khái niệm
công tác dân nguyện của mười một nhiệm kỳ Quốc
hội Việt Nam bao gồm các hoạt động:
- Tiếp nhận, tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị
của cử tri báo cáo với Quốc hội; chuyển ý kiến,
kiến nghị của cử tri đến cơ quan có thẩm quyền
giải quyết; theo dõi, đôn đốc và giám sát việc
giải quyết ý kiến, kiến nghị đó; trả lời cho cử
tri biết kết quả giải quyết.
- Tiếp công dân, nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo
của công dân, nghiên cứu, chuyển đơn thư đến cơ
quan có thẩm quyền giải quyết, theo dõi, đôn đốc
và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
đó.
Quốc hội khoá I (1946-1960) hoạt động trong điều
kiện cả nước vừa phải hoàn thành cách mạng giải
phóng dân tộc, vừa phải từng bước cải cách dân
chủ, Quốc hội đã góp phần quan trọng vào cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng
lợi bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, bước
đầu đưa Miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, tiếp
tục đấu tranh giải phóng Miền Nam, tiến tới
thống nhất đất nước. Trong hoàn cảnh khó khăn
của cuộc kháng chiến, đại biểu Quốc hội ít có
dịp được gặp gỡ, tiếp xúc với nhân dân. Tại kỳ
họp thứ sáu (từ 29/12/1956 đến 25/01/1957) Quốc
hội đã ra Nghị quyết nhấn mạnh các đại biểu Quốc
hội phải giữ sự liên hệ mật thiết với nhân dân ở
các địa phương đã bầu ra mình, báo cáo trước
nhân dân về kết quả của kỳ họp và phổ biến các
nghị quyết của kỳ họp; lắng nghe ý kiến của nhân
dân và những khiếu tố của dân là một nhiệm vụ
quan trọng của đại biểu Quốc hội.
Sau kỳ họp thứ sáu, Ban thường trực Quốc hội đã
kiện toàn về mặt tổ chức, ba Tiểu ban nghiên cứu
được thành lập, đó là Tiểu ban Pháp luật, Tiểu
ban tuyển cử và Tiểu Ban Dân nguyện. Mỗi Tiểu
ban đều do một Uỷ viên thường trực phụ trách và
một số cán bộ giúp việc.
Các đơn thư phản ánh tình hình, các yêu cầu và
các đề nghị của nhân dân gửi lên Quốc hội, Ban
thường trực Quốc hội đều được Tiểu ban Dân
nguyện nghiên cứu và tuỳ từng trường hợp phối
hợp với các cơ quan của Chính phủ giải quyết
thích đáng.
Các báo cáo của Ban thường trực Quốc hội tại các
kỳ họp sau đều kiểm điểm về công tác này trong
mục “ Vấn đề liên hệ với nhân dân”.
Ban thường trực đã đề ra nhiều biện pháp, kiến
nghị với các cơ quan nhằm đáp ứng được yêu cầu
của nhân dân làm cho mối liên hệ giữa Nhà nước
với nhân dân ngày càng gắn bó mật thiết. Sau
kỳ họp thứ mười một Tiểu ban Dân nguyện được
nhập vào Tiểu ban nghiên cứu tình hình các Hội
đồng nhân dân.
Quốc hội khoá II (từ 1960-1964) khoá III
(1964-1971) khoá IV (1971-1975) khoá
V(1975-1976) và khoá VI hoạt động trong thời kỳ
vừa đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống Đế quốc Mỹ,
giải phóng Miền Nam với tinh thần tất cả cho
tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm
lược, vừa phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ xây dựng
và khôi phục kinh tế ở Miền Bắc, làm hậu phương
vững chắc cho Miền Nam, Quốc hội đã có những
đóng góp quan trọng trong việc đề ra những chính
sách, pháp luật phù hợp, quan tâm đến lợi ích
nhiều mặt, thiết yếu hàng ngày của mọi tầng lớp
nhân dân. Đây là yếu tố quan trọng góp phần bảo
đảm hiệu lực, hiệu quả của chính quyền Nhà nước
trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền
Bắc và giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước.
Việc tiếp công dân, xem xét, giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo của nhân dân được giao cho Văn
phòng Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Trong các báo
cáo của Uỷ ban thường vụ Quốc hội tại các kỳ họp
Quốc hội đều có phần “Giải quyết những đơn
thư khiếu tố của nhân dân”, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội đề nghị các cơ quan, các địa
phương cần có sự quan tâm thích đáng đối với
những thư từ của nhân dân gửi đến và nhấn mạnh
đó là nghĩa vụ thi hành Hiến pháp và cũng là
biểu hiện cụ thể của tinh thần trách nhiệm đối
với nhân dân, ý thức tôn trọng quyền làm chủ của
nhân dân. Uỷ ban thường vụ cũng đề nghị: “Các
Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội, chú
ý thích đáng sử dụng chức năng của người đại
biểu Quốc hội, bàn bạc, nhắc nhở, thúc đẩy các
cơ quan nghiêm chỉnh thi hành chính sách, pháp
luật của nhà nước, tôn trọng quyền tự do, dân
chủ của nhân dân, tích cực giải
quyết những yêu cầu và khiếu nại, tố cáo của
nhân dân” (Báo cáo của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá V).
Nhiều Thư ký Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá VI
đã đi xem xét tại chỗ một số vụ việc có tính
chất nghiêm trọng, cấp bách để nắm tình hình và
trực tiếp góp ý với cơ quan và địa phương về
biện pháp giải quyết. Trong Báo cáo của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội
khoá VI viết: “Nhiều Đoàn đại biểu Quốc
hội và nhiều đại biểu Quốc hội như các đồng chí
ở Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Cửu Long,
Phú Khánh, Lâm đồng, Hà Bắc, Vĩnh Phú, Hâụ
Giang, Đồng Nai... đã tích cực giúp các cơ quan
và địa phương nắm tình hình và giải quyết các
khiếu tố, nguyện vọng của nhân dân. Nói chung,
nhân dân rất phấn khởi khi các đơn từ của mình
được các cơ quan nhà nước giải quyết, có một số
vụ khiếu nại từ lâu, bây giờ được giải quyết,
đương sự gửi thư cảm ơn lên Uỷ ban thường vụ
Quốc hội”.
Quốc hội khoá VII (1980-1987) khoá VIII
(1987-1992) được tổ chức và hoạt động trên cơ sở
Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Hiến
pháp của thời kỳ đổi mới, Quốc hội đã đẩy mạnh
công tác lập pháp, tăng cường công tác giám sát
và quyết định những vấn đề quan trọng khác nhằm
đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước, phù
hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của nước ta
và xu thế tiến bộ của thời đại.
Quốc hội đã giao việc việc nghiên cứu, xử lý đơn
thư và tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo với
Quốc hội cho Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà
nước. Trong phiên họp tháng 9 năm 1981, Hội đồng
Nhà nước quyết định cứ sáu tháng một lần, Hội
đồng Bộ trưởng, Toà án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao báo cáo trước Hội đồng
Nhà nước công tác xét và giải quyết các khiếu
nại, tố cáo của công dân. Hội đồng Nhà nước đề
nghị các đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng
nhân dân cần đôn đốc, kiểm tra tình hình giải
quyết các khiếu nại, tố cáo của nhân dân ở các
địa phương, cần tập trung giải quyết dứt điểm
trong một thời hạn nhất định các vụ việc đã để ứ
đọng lâu ngày.
Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Qui định
việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân trong phiên họp tháng 11 năm 1981.
Quốc hội khoá IX (1992-1997) khoá X (1997-2002)
và khoá XI (2002-2007) được tổ chức và hoạt động
trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ
sung năm 2001 đã phát huy được những kết quả đạt
được của Quốc hội các khoá trước. Hoạt động của
Quốc hội đã có những đổi mới đáng kể nhằm thực
hiện tốt chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của mình
góp phần đưa công cuộc đổi mới đất nước lên tầm
cao mới. Hoạt động của Quốc hội ngày càng dân
chủ. Quốc hội đã khẳng định được vai trò của
mình trong công tác lập hiến, lập pháp, giám
sát, góp phần quan trọng vào việc tăng cường dân
chủ xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ
của nhân dân trên mọi lĩnh vực.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã phân công một uỷ
viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội phụ trách công
tác dân nguyện từ kiêm nhiệm (khoá IX) đến
chuyên trách (khoá X, XI).
Việc tiếp công dân, nghiên
cứu xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân
được giao cho Vụ Dân nguyện của Văn phòng Quốc
hội, dưới sự chỉ đạo về chuyên môn của uỷ viên
Uỷ ban thường vụ Quốc hội phụ trách về công tác
dân nguyện.
Đến năm 2003, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã quyết
định thành lập Ban dân nguyện là cơ quan chuyên
môn do Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội phụ
trách công tác dân nguyện trực tiếp làm Trưởng
ban có nhiệm vụ giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội
thực hiện công tác dân nguyện và tổng hợp, theo
dõi việc thực hiện công tác dân nguyện của Hội
đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các Đoàn
đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Việc
thành lập Ban dân nguyện thể hiện sự quan tâm
của Quốc hội đối với nguyện vọng của nhân dân.
Thắt chặt quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân là
mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta,
Quốc hội đóng vai trò quan trọng trong vấn đề
này. Quốc hội thông qua đại biểu Quốc hội, giữ
quan hệ chặt chẽ với nhân dân, từ đó góp phần
bảo đảm cho các cơ quan khác của Nhà nước không
xa rời quần chúng. Liên hệ chặt chẽ với quần
chúng là nhiệm vụ của các đại biểu Quốc hội. Đại
biểu Quốc hội phải nắm được nguyện vọng của quần
chúng và đề đạt ý kiến, kiến nghị của cử tri lên
các cơ quan nhà nước. Bằng cách liên hệ chặt chẽ
với nhân dân, đại biểu Quốc hội góp phần phát
hiện và sửa chữa những sai lầm, thiếu sót của
cán bộ, giúp giải quyết những yêu cầu chính đáng
của nhân dân. Mặt khác giải thích chủ trương,
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
cho nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, đại
biểu Quốc hội có thể thu hút nhân dân tham gia
quản lý nhà nước, cung cấp những kinh nghiệm,
đưa ra những sáng kiến tốt, phát huy tính tích
cực và khả năng sáng tạo của quần chúng.
Theo lịch sử hoạt động của Quốc hội thì từ kỳ
họp thứ ba Quốc hội khoá IX trở về trước việc
thu thập và phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử
tri với Quốc hội là hoạt động thường xuyên và
chủ yếu của từng đại biểu Quốc hội. Trong Hiến
pháp cũng như các văn bản pháp luật khác chưa
quy định cụ thể hoạt động giám sát việc giải
quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri. Đến kỳ họp
thứ ba, Quốc hội khoá IX, Quốc hội đã thông qua
nghị quyết về việc ban hành Quy chế hoạt động
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, điều 10 của Quy
chế quy định: “Tại kỳ họp Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội báo cáo với Quốc hội về kiến
nghị của cử tri cả nước và đề xuất biện pháp
giải quyết những vấn đề cấp thiết do cử tri đề
nghị để Quốc hội quyết định”. Từ đó, tại
các kỳ họp Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội
báo cáo trước Quốc hội bản tổng hợp ý kiến, kiến
nghị của cử tri do các Đoàn đại biểu Quốc hội
của các địa phương tập hợp thông qua hoạt động
tiếp xúc cử tri của các đại biểu Quốc hội, trừ
các kỳ họp đầu tiên của mỗi khoá Quốc hội do Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tổng hợp và báo cáo.
Ngày 28 tháng 3 năm 2003 Uỷ ban thường vụ Quốc
hội và Đoàn Chủ tịch Uỷt ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam ban hành Quy chế phối hợp công
tác giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ
tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam. Điều 7 khoản 3 của Quy chế này quy định :
“Để phản ánh ý kiến, kiến nghị của các
tầng lớp nhân dân, của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc,
Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cử đại diện đọc báo cáo tổng hợp các ý
kiến, kiến nghị đó trong các kỳ họp Quốc hội”.
Theo Quy chế này từ kỳ họp thứ ba Quốc hội khoá
XI, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trình bày báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của
cử tri với Quốc hội sau khi được Uỷ ban thường
vụ Quốc hội cho ý kiến.
Từ năm 1994, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã quyết
định truyền hình trực tiếp các phiên họp nghe
báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri,
tình hình giải quyết kiến nghị của cử tri và
trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội, đây là
sự đổi mới rất quan trọng được nhân dân hoan
nghênh và đồng tình ủng hộ vì điều đó tạo điều
kiện để cử tri và nhân dân cả nước giám sát trực
tiếp các hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung
và Quốc hội nói riêng, để nhân dân thấy rằng
Quốc hội thực sự coi trọng kiến nghị của cử tri
đúng như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã phát
biểu trong diễn văn bế mạc kỳ họp thứ tám Quốc
hội khoá XI : “Quốc hội hoan nghênh các ý kiến,
kiến nghị của cử tri cả nước và coi đây là sự
đóng góp quý báu, thiết thực, thể hiện tâm huyết
của cử tri đối với sự nghiệp đổi mới và phát
triển đất nước”.
Quốc hội khoá XI là Quốc hội đầu tiên của thế kỷ
21. Đây là thời điểm vô cùng quan trọng với
những thử thách lớn cũng như triển vọng và thời
cơ lớn. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản về đối
nội, đối ngoại được mang lại từ những nỗ lực
vượt bậc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân
trong những năm qua, chúng ta đang đứng trước
những thách thức to lớn về sự tụt hậu xa hơn về
kinh tế so với các nước trong khu vực, về tệ nạn
tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội khác
do mặt trái của cơ chế thị trường mang lại.
Trọng trách to lớn mà Quốc hội phải đảm nhiệm là
sớm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật,
tăng cường hơn nữa công tác giám sát, tập trung
vào những lĩnh vực bức xúc của cuộc sống, nhằm
mục đích làm cho Nhà nước hoạt động có hiệu lực
và hiệu quả hơn, xứng đáng với sự tin tưởng của
nhân dân gửi gắm và giao phó .
Để thực hiện được nhiệm vụ nêu trên, Quốc hội
phải đổi mới cả về tổ chức và phương thức hoạt
động, Quốc hội phải có vai trò to lớn trong việc
thông qua thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, góp phần tích cực vào việc hoàn thiện hệ
thống tổ chức bộ máy Nhà nước, để có sự phân
công và phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện
ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Chất lượng và hiệu quả của công tác dân nguyện
của Quốc hội được đánh giá bằng hoạt động của
đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các
cơ quan của Quốc hội trong việc thu thập và xử
lý ý kiến, kiến nghị của cử tri, quan tâm đến
nguyện vọng chính đáng của nhân dân và bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân, thể hiện
trong việc ban hành chính sách, pháp luật và
quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.
Qua nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức và hoạt động
công tác dân nguyện của Quốc hội một số nước,
chúng tôi thấy hiện nay Nghị viện các nước tổ
chức cơ quan phụ trách công tác dân nguyện theo
3 mô hình :
- Uỷ ban dân nguyện (hoặc Uỷ ban khiếu kiện);
- Thanh tra Quốc hội (hoặc Người bảo vệ quyền
lợi công chúng...);
- Vừa có Uỷ ban dân nguyện vừa có Thanh tra Quốc
hội.
Nhưng dù là theo mô hình nào thì các cơ quan này
đều có chức năng giám sát hoạt động của các cơ
quan nhà nước, các viên chức nhà nước, những
người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà
nước, những người có trách nhiệm thực thi công
vụ và bảo vệ quyền lợi của công chúng khỏi sự
xâm hại bởi hoạt động của công chức và cơ quan
công quyền.
Đối với Quốc hội Việt Nam, theo chúng tôi cũng
cần nghiên cứu, tổ chức một cơ quan chuyên trách
của Quốc hội hoạt động trong lĩnh vực công tác
dân nguyện, để Quốc hội được mở rộng thêm về
lĩnh vực hoạt động của mình, hiểu được tâm tư,
nguyện vọng của nhân dân, những yêu cầu cấp
thiết của xã hội để bổ sung, sửa đổi và xây dựng
chính sách pháp luật. Quốc hội thực hiện được
quyền giám sát thường xuyên, liên tục và có hiệu
quả đối với hoạt động của Chính phủ và các cơ
quan khác trong việc giải quyết ý kiến, kiến
nghị của cử tri và giải quyết khiếu nại, tố cáo
bảo đảm thực hiện quyền cơ bản của công dân.
Kỷ niệm 60 năm Quốc hội Việt Nam, nhìn lại chặng
đường đã đi qua, chúng ta không thể không tự hào
về những đóng góp to lớn của Quốc hội vào thắng
lợi chung của sự nghiệp cách mạng của nhân dân
ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ
tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của cách
mạng Việt Nam, đại biểu Quốc hội đầu tiên của
nước Việt Nam độc lập.
Quốc hội, đại biểu Quốc hội luôn không ngừng
phấn đấu để làm tốt nhiệm vụ “Người đại biểu của
nhân dân”, làm tròn trách nhiệm mà nhân dân giao
phó, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng
của cả nước, phấn đấu vì mục tiêu: “Dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”,
mãi mãi xứng đáng là cơ quan quyền lực cao nhất
đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
|