|
HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI VỚI VẤN ĐỀ BẢO HIẾN Ở VIỆT NAM
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
|
TS. Lương Minh Tuân
Văn phòng Quốc hội |
Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta,
Hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản và có
giá trị pháp lý cao nhất. Hiến pháp khẳng
định việc tổ chức quyền lực Nhà nước thuộc
về nhân dân, ghi nhận và bảo vệ các quyền cơ
bản của con người. Việc tôn trọng và chấp
hành nghiêm chỉnh các quy định của Hiến pháp
là vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước và toàn
xã hội quan tâm.
Quốc hội với tư cách là cơ quan đại biểu cao
nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất ở nước ta có vai trò đặc biệt
quan trọng trong việc bảo đảm để Hiến pháp
được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh.
Trong gần 60 năm qua, Quốc hội đã có nhiều
đóng góp rất quan trọng trong việc bảo vệ
Hiến pháp, đặc biệt là trong quá trình thực
hiện quyền lập hiến, lập pháp và giám sát
tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà
nước.
I- Hoạt động lập hiến của Quốc hội với việc
bảo vệ Hiến pháp
Quốc hội Việt Nam có lịch sử hình thành và
phát triển vẻ vang hơn nửa thế kỷ dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Thực hiện chức năng lập
hiến của mình, trong gần 60 năm qua, Quốc
hội đã lần lượt ban hành bốn bản Hiến pháp
(Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và
Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung
năm 2001). Cùng với hoạt động lập hiến của
Quốc hội, các quy định pháp luật về bảo hiến
ở nước ta đã từng bước được hình thành và
phát triển.
Vấn đề bảo hiến, bảo đảm các giá trị cơ bản,
nội dung của các quy phạm trong Hiến pháp
được Quốc hội quan tâm, đề cập đến ngay từ
Hiến pháp năm 1946 và tiếp tục khẳng định
trong các bản Hiến pháp sau này. Những nội
dung cơ bản được quy định trong Hiến pháp
nhằm bảo vệ Hiến pháp có thể nêu ra như sau:
Thứ nhất,
để Hiến pháp được tôn trọng và nghiêm chỉnh
thi hành, Hiến pháp năm 1946
đã quy định trách nhiệm của mỗi công dân
Việt Nam phải tôn trọng Hiến pháp.
Quy định này được tiếp tục kế thừa và phát
triển qua 3 bản Hiến pháp sau này của Nhà
nước ta. Hiến pháp hiện hành khẳng định việc
tuân theo Hiến pháp và pháp luật là nghĩa
vụ của công dân;
các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi
công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến
pháp và pháp luật;
“Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn
khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Thứ hai,
các bản Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp hiện
hành đều khẳng định “Hiến pháp nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của
Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.
Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với
Hiến pháp”.
Quy định này là rất cần thiết nhằm bảo đảm
tính tối cao của Hiến pháp. Đồng thời, quy
định này còn là cơ sở pháp lý cho việc bãi
bỏ, đình chỉ việc thi hành những quy định
pháp luật khác trái với Hiến pháp.
Thứ ba,
do tầm quan trọng của Hiến pháp đối với Nhà
nước và toàn xã hội, Quốc hội đã đặt ra các
yêu cầu chặt chẽ đối với việc sửa đổi Hiến
pháp và được thể hiện trong Hiến pháp. Hiến
pháp năm 1946 quy định: “Việc sửa đổi Hiến
pháp phải do hai phần ba tổng số nghị viên
yêu cầu”; “Nghị viện bầu ra một ban dự thảo
những điểm thay đổi”, “Những điều thay đổi
khi đã được nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa
ra toàn dân phúc quyết”.
Quy định này của Hiến pháp năm 1946 đã được
kế thừa và phát triển qua 3 bản Hiến pháp
sau nay và được thể hiện chặt chẽ trong Hiến
pháp hiện hành như sau: “Chỉ có Quốc
hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp. Việc sửa
đổi Hiến pháp phải được ít nhất hai phần ba
tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán
thành”.
Thứ tư,
để bảo vệ Hiến pháp trước những hành vi vi
phạm hiến thì việc xác định cơ quan nhà
nước có thẩm quyền trong việc bảo vệ Hiến
pháp, giải quyết những trường hợp vi
phạm Hiến pháp là rất cần thiết. Hiến pháp
năm 1946 không có quy định rõ cơ quan nhà
nước nào có thẩm quyền bảo vệ Hiến pháp.
Hiến pháp năm 1959 đã quy định quyền hạn của
Quốc hội “Giám sát việc thi
hành Hiến pháp”.
Kế thừa quy định này của Hiến pháp năm 1959,
Hiến pháp năm 1980 cũng như Hiến pháp hiện
hành đã nhấn mạnh hơn vai trò của Quốc hội
về vấn đề bảo hiến: “Thực hiện quyền
giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp
...”.
Tiếp đó, Hiến pháp
hiện hành đã quy định cụ thể thẩm quyền của
Quốc hội là: “Bãi bỏ các văn bản của
Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân
dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối
cao trái với Hiến pháp ...”.
Bên cạnh đó, Hiến pháp
hiện hành đã quy định thẩm quyền của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội “Giám sát việc thi
hành Hiến pháp ...”
và “đình chỉ việc thi hành các văn bản
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao trái với Hiến pháp ... và trình
Quốc hội huỷ bỏ các văn bản đó”.
Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội
cũng được Hiến pháp hiện hành giao thực hiện
quyền giám sát trong lĩnh vực phụ trách do
luật định.
Ngoài ra, Hiến pháp
hiện hành còn quy định giao cho một số cơ
quan, cá nhân có thẩm quyền thực hiện các
hoạt động nhằm bảo vệ Hiến pháp như: Chính
phủ bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến
pháp;
Thủ tướng Chính phủ bảo đảm việc thi hành
Hiến pháp trong các cơ quan nhà nước, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ
trang và công dân,
đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quy
định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, các
thành viên khác của Chính phủ, quyết định,
chỉ thị của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương trái với Hiến pháp, đình chỉ việc
thi hành những nghị quyết của Hội đồng nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
trái với Hiến pháp;
Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về các biện
pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp
ở địa phương;
Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành
Hiến pháp; v.v..
Thứ năm,
thực hiện chủ trương của Đảng được nêu ra
trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX về việc sửa đổi, bổ sung Hiến
pháp năm 1992 cho phù hợp với tình hình mới,
Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số
51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số
điều của Hiến pháp năm 1992. Với việc ban
hành Nghị quyết này, Hiến pháp năm 1992 đã
được bổ sung quy định đặc biệt quan trọng
đối với việc bảo hiến ở nước ta: “Nhà
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.
Có thể nói, đây là một nội dung mới, mốc
son quan trọng đánh dấu bước phát triển mới
trong lịch sử lập hiến ở Việt Nam, phù hợp
với thực tế đất nước và xu thế thời đại.
Với quy định mới này, Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân đã trở thành một trong
những mục tiêu, nguyên tắc tổ chức và hoạt
động của Nhà nước ở Việt Nam. Việc bảo
đảm tính tối cao của Hiến pháp và các giá
trị cơ bản đã được ghi nhận trong Hiến pháp
là một trong những nội dung cơ bản của Nhà
nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
II- Hoạt động lập pháp của Quốc hội với việc
bảo vệ Hiến pháp
Trong gần 60 năm qua, Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội đã ban hành được trên 190
văn bản luật và gần 200 văn bản pháp lệnh và
nhiều nghị quyết để cụ thể hoá Hiến pháp.
Trong đó, có nhiều văn bản pháp luật liên
quan trực tiếp đến vấn đề bảo hiến như: các
đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước; Luật
hoạt động giám sát của Quốc hội; Luật ban
hành văn bản quy phạm pháp luật; Luật ban
hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Pháp lệnh về ký
kết và thực hiện điều ước quốc tế đã được
thay thế bằng Luật ký kết, gia nhập và thực
hiện điều ước quốc tế; Bộ luật hình sự; Luật
khiếu nại, tố cáo; Nội quy kỳ họp Quốc hội;
Quy chế hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội; Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc,
các Uỷ ban của Quốc hội, v.v..
Với việc ban hành các
văn bản pháp luật nêu trên, Quốc hội đã tiếp
tục cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về
vấn đề bảo hiến và tạo ra một hệ thống các
quy định khá toàn diện về hoạt động bảo hiến
ở nước ta,
tập trung vào những vấn đề chính như: giám
sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm
pháp luật; giám sát tính hợp hiến trong việc
ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc
tế; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo của công dân đối với các hành vi vi phạm
Hiến pháp và pháp luật; v.v..
Trong quy trình ban hành văn bản quy phạm
pháp luật, việc bảo đảm tính hợp hiến của
các văn bản quy phạm pháp luật trong hệ
thống pháp luật ở nước ta được tiến hành ở
tất cả các khâu từ việc soạn thảo, thẩm
định, thẩm tra, xem xét, thông qua và do
nhiều cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thực
hiện như: Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc
hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc
hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ
Tư pháp, v.v..
Bên cạnh đó, trong
lĩnh vực ký kết, gia nhập điều ước quốc tế,
Quốc hội với việc ban hành Luật ký kết, gia
nhập và thực hiện điều ước quốc tế đã quy
định việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều
ước quốc tế cũng phải “Phù hợp với các quy
định của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam”.
Đồng thời, Luật này đã quy định thẩm quyền
của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
“Xem xét điều ước quốc tế đang có hiệu lực
do Chủ tịch nước, Chính phủ quyết định ký,
gia nhập có dấu hiệu trái với Hiến pháp”;
Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quyết định về việc sửa đổi,
chấm dứt hiệu lực, từ bỏ, rút khỏi, tạm đình
chỉ thực hiện toàn bộ hoặc một phần điều ước
quốc tế có dấu hiệu trái với Hiến pháp;
một số cơ quan nhà nước khác
cũng được giao trách nhiệm bảo đảm tính hợp
hiến trong việc ký kết, gia nhập và thực
hiện điều ước quốc tế như Chính phủ, Chủ
tịch nước, v.v..
Để cụ thể hoá chức năng giám sát tối cao của
Quốc hội, của các cơ quan của Quốc hội, của
các đại biểu Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc
hội, Quốc hội đã ban hành Luật hoạt động
giám sát của Quốc hội. Luật này có nhiều quy
định liên quan đến thẩm quyền, trình tự, thủ
tục tiến hành giám sát việc thi hành Hiến
pháp. Điều 10 của Luật này quy định về việc
xem xét, văn bản quy phạm pháp luật có dấu
hiệu trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Quốc hội.
Nhìn chung, có thể nói, với việc thực hiện
chức năng lập pháp của mình, Quốc hội đã có
những đóng góp to lớn cho hoạt động bảo hiến
ở Việt Nam, từng bước thiết lập một cơ chế
bảo hiến, góp phần quan trọng trong việc bảo
đảm để Hiến pháp nước ta được tôn trọng và
nghiêm chỉnh thi hành trên thực tế; bảo đảm
tính tối cao của Hiến pháp.
III- Hoạt động giám sát của Quốc hội với
việc bảo vệ Hiến pháp
Bên cạnh chức năng lập hiến và lập pháp,
Quốc hội với tư cách là cơ quan đại biểu cao
nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất được giao nhiệm vụ thực hiện
quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến
pháp.
Hoạt động giám sát của
Quốc hội đối với việc thi hành hiến pháp
(tính hợp hiến trong hoạt động xây dựng pháp
luật và hoạt động giám sát, kiểm tra việc
thi hành văn bản quy phạm pháp luật)
ngày càng được coi trọng. Tính hợp hiến đã
trở thành tiêu chí quan trọng hàng đầu phải
xem xét khi tiến hành thẩm định, thẩm tra,
xem xét, thông qua các dự án luật, pháp lệnh
và các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
khác.
Trong những năm gần
đây, hoạt động giám sát của Quốc hội được
triển khai tích cực, có sự đổi mới cả về nội
dung và hình thức giám sát. “Công tác giám
sát của Quốc hội cũng đã có những đổi mới
nhất định như tiến hành nghe các báo cáo
hoạt động của các cơ quan nhà nước ở Trung
ương; cử các đoàn đi kiểm tra, giám sát việc
thi hành pháp luật ở địa phương”.
Quốc hội đã tập trung giám sát việc thi hành
Hiến pháp, pháp luật.
Hoạt động giám sát tại các kỳ họp của Quốc
hội đã được đổi mới với các nội dung giám
sát ngày càng phong phú và được tiến hành
công khai, dân chủ và mang lại những kết quả
thiết thực.
Quốc hội cũng đã ban hành nghị quyết về
chương trình giám sát hàng năm. Đặc biệt,
Quốc hội đã nghe các báo cáo giám sát chuyên
đề do Uỷ ban thường vụ Quốc hội tiến hành về
các vấn đề gây bực xúc như chống thất thoát,
lãng phí trong đầu tư, xây dựng cơ bản,
v.v.. Các nội dung giám sát chuyên đề tại
các kỳ họp của Quốc hội nhìn chung đã được
tiến hành nghiêm túc, các cơ quan chịu sự
giám sát đã đề cao trách nhiệm và có nhận
thức ngày một đúng hơn về hoạt động giám sát
của Quốc hội. Kết quả giám sát chuyên đề
bước đầu đã tạo ra những bước chuyển biến
tích cực trong các lĩnh vực và nội dung được
giám sát.
Mới đây, tại kỳ họp
thứ 8, Quốc hội khoá XI lần đầu
tiên đã tiến hành nghe, thảo luận báo cáo về
việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ,
cơ quan ngang Bộ, Toà án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao từ đầu nhiệm
kỳ Quốc hội khoá XI đến tháng 9/2005, trong
đó có nội
dung bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính
thống nhất của hệ thống pháp luật.
Quốc hội cũng đã ban hành Nghị quyết về kết
quả giám sát việc ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của các cơ quan này.
Có thể nói, với việc thực hiện quyền giám
sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp trong
hoạt động xây dựng pháp luật và hoạt động
giám sát, kiểm tra việc thi hành pháp luật,
Quốc hội cũng đã có những hoạt động tích cực
góp phần nhất định vào việc bảo đảm để Hiến
pháp được tôn trọng và nghiêm chỉnh thi
hành.
IV- Một số hạn chế, tồn tại và kiến nghị
Với hoạt động lập hiến
và lập pháp của mình, Quốc hội đã từng bước
thiết lập một khung pháp lý về bảo hiến ở
nước ta.
Mặc dù Đảng, Quốc hội và các cơ quan nhà
nước hữu quan đã có nhiều nỗ lực để bảo đảm
thi hành Hiến pháp và cũng đã đạt được những
kết quả nhất định, nhưng hoạt động bảo hiến
ở nước ta vẫn còn một số hạn chế, tồn tại
chính sau đây:
Thứ nhất,
Hiến pháp nước ta nhìn chung chưa có hiệu
lực áp dụng trực tiếp,
đặc biệt là trong các trường hợp mà quy phạm
của Hiến pháp không rõ ràng, khó xác định
được những nội dung nào được Hiến pháp bảo
vệ, những nội dung nào do các văn bản quy
pháp luật khác bảo vệ. Ví dụ như quy định
tại Điều 69 của Hiến pháp hiện hành: “Công
dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí;
có quyền được thông tin; có quyền được hội
họp, lập hội, biểu tình theo quy định
của pháp luật”. Vì vậy, trên thực
tế, các cơ quan áp dụng pháp luật thường
không viện dẫn quy định của Hiến pháp để
giải quyết một vụ việc cụ thể. Quốc hội, Uỷ
ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ
hầu như chưa bao giờ bãi bỏ hay đình chỉ văn
bản quy phạm pháp luật nào vì lý do văn bản
pháp luật đó trái với Hiến pháp. Người dân
khi khiếu nai, tố cáo cũng không thể viện
dẫn một điều khoản cụ thể của Hiến pháp để
chứng minh quyền của mình được quy định
trong Hiến pháp bị xâm hại, vì không rõ phạm
vi quyền công dân của mình được Hiến pháp
bảo vệ đến đâu.
Thứ hai,
như đã trình bày ở trên, việc bảo vệ Hiến
pháp ở nước ta hiện nay được giao cho nhiều
cơ quan nhà nước khác nhau đảm trách. Hơn
nữa, Quốc hội vừa là cơ quan lập pháp vừa là
cơ quan thực hiện quyền giám sát tối cao
việc tuân theo Hiến pháp. Theo đó, Quốc hội
vừa làm luật và vừa giám sát, quyết định về
việc liệu một đạo luật do Quốc hội ban hành
có phù hợp với Hiến pháp hay không? Bên cạnh
đó, Quốc hội còn có trách nhiệm giám sát
việc tuân thủ Hiến pháp trong hoạt động xét
xử của Toà án (quyền tư pháp). Như vậy, “còn
có sự lẫn lộn giữa quyền lập pháp và quyền
tài phán (quyền tư pháp) trong hoạt động của
Quốc hội”.
Trong khi đó, Quốc hội lại gồm các đại biểu
đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân
dân; số lượng đại biểu Quốc hội là các
chuyên gia pháp luật không nhiều, đa số đại
biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm; Quốc hội
làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định
theo đa số. Cơ cấu tổ chức của Quốc hội như
vậy, không giống cơ cấu tổ chức của cơ quan
tài phán (cơ quan xét xử gồm các thẩm phán
chuyên nghiệp), là không phù hợp với việc
thực hiện các hoạt động tài phán này. Khác
với nước ta, các hoạt động tài phán này ở
các nhà nước pháp quyền khác trên thế giới
được giao cho một cơ quan chuyên trách có
chức năng giám sát và bảo vệ hiến pháp thực
hiện.
Thứ ba,
Quốc hội là cơ quan quan trọng cấu thành bộ
máy nhà nước. Vì vậy, Quốc hội phải tự mình
tuân thủ Hiến pháp. Tuy nhiên, ở nước ta
hiện nay “cũng chưa có một cơ chế nào để
giám sát chính hoạt động của Quốc hội và
giám sát tính hợp hiến của các đạo luật,
nghị quyết do Quốc hội ban hành ... Hình
thức kiến nghị thông qua hoạt động giám sát
của các cơ quan của Quốc hội chưa thực sự
đem lại hiệu quả”.
Thứ tư,
Uỷ ban thường vụ Quốc hội được giao thẩm
quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.
Tuy nhiên, trên thực tế trong thời gian qua,
Uỷ ban thường vụ Quốc hội hiếm khi
sử dụng thẩm quyền này vì nhiều lý do khác
nhau như: Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ
quan thường trực của Quốc hội hiện đang đảm
nhận một phần không nhỏ công việc lập pháp
do Quốc hội giao (ban hành pháp lệnh về
những vấn đề được Quốc hội giao).
Thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội là các
đại biểu Quốc hội; số lượng thành viên Uỷ
ban thường vụ Quốc hội là chuyên gia pháp
luật là rất ít, không phải là các thẩm phán
chuyên nghiệp. Khác với nước ta, việc giải
thích Hiến pháp trong các trường hợp tranh
chấp liên quan đến Hiến pháp ở các nước trên
thế giới thường do cơ quan chuyên trách bảo
vệ Hiến pháp thực hiện.
Qua trình bày, phân tích ở trên, chúng tôi
xin đề xuất một số kiến nghị bước đầu nhằm
khắc phục những hạn chế, tồn tại nêu trên
theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân và đồng thời, phù hợp với nguyên
tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự
phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp như sau:
1) Tổ chức nghiên cứu lý luận và thực tiễn
để xác lập cơ sở khoa học cho việc xây dựng
cơ chế bảo hiến của Việt Nam.
2) Tổ chức tổng kết thực tiễn hoạt động bảo
hiến ở nước ta trong thời gian qua để có cơ
sở cho việc tiếp tục nâng cao và hoàn thiện
cơ chế bảo hiến của Việt Nam.
3) Cần sớm nghiên cứu
thành lập cơ quan bảo hiến chuyên trách (có
thể thành lập Toà án hiến pháp)
có tính độc lập và chuyên nghiệp cao có chức
năng giám sát việc tuân theo Hiến pháp của
các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp
với các nhiệm vụ chính sau đây:
a)
Phán quyết về mức độ vi hiến của các văn bản
quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà
Nhà nước ta ký kết hoặc tham gia;
b)
Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giữa
các cơ quan hiến định;
c)
Giải quyết các khiếu kiện của công dân, pháp
nhân Việt Nam đối với các quyết định, hành
vi có dấu hiệu vi hiến của các chủ thể thực
thi quyền lực nhà nước;
d)
Giải thích Hiến pháp trong quá trình phán
quyết để bảo đảm cho các nguyên tắc, quy
định của Hiến pháp được nhận thức và thực
hiện thống nhất.
4) Tiếp tục xây dựng
và hoàn thiện pháp luật về bảo hiến, đặc
biệt là cần quy định cụ thể về: tổ chức và
hoạt động của cơ quan bảo hiến chuyên trách
(Toà án hiến pháp); trình tự, thủ tục tiến
hành các hoạt động bảo hiến; tiêu chuẩn,
điều kiện của thẩm phán Toà án hiến pháp; số
lượng, nhiệm vụ, nhiệm kỳ, cơ chế bầu thẩm
phán Toà án hiến pháp ở Việt Nam.
Việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế
bảo hiến của Việt Nam trở thành một trong
những nhiệm vụ quan trọng của Quốc hội trong
thời gian tới./.
|