|
HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP CỦA QUỐC HỘI VÌ MỘT NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
TS. Ngô Đức Mạnh
Văn phòng Quốc hội
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều khoản sửa đổi của Hiến pháp năm 1992 đã chính thức ghi
nhận “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân.” Đây là khái niệm mới về Nhà nước Việt
nam cần phải được làm rõ ít nhất là trả lời
những vấn đề rất cơ bản như: đây là điều
khoản thể hiện bản chất của Nhà nước chúng
ta hay là nhiệm vụ hiện tại thể hiện mục
đích xây dựng Nhà nước mà chúng ta cần phải
phấn đấu hoặc là gồm cả hai nội dung này. Lý
giải vấn đề này là chuyện không dễ dàng vì
từ góc độ nào đi chăng nữa thì điều quan
trọng nhất là phải biến quy định đó của Hiến
pháp thành hiện thực.
Ở một khía cạnh khác của vấn đề, nếu
tính về mặt thời gian thì chỉ đến năm 2001
mới có điều khoản sửa đổi này và được chính
thức ghi nhận trong Hiến pháp tuy rằng trên
thực tế, có thể khẳng định rằng, mục đích
xây dựng một nhà nước Việt nam của dân, do
dân và vì dân đã được đề ra rất lâu trước
đó, từ những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh khi người tìm đường cứu nước và được
thể hiện trong Hiến pháp đầu tiên năm 1946
của nước Việt nam mới. Do đó, điều cần lý
giải và trong phạm vi của bài viết này là
phân tích để thấy rõ hoạt động lập pháp của
Quốc hội đã được phát triển như thế nào góp
phần xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt
nam. Đồng thời, cần phải lý giải rõ mối quan
hệ giữa nhận thức và tư duy mới về vai trò
của pháp luật trong xây dựng nhà nước của
chúng ta, đòi hỏi phải đổi mới công tác lập
pháp. Một điều cần chú ý nữa là mối quan hệ
giữa hoạt động lập pháp
với Quốc hội là chủ thể duy nhất có quyền
lập pháp ở nước ta. Quốc hội đã được đổi mới
như thế nào để thực thi đầy đủ nhiệm vụ và
quyền hạn của mình trong lĩnh vực lập pháp
nhằm thúc đẩy sự nghiệp xây dựng nhà nước
pháp quyền ở Việt nam mà minh chứng rõ ràng
là điều khoản sửa đổi Hiến pháp như đã nêu.
Từ đó, đặt ra 3 loại vấn đề mà tôi muốn trình bày là: (i) sự
đổi mới tư duy về vai trò của pháp luật và
về Quốc hội – tiền đề cho sự phát triển của
hoạt động lập pháp; (ii) kết quả của hoạt
động lập pháp phản ánh những thay đổi trong
xã hội và (iii) những vấn đề đang đặt ra cho
hoạt động lập pháp nhằm bảo đảm xây dựng
thành công Nhà nước pháp quyền Việt Nam theo
đà phát triển của đất nước trong thời gian
tới. Ở đây, việc phân chia thành ba loại vấn
đề như đã nêu chỉ nhằm mục đích làm rõ các
bước phát triển của hoạt động lập pháp vì đó
là cả một quá trình, giữa các vấn đề này có
mối quan hệ gắn bó và thúc đẩy lẫn nhau.
Việc khắc phục và vượt qua những yếu kém và
những mặt chưa được hiện nay của hoạt động
lập pháp cũng chính là nhằm bảo đảm cho sự
phát triển bền vững của Nhà nước pháp quyền
trong tương lai mà chúng ta đang xây dựng.
II. NHẬN THỨC MỚI VỀ VAI TRÒ CỦA PHÁP
LUẬT ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN
2.1.
Pháp luật là công cụ chủ yếu để quản lý nhà
nước và xã hội
Từ việc nhận thức rõ những yếu kém và thất bại của mô hình
quản lý nhà nước theo kiểu tập trung bao cấp
tràn lan vào những năm 1980 của thế kỷ
trước, đã xuất hiện những tìm tòi, nỗ lực
tìm kiếm phương thức quản lý kinh tế mới.
Bước đột phá quan trọng khẳng định sự thay
đổi đó là vào năm 1986, khi Việt nam tuyên
bố tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước.
Trong bối cảnh đó, nhận thức về vai trò của luật pháp đối với
sự phát triển của xã hội đã có bước chuyển
biến quan trọng trong đường lối phát triển
đất nước do Đảng cộng sản Việt nam lãnh đạo.
Đó là “phải dùng sức mạnh của pháp chế xã
hội chủ nghĩa kết hợp với sức mạnh của dư
luận quần chúng để chống vi phạm pháp luật”.
Tiếp đó, văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII
đã nêu rõ nhiệm vụ đặt ra cho công tác lập
pháp của Quốc hội là “phấn đấu trong những
năm tới dần dần có đủ các đạo luật điều
chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo
đúng đường lối quan điểm của Đảng, bảo đảm
định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Điều đáng chú ý là gắn việc phát huy vai trò của pháp luật
với việc nâng cao chất lượng hoạt động của
Quốc hội – cơ quan duy nhất có quyền lập
pháp của đất nước. Ngay từ tháng 6 năm 1987,
đồng chí Nguyễn Văn Linh đã yêu cầu ‘cần
phải xóa bỏ bệnh hình thức và quan liêu giấy
tờ của các khóa Quốc hội trước’ và nhấn mạnh
rằng, từ đây, cơ quan đại diện dân cử cao
nhất của nhân dân Việt nam cần phải có vai
trò chính trị đích thực của mình là thảo
luận và nghiên cứu các vấn đề chính sách.
Phát triển tư tưởng này, Tổng bí thư Nông
Đức Mạnh, nguyên là Chủ tịch Quốc hội trong
thời gian từ 1992 -2002 đã nhấn mạnh đến mối
quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa hoạt động lập
pháp của Quốc hội với nhiệm vụ xây dựng Nhà
nước pháp quyền: “cần thấy rằng, vấn đề xây
dựng Nhà nước pháp quyền phụ thuộc rất lớn
vào việc xây dựng pháp luật và thi hành pháp
luật mà nội dung trọng tâm là hoạt động làm
luật của Quốc hội. Quyền lực của Quốc hội
kết tinh trong các quy định của Luật”.
Tuy vậy, chỉ đến năm 2001, trong Báo
cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa VIII trình Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX của Đảng trong Phần IX- Đẩy
mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà
nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế
mới xác định: “Nhà nước ta là công cụ chủ
yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân,
là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì
dân.”()
2.2.
Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền và Hiến pháp
năm 1992
Trước hết phải xác định nội hàm của
nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Có thể thấy rằng việc đưa nội dung xây dựng
nhà nước pháp quyền vào đạo luật cơ bản của
đất nước là một quá trình đổi mới nhận thức
về phương thức phát triển đất nước. Lần đầu
tiên, khái niệm “nhà nước pháp quyền” lần
đầu tiên được nêu ra tại Hội nghị lần thứ
hai Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII
ngày 29 tháng 11 năm 1991 khi bàn luận về dự
thảo sửa đổi Hiến pháp 1980. Tiếp đó, xây
dựng nhà nước pháp quyền được xác định là
một trong những nguyên tắc cơ bản để cải
cách bộ máy nhà nước và là một trong tám
nhiệm vụ chính trong thời gian tới.trong
giai đoạn hiện nay cũng như trong thời gian
sắp tới.
Chỉ trong thời gian gần đây, nội dung của
nhà nước pháp quyền mới trở thành một chủ đề
rất được các nhà nghiên cứu luật học quan
tâm và thực sự đã thành các cuộc thảo luận
công khai, sôi nổi tại nhiều hội thảo và
trên các tạp chí nghiên cứu thể hiện nhiều ý
kiến khác nhau về vấn đề này do cách tiếp
cận vấn đề xuất phát từ điểm nhấn của mỗi
tác giả về nhà nước pháp quyền.
Điều rõ ràng là nhờ có tư duy mới về
con đường phát triển của đất nước dựa trên
việc đề cao vai trò của pháp luật mà Việt
nam đã quyết định ban hành Hiến pháp mới vào
năm 1992 thay chế cho bản Hiến pháp 1980. Đó
là thời điểm "mà sự nghiệp đổi mới ...đang
đòi hỏi được tiếp tục với nội dung sâu sắc
và toàn diện hơn, với bước đi vững chắc nhằm
đưa đất nước ta tiến tới một giai đoạn phát
triển mới.”
Có thể khẳng định rằng, Hiến pháp năm 1992 là Hiến pháp của
thời kỳ Đổi mới vì rằng đạo luật cơ bản này
đã có những quy định mới thể chế hóa đường
lối Đổi mới đất nước về phát triển nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, công nhận
quyền sở hữu cá nhân và có điều khoản mới
quy định về quyền con người và quy định đầy
đủ, có tính khả thi hơn về quyền công dân.
Hiến pháp năm 1992
cũng quy định rất nhiều nội dung mới, hợp lý
hơn về mô hình tổ chức của bộ máy nhà nước,
các mối quan hệ giữa các thiết chế nhà nước
quan trọng hàng đầu gồm Quốc hội, Chủ tịch
nước, Chính phủ. Căn cứ vào Hiến pháp mà các
đạo luật về tổ chức, hoạt động của Quốc hội
được ban hành vào năm 1992 và 2001 đã tạo ra
những chuyển biến tích cực trong mô hình tổ
chức, phương thức hoạt động của Quốc hội,
theo định hướng chuyển Quốc hội sang hoạt
động thường xuyên được đồng chí Đỗ Mười đề
ra từ năm 1991.
Hệ quả là lần đầu tiên Luật tổ chức Quốc hội
1992 tại Điều 37 đã có quy định “đại biểu
làm việc theo chế độ chuyên trách và đại
biểu làm việc theo chế độ không chuyên
trách”.
Trong tác phẩm nghiên cứu về Nhà nước
và Pháp luật xuất bản năm 1995 nêu rõ việc
xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cần quán
triệt bốn nguyên tắc cơ bản, bao gồm: i) tất
cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân;
nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước vừa trực
tiếp vừa gián tiếp; ii) các quan hệ xã hội
căn bản phải được điều chỉnh bằng pháp luật,
chứ không chỉ bằng đạo lý; iii) pháp luật
phải giữ vị trí chủ đạo trong toàn xã hội và
iv) các cơ quan nhà nước và mọi tổ chức
chính trị xã hội, tổ chức kinh tế và công
dân đều có nghĩa vụ bắt buộc phải tuân thủ
triệt để pháp luật, không ai được đặt mình
đứng ngoài pháp luật.
Ngoài ra, cũng có nhiều ý kiến khác về
những biểu hiện cụ thể của nhà nước pháp
quyền như “Nhà nước pháp quyền là tổ chức
công quyền trong hệ thống chính trị của xã
hội công dân được xây dựng trên nền tảng các
tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại như
công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế
nhằm bảo đảm thực sự những giá trị xã hội
được thừa nhận chung của nền văn minh thế
giới – sự tôn trọng và bảo vệ các quyền tự
do của con người, sự ngự trị của pháp luật
trong lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, sự
phân công quyền lực (lập pháp, hành pháp và
tư pháp) và chủ quyền nhân dân”
Trên thực tế, các phạm trù cụ thể của nhà
nước pháp quyền mà Việt nam cần phải hướng
đến đã trở thành một chủ đề rất được các nhà
nghiên cứu luật học quan tâm và thực sự đã
thành các cuộc thảo luận sôi nổi tại nhiều
hội thảo và đăng tải trên các tạp chí nghiên
cứu.
Tuy đồng tình ở các mức độ khác nhau về nội hàm của khái niệm
nhà nước pháp quyền, nhưng nhiều nhà nghiên
cứu Việt nam cho rằng nhà nước pháp quyền
không phải là mô hình tổ chức nhà nước mà là
phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực
nhà nước trong đó vai trò của pháp luật được
đề cao; pháp luật phải thực sự khách quan,
là đại lượng phổ biến và công bằng nhất.
Đồng thời, nhà nước pháp quyền mà Việt nam
đang xây dựng phải có sáu đặc trưng cơ bản
như sau:
Một là, là Nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân, thể hiện quyền làm
chủ của nhân dân.
Hai là, Nhà nước tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền
con người, các quyền và tự do của công dân.
Ba là, Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở
Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp.
Bốn là, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật; pháp
luật có vị trí tối thượng trong đời sống xã
hội.
Năm là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp; có sự giám sát việc
thực hiện quyền lực nhà nước.
Sáu là, Nhà nước pháp quyền là
nhà nước do Đảng cộng sản Việt nam lãnh đạo.
III. NHỮNG THÀNH TỰU LẬP PHÁP TRONG THỜI
GIAN QUA
Trước hết, kết quả của hoạt động lập pháp là có sự gia tăng
đáng kể về mặt số lượng văn bản luật, pháp
lệnh được ban hành qua các nhiệm kỳ Quốc
hội. Cụ thể là trong nhiệm kỳ khoá IX (1992
- 1997), Quốc hội đã thông qua 36 dự án
luật, bộ luật và 43 pháp lệnh; tiếp đó,
trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá X (1997-2001),
tính đến hết năm 2001, đã có 32 đạo luật và
39 pháp lệnh được ban hành. Tính chung lại,
đã có 68 văn bản luật và 82 pháp lệnh được
ban hành trong thời gian đó.
Về mặt nội dung, một hệ thống pháp luật phục vụ cho yêu cầu
đổi mới toàn diện đất nước, phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã được
hình thành, tiếp tục hoàn thiện đã và đang
phát huy tác dụng trong việc điều chỉnh các
quan hệ đa dạng của đời sống kinh tế-xã hội
trên đất nước ta.
Trong lĩnh vực kinh tế, nhiều văn bản luật do Quốc hội ban
hành đã thiết lập nên hệ thống khung pháp
luật, chính sách mới, tạo môi trường ổn định
và thuận lợi cho sự phát triển của các thành
phần kinh tế là các bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa; góp phần tiếp tục đổi mới
cơ chế quản lý kinh tế, trong đó có việc đổi
mới chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả,
nhằm mục tiêu thúc đẩy sản xuất phát triển,
huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực, tăng tích luỹ để tạo vốn cho đầu tư,
phát triển. Đó là Luật phá sản doanh nghiệp
(1993), Luật khuyến khích đầu tư trong nước
(1994), Luật doanh nghiệp nhà nước (1995),
Luật hợp tác xã (1996), Luật ngân sách nhà
nước (1996) và các luật về thuế... Việc ban
hành các văn bản này đã mở rộng phạm vi điều
chỉnh của pháp luật, kéo theo sự ra đời và
phát triển đa dạng của các quan hệ kinh tế
trong nền kinh tế thị trường; thông qua hoạt
động lập pháp của Quốc hội đã làm xuất hiện
một số ngành luật mới như luật đầu tư nước
ngoài tại Việt nam, giải quyết các tranh
chấp dân sự và kinh tế.
Hoạt động lập pháp của Quốc hội đã tạo ra cơ sở pháp lý bảo
đảm bình đẳng trong các quan hệ kinh tế và
cơ chế hữu hiệu để giải quyết các tranh chấp
phát sinh. Quốc hội đã hai lần tiến hành sửa
đổi, bổ sung Luật tổ chức Toà án nhân dân
nhằm mục đích thành lập các toà chuyên trách
trong hệ thống toà án của Việt nam. Trên cơ
sở này, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban
hành Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ
án kinh tế (tháng bảy năm 1994), Pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính (1995) và Pháp lệnh
về thủ tục giải quyết các trành chấp lao
động (1996), Pháp lệnh công nhận và thi hành
tại Việt nam bản án, quyết định dân sự của
Toà án nước ngoài (1993), Pháp lệnh công
nhận và thi hành tại Việt nam quyết định của
trọng tài nước ngoài (1995).
Hoạt động lập pháp của Quốc hội đã góp
phần hình thành cơ chế quản lý kinh tế mới,
theo đó đã có sự chuyển biến cơ bản từ cách
quản lý bằng các biện pháp hành chính, mệnh
lệnh sang cơ chế quản lý bằng pháp luật. Các
quan hệ kinh tế được hình thành trên nguyên
tắc tự nguyện, bình đẳng, quyền và lợi ích
hợp pháp của các tổ chức, cá nhân thuộc các
thành phần kinh tế được Nhà nước công nhận
và bảo hộ bằng pháp luật, trong đó có các
quyền cơ bản như quyền sở hữu tài sản, quyền
tự do kinh doanh. Đồng thời, hệ thống pháp
luật về kinh tế đã làm đa dạng hoá các thành
phần kinh tế. Sau gần 20 năm đổi mới, các
quy định của pháp luật trong lĩnh vực này
ngày càng hoàn thiện tạo nên môi trường pháp
lý cho việc thành lập các loại hình doanh
nghiệp khác nhau, thu hút vốn đầu tư trong
và ngoài nước, đóng góp nguồn thu quan trọng
cho quốc gia, tạo công ăn việc làm cho hàng
triệu người lao động. Ví dụ, Luật doanh
nghiệp được ban hành năm 2000 đã đơn giản
hoá các thủ tục pháp lý cho việc thành lập
các doanh nghiệp nên trong ba năm qua
(2000-2002) đã có 55.793 doanh nghiệp mới
thành lập (trong 9 năm 1991-1999 có 45.000
doanh nghiệp đăng ký); đưa tổng số doanh
nghiệp đăng ký của khu vực tư nhân lên
khoảng 100.000 doanh nghiệp.
Thông qua hoạt động lập hiến và lập pháp của Quốc hội, chúng
ta đã xây dựng được cơ sở pháp lý vững chắc
cho sự phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Đường lối ĐỔI
MỚI đã được thể chế hóa thành các quy phạm
pháp luật, trong Hiến pháp – đạo luật cơ bản
của nhà nước và các văn bản luật khác quy
định về sự đa dạng của các hình thức sở hữu,
quyền sở hữu của cá nhân, tự do kinh doanh
và tự do hợp đồng, các cơ chế khuyến khích
và bảo đảm đầu tư, khai thác và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực xã hội. Các quy định
mang tính hành chính, mệnh lệnh tràn lan
trong thời bao cấp điều chỉnh các quan hệ
dân sự, kinh tế, thương mại đã được thay thế
bằng hàng loạt các đạo luật về doanh nghiệp,
thương mại, đầu tư, thuế…xác lập quan hệ
bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế, phù hợp
với truyền thống pháp luật dân sự và các
nguyên tắc của thương mại hiện đại. Điều này
đã góp phần làm giảm thiểu sự can thiệp của
các cơ quan công quyền và phát huy quyền làm
chủ của người dân trong các quan hệ dân sự,
kinh tế nói chung và hoạt động của các doanh
nghiệp nói riêng. Nhờ sự phát triển của pháp
luật mà cơ chế xin cho đã bị thu hẹp đáng
kể; chế độ độc quyền thương mại của Nhà nước
được xóa bỏ và trên thực tế, chúng ta đã xác
lập được nguyên tắc “công dân được làm tất
cả những gì mà pháp luật không cấm.”
Hoạt động lập pháp của Quốc hội còn tạo ra cơ sở pháp lý để
xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, kiện
toàn tổ chức và đổi mới phương thức hoạt
động của bộ máy nhà nước từ trung ương đến
địa phương. Các quy định mới của pháp luật
trong lĩnh vực này đã đề cao trách nhiệm
giải trình của các cơ quan nhà nước; thiết
lập các thiết chế công quyền cần thiết,
trong đó nổi bật là các cơ quan chuyên môn
như chuyển cơ quan kiểm toán thuộc Chính phủ
thành cơ quan do Quốc hội lập và chịu trách
nhiệm trước Quốc hội, thiết lập các toà án,
trọng tài thương mại để giải quyết các tranh
chấp phát sinh trong quá trình vận hành nền
kinh tế thị trường; phân định rõ hơn mối
quan hệ giữa trung ương và địa phương, trong
đó đề cao vai trò tự chủ bằng cách giành
nhiều quyền hạn hơn cho chính quyền địa
phương; xác lập chế độ công vụ và trách
nhiệm của công chức, góp phần làm cho thủ
tục hành chính được rõ ràng, đơn giản, công
khai hơn; xác lập cơ chế hoạt động của bộ
máy nhà nước theo hướng bảo đảm cung cấp các
dịch vụ công ngày càng hiệu quả và tiện lợi
cho người dân. Rõ ràng là ở đây có sự tương
tác giữa đổi mới pháp luật với cải cách hành
chính; hoạt động lập pháp đã thực sự thúc
đẩy cải cách hành chính và sự phát triển một
nền quản trị nhà nước có hiệu quả [good
governance].
Sự phát triển của pháp luật trong việc tạo ra cơ chế ngày
càng hoàn thiện bảo vệ các quyền và tự do cơ
bản của người dân. Nguyên tắc “dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã được pháp
luật hóa và từng bước khẳng định trên thực
tế, trong đó quy định những quyền rất mới
của người dân như có quyền khởi kiện công
chức nhà nước và cơ quan nhà nước trước toà
án. Gắn liền với việc bảo vệ các quyền và tự
do của công dân là các quy định của pháp
luật về quyền bầu cử và tự ứng cử, quyền tự
do ngôn luận và tham gia các tổ chức chính
trị - xã hội, xã hội –nghề nghiệp đã làm cho
đời sống xã hội được sống động hơn và đa
dạng hơn, thúc đẩy sự phát triển của một xã
hội dân sự lành mạnh.
Bên cạnh đó, pháp luật về các quyền lao động, việc làm, an
sinh xã hội, giáo dục và các lĩnh vực xã hội
khác đã có những bước đổi mới quan trọng
theo hướng dân chủ và tiến bộ xã hội nhằm
khắc phục những khiếm khuyết và hạn chế của
cơ chế thị trường.
Công tác lập pháp của Quốc hội đã góp phần thúc đẩy và mở
rộng hội nhập quốc tế của nước ta, biến
phương châm “Việt nam muốn làm bạn với tất
cả các nước” thành hiện thực. Đến lượt mình,
sự phát triển và tăng cường các mối quan hệ
quốc tế đã làm cho pháp luật của chúng ta,
nhất là trong lĩnh vực thương mại ngày càng
hài hòa và tương thích với những yêu cầu và
tiêu chí của việc hội nhập.
Các nguyên tắc chung phổ biến của các định chế thương mại khu
vực và quốc tế như không phân biệt đối xử,
cạnh tranh công bằng, minh bạch hoá chính
sách và pháp luật, giải quyết tranh chấp
bằng cơ chế trọng tài và tư pháp, xóa bỏ
hàng rào thương mại do các biện pháp thuế
quan và phi thuế quan gây ra, chống tham
nhũng ...đã được nội luật hóa thành những
quy định của pháp luật quốc gia. Đây chính
là hàng lang pháp lý tạo điều kiện thuận lợi
cho việc thúc đẩy đầu tư nước ngoài và tăng
cường quan hệ thương mại giữa nước ta với
các nước khác.
Yêu cầu mạnh mẽ của việc hội nhập kinh tế quốc tế thời kỳ xây
dựng nhà nước pháp quyền trong bối cảnh mới
của tình hình quốc tế đã chứng kiến sự ảnh
hưởng và mối quan hệ tương tác giữa hệ thống
pháp luật quốc gia và sự đa dạng của hệ
thống pháp luật quốc tế với những khác biệt
rõ nét về nguồn của luật, về các nguyên lý,
khái niệm pháp lý và nhất là sự khác biệt về
trình độ văn hóa và truyền thống pháp lý.
Chính trong lĩnh vực vốn nhạy cảm này, pháp
luật của chúng ta đã có bước đột phá, không
chỉ từ việc làm hợp lý hơn thẩm quyền đàm
phán, ký kết, phê chuẩn mà còn ở việc công
nhận khả năng áp dụng trực tiếp một số điều
ước quốc tế nhất định. Tuy vậy, điều này
không đồng nghĩa với việc đồng nhất hệ thống
pháp luật nước ta với các hệ thống pháp luật
khác mà chính là chủ động tìm kiếm phương
thức, phương pháp để tạo cơ sở pháp lý cho
quá trình hội nhập một cách vững chắc và có
hiệu quả.
Kết quả là cho đến nay, đã hình thành nên hệ thống
pháp luật tương đối đồng bộ thúc đẩy sự phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, đổi mới hệ thống chính trị và
xây dựng Nhà nước pháp quyền. Pháp luật đã
bước đầu trở thành công cụ chủ yếu để quản
lý Nhà nước và xã hội. Nguyên tắc pháp
quyền, tức là tuân thủ Hiến pháp và pháp
luật, từng bước được đề cao và phát huy hiệu
quả trên thực tế. Có thể khẳng định rằng,
việc ban hành những chính sách mới thể hiện
trong các đạo luật kể trên là biểu hiện sinh
động của sự hình thành cơ sở pháp lý cho
việc phát triển đất nước và là tiền đề cho
điều khoản sửa đổi Hiến pháp quy định về nhà
nước pháp quyền Việt nam xã hội chủ nghĩa.
Hệ quả xã hội của sự phát triển luật pháp như đã trình bày là
tạo ra một xã hội được quản lý bằng pháp
luật có nền chính trị ổn định, tốc độ phát
triển kinh tế tăng cao và quyền lợi của
người dân ngày càng được bảo đảm. Và đến
lượt mình, những đổi mới về mọi mặt mà Việt
nam đạt được trong thời gian qua lại tạo ra
động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển mạnh
mẽ hơn nữa của xã hội, trong đó có việc đề
cao vai trò của pháp luật và khẳng định
chính thức trong điều khoản sửa đổi của Hiến
pháp 1992 về Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã
hội chủ nghĩa.
IV. TIẾP TỤC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT
ĐỘNG LẬP PHÁP VÌ MỤC ĐÍCH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM
Từ những điều đã trình bày ở trên về nội hàm của nhà nước
pháp quyền mà Việt nam đang xây dựng, cho
thấy công tác lập pháp của Quốc hội đáp ứng
yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền phải
gắn liền với việc giải quyết thành công hai
loại vấn đề có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau: (i) khắc phục những yếu kém, khiếm
khuyết nội tại của hệ thống pháp luật và
(ii) tăng cường năng lực lập pháp của Quốc
hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp ở
Việt nam.
4.1.
Một mô hình hệ thống pháp luật mới
Theo quan niệm truyền thống của chúng
ta, hệ thống pháp luật là tổng thể các quy
phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống
nhất với nhau được phân định thành các chế
định pháp luật và các ngành luật, được thể
hiện trong các văn bản do Nhà nước ban hành.
Cải cách pháp luật, theo cách tiếp cận này
là cố gắng ban hành một hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật có tính thứ bậc và có bốn
tiêu chuẩn thể hiện mức độ hoàn thiện của hệ
thống đó.
Cách tiếp cận khác về hệ thống pháp
luật được đề xuất gần đây khi các cơ quan
của Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực pháp
luật tiến hành đánh giá nhu cầu phát triển
hệ thống pháp luật Việt nam đến năm 2010 gồm
bốn cấu thành: a) các thiết chế xây dựng
pháp luật; b) khuôn khổ pháp luật; c) thông
tin, tuyên truyền pháp luật và d) đào tạo,
bồi dưỡng pháp luật.
Vì vậy, cần nhìn nhận vấn đề phát triển hệ thống pháp luật
một cách đồng bộ, toàn diện ở chỗ không chỉ
là ban hành đủ các đạo luật một cách kịp
thời mà còn bảo đảm áp luật được thi hành
nghiêm chỉnh thông qua công tác tuyên
truyền, phổ biến và áp dụng pháp luật. Cải
cách pháp luật đồng nghĩa với cải cách cả
bốn bộ phận cấu thành đã nêu và trong vấn đề
này, Quốc hội đóng vai trò quan trọng là
thiết chế có quyền lập pháp duy nhất ở Việt
nam.
Về mặt phương pháp
luận hình thành và phát triển hệ thống pháp
luật, pháp luật Việt nam là thể chế hoá
đường lối của Đảng; đây là nhân tố có ý
nghĩa quyết định để bảo đảm pháp chế xã hội
chủ nghĩa.
Đồng thời, trong điều kiện Đổi mới hiện nay,
cải cách pháp luật còn chịu ảnh hưởng và tác
động mạnh mẽ của các nhân tố khác. Thứ nhất,
đó là xây dựng hệ thống pháp luật trong điều
kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần; thứ hai, dân chủ hoá các mặt của
đời sống xã hội và bảo vệ quyền và lợi ích
chính đáng của nhân dân và thứ ba, đất nước
đang trong quá trình hội nhập mạnh mẽ vào
khu vực và thế giới, không chỉ trong lĩnh
vực kinh tế mà cả trong các lĩnh vực khác.
Vừa qua, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XI,
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã nhấn
mạnh: "Chúng ta phải đưa cuộc sống vào luật,
phải luật hóa cuộc sống, luật pháp phải phù
hợp với quy luật khách quan, phù hợp với
thực tiễn Việt Nam, không được chủ quan, áp
đặt".
Đó chính là những yêu cầu mới mà chúng ta
phải tính đến trong việc xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt nam để bảo đảm
cho pháp luật phù hợp với thực tế cuộc sống.
Giải thích về vấn đề này, Tskh. Đào Trí Úc
cho rằng phát triển nền kinh tế hàng hoá
theo cơ chế thị trường là sự phát triển
khách quan và vì vậy:
“cũng cần thấy được
vai trò quản lý và điều tiết của Nhà nước là
khách quan và sự bảo đảm an toàn ...công
bằng xã hội là yêu cầu số một trong đánh giá
về hoạt động của Nhà nước...” Dấu hiệu" này
phải được cụ thể hoá thành những đòi hỏi và
tiêu chí pháp lý của các cơ chế, chính sách
và pháp luật mà Nhà nước ta ban hành. Nhưng
đến lượt mình, những cơ chế, chính sách và
pháp luật đói lại đòi hỏi sự áp dụng nhất
quán và đúng đắn. Vì vậy, nhà nước pháp
quyền có một nội dung quan trọng là pháp
luật phải có tính pháp lý cao, tức là phải
thực sự khách quan, là đại lượng phổ biến
và công bằng nhất."
Về mối quan hệ giữa
pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Khi
thực hiện chủ quyền của mình trong việc hội
nhập, Việt nam cũng đồng thời phải tính đến
nghĩa vụ pháp lý ràng buộc trong việc thực
hiện các cam kết quốc tế đã thoả thuận. Điều
này không đồng nghĩa với việc đồng nhất hệ
thống pháp luật trong nước với các hệ thống
pháp luật khác, mà chính là chủ động tìm
kiếm phương thức, phương pháp để tạo cơ sở
pháp lý cho quá trình hội nhập một cách vững
chắc và có hiệu quả, làm hài hoà pháp luật
trong nước với pháp luật quốc tế.
Một trong những giải pháp cơ bản để
nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của
Quốc hội là: “về lâu dài, toàn bộ chức năng
lập pháp phải do Quốc hội thực hiện, còn
việc ban hành pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội chỉ tồn tại như một bước quá độ
trong một số năm.”
Điều này không chỉ đặt ra câu hỏi khi nào thì có thể chấm dứt
việc tồn tại hình thức pháp lệnh, mà còn
phải lý giải vấn đề gì phải do luật quy định
và vấn đề gì là do pháp lệnh quy định. Nói
cách khác, cần làm rõ mối quan hệ giữa luật
và pháp lệnh để tiếp tục hoàn chỉnh cơ chế
thực hiện quyền lập pháp của Quốc hội nhằm
bảo đảm nguyên tắc: Quốc hội là cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan duy
nhất có quyền lập hiến và lập pháp, tránh sự
can thiệp hoặc "lấn quyền" từ các các cơ
quan khác.
Hiện tại, ranh giới giữa khái niệm Luật và Pháp lệnh là chưa
rõ ràng. Theo Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật, Điều 20 (1) "luật quy định các
vấn đề cơ bản, quan trọng thuộc các lĩnh
vực đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh
tế, xã hội, quốc phòng, an ninh..." và theo
Điều 21(1) "pháp lệnh quy định những vấn đề
được Quốc hội giao, sau một thời gian thực
hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban
hành thành luật." Từ những quy định này,
chúng ta thấy: (a) khái niệm "lĩnh vực"
đối nội, đối ngoại rất là rộng, hầu như là
bao gồm hết tất cả các mối quan hệ xã hội
tồn tại trong lĩnh vực đó; (b) hình thức
pháp lệnh tồn tại có tính chất tạm thời, chỉ
về những vấn đề được Quốc hội giao; và (c)
cách làm khá phổ biến trong thời gian qua là
để điều chỉnh một lĩnh vực nào đó thì trước
hết phải ra Pháp lệnh, thực hiện một thời
gian, rồi sau đó nâng lên thành luật. Ví dụ,
kinh nghiệm xây dựng Bộ luật dân sự, Bộ luật
lao động trên cơ sở ban hành và áp dụng
trong một thời gian dài các văn bản đơn lẻ
trong các lĩnh vực đó. Tuy nhiên, quy định
"sau một thời gian thực hiện" ở điều 21 Luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật là không
có giới hạn cụ thể và trên thực tế, khi đã
công bố, xét về hiệu lực của văn bản và đối
tượng áp dụng, Pháp lệnh cũng như Luật đều
được áp dụng thống nhất trong cả nước, cho
mọi tổ chức và cá nhân.
Để bảo đảm quyền lực tối cao của các đạo luật thì cũng phải
có những sửa đổi, bổ sung nhất định về mặt
thủ tục, quy trình lập pháp. Cụ thể là cần
tính đến khả năng sau khi pháp lệnh được Ủy
ban thường vụ Quốc hội thông qua thì phải
trình Quốc hội phê chuẩn tại kỳ họp gần
nhất. Trong trường hợp đó, pháp lệnh sẽ trở
thành luật của Quốc hội.
Về phạm vi điều chỉnh của luật và pháp
lệnh, quan niệm chung, tương đối thống nhất
giữa các nhà luật gia là về các quyền và tự
do cơ bản của công dân, các vấn đề về nguyên
tắc tổ chức bộ máy nhà nước: Quốc hội, Chủ
tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện
kiểm sát nhân dân, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
nhân dân; chế độ bầu cử của công dân; về
thuế, tài chính, tiền tệ và các quy định về
hình sự, dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng
dân sự, tức là những vấn đề đã ổn định, có
chính sách, đường lối rõ ràng phải được luật
quy định.
Ngoài phạm vi đó ra, phải chăng là lĩnh vực
điều chỉnh của pháp lệnh và sau một thời
gian áp dụng cụ thể sẽ được nâng lên thành
luật.
Có thể nói thực trạng luật khung là
điểm nhức nhối hiện nay của hoạt động lập
pháp. Đặc điểm chung của hiện tượng luật
khung là các quy định trong văn bản luật còn
chung chung, không cụ thể theo công thức
chung là: “Chính phủ quy định chi tiết thi
hành luật này” hoặc “theo quy định của pháp
luật”. Hệ quả là tuy luật, pháp lệnh được
ban hành rồi mà muốn thi hành được vẫn phải
chờ các cơ quan có thẩm quyền mà thường là
cơ quan hành pháp, như Chính phủ, các bộ,
ngành, có khi cả Toà án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân vốn là những cơ quan
thực thi pháp luật lại ban hành văn bản
hướng dẫn, thực chất là cụ thể luật, pháp
lệnh gây nên tình trạng là không nhất quán,
trùng lặp giữa các quy định này với nhau.
Tình hình càng trở nên phức tạp hơn khi xảy
ra tình trạng luật, pháp lệnh chờ văn bản
hướng dẫn thi hành trong nhiều năm, làm suy
giảm hiệu lực thực tế của văn bản luật, pháp
lệnh. Từ đó, chúng ta phải phấn đấu luật hóa
các chính sách "với những nội dung rõ ràng,
minh bạch, điều chỉnh trực tiếp các mối quan
hệ xã hội. Ủy ban thường vụ Quốc hội không
phải ra quyết định nữa".
Tình trạng luật khung đặt ra cho công tác giải thích Hiến
pháp, luật, pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội có ý nghĩa hết sức quan trọng. Hầu
hết các bản Hiến pháp của Việt nam, trừ Hiến
pháp năm 1946, đều có quy định Uỷ ban thường
vụ Quốc hội có quyền này nhưng trên thực tế,
chưa có văn bản pháp luật nào được Uỷ ban
thường vụ Quốc hội giải thích chính thức. Có
rất nhiều nội dung pháp lý cụ thể cần phải
được làm rõ như quy trình giải thích từ việc
trình kiến nghị giải thích, thẩm tra của các
cơ quan của Quốc hội cho đến việc thảo luận
và ban hành văn bản giải thích và nhất là
xác định rõ mối quan hệ giữa điều khoản giải
thích do Ủy ban thường vụ Quốc hội đưa ra và
nội dung được giải thích trong luật, pháp
lệnh, về hiệu lực thi hành của chúng, nhất
là khi nội dung giải thích lại là các quy
định của Hiến pháp. Từ đó, theo suy nghĩ của
chúng tôi, cần phải tìm kiếm các giải pháp
thích hợp nhằm bảo đảm tính tối cao của Hiến
pháp và luật do Quốc hội ban hành bằng việc
thiết lập cơ chế bảo hiến có hiệu quả.
Một vấn đề nữa đặt ra cho công tác lập
pháp của Quốc hội là mở rộng nguồn sáng kiến
lập pháp với tính khả thi của Chương trình
xây dựng luật, pháp lệnh hiện đang được coi
là căn cứ để đưa công tác xây dựng và thông
qua các dự án luật, pháp lệnh vào nền nếp,
có cơ sở khoa học, “tạo điều kiện phát triển
có kế hoạch hệ thống pháp luật của Nhà
nước.”
Trên thực tế, bên cạnh những ưu điểm nhất
định, việc xây dựng luật căn cứ vào Chương
trình cũng tạo ra những khó khăn nhất định
vì phải đưa sáng kiến vào Chương trình và
mỗi Ban soạn thảo được thành lập chỉ để
chuẩn bị một dự án luật, pháp lệnh cụ thể mà
thiếu sự linh hoạt cần thiết để có thể đề
xuất sửa đổi các luật, pháp lệnh có liên
quan. Giải pháp đề xuất cho vấn đề này là
phải tính toán sự cần thiết phải luật hoá
những vấn đề bức xúc của cuộc sống trong
điều kiện quỹ thời gian vật chất chỉ có hai
kỳ họp Quốc hội trong năm. Từ đó, xác định
thứ tự ưu tiên trong việc ban hành các văn
bản luật và áp dụng kỷ thuật một luật sửa
nhiều luật
không chỉ xuất phát từ nhu cầu hội nhập kinh
tế quốc tế mà còn là giải pháp có tính lâu
dài vì mục đích đẩy nhanh quá trình làm luật
và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của cả
hệ thống pháp luật.
Hoạt động lập pháp phải hướng đến và vì mục đích thúc đẩy
tiến bộ xã hội, xây dựng xã hội công dân,
hạn chế những tiêu cực do kinh tế thị trường
gây ra. Các cơ chế, chính sách mà pháp luật
được đề ra phải hướng đến mục đích tạo ra cơ
chế pháp lý bảo vệ vững chắc những thành quả
đã đạt được và tiếp tục giải phóng nguồn nội
lực trong nước, xóa bỏ những rào cản ảnh
hưởng đến sự phát triển bền vững của đất
nước.
4.2.
Tăng cường năng lực lập pháp của Quốc hội
Nhằm mục đích nâng cao chất lượng công tác lập pháp, yêu cầu
cấp thiết hiện nay là tăng cường năng lực
hoạt động của Quốc hội, bảo đảm cho Quốc hội
thực sự là cơ quan “làm luật” chứ không chỉ
đơn thuần là xem xét, thông qua luật. Yêu
cầu chung là Quốc hội phải có đủ năng lực để
thảo luận sâu rộng, đề ra những định hướng,
yêu cầu cơ bản, lớn thuộc nội dung chính
sách để làm cơ sở cho việc xây dựng các văn
bản luật. Điều này đặt ra nhiều vấn đề như
cần tiếp tục nâng cao chất lượng đại biểu
Quốc hội; hoàn thiện cơ chế giới thiệu, lựa
chọn và tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội;
tăng thêm số đại biểu Quốc hội hoạt động
chuyên trách, ít nhất là bảo đảm tất cả
thành viên của các cơ quan của Quốc hội
trong nhiệm kỳ tới phải hoạt động chuyên
trách; thành lập thêm một số ủy ban của Quốc
hội về tài chính, tư pháp để giúp Quốc hội
thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định phân
bổ ngân sách, giám sát hoạt động tư pháp.
Hiện tại, khả năng tham gia và đóng góp của các đại
biểu chuyên trách vào hoạt động của Quốc hội
không đồng nghĩa có thêm đại biểu chuyên
trách thì chất lượng và hiệu quả hoạt động
của Quốc hội được nâng cao. Điều này phụ
thuộc rất nhiều vào việc thay đổi phương
thức hoạt động của chính bản thân các đại
biểu chuyên trách từ chỗ là người trực tiếp
điều hành quản lý ở cơ quan hành chính sang
làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội với trách
nhiệm chính là tham gia hoạch định chính
sách ở tầm vĩ mô qua việc xem xét và quyết
định các dự án luật và nghị quyết về kinh
tế, xã hội.
Ở một khía cạnh khác của vấn đề, quá trình dân chủ hoá các
mặt của đời sống xã hội gắn liền với việc
bảo đảm quyền thông tin của công dân đòi hỏi
phải thực thi đầy đủ các quy định của pháp
luật về quyền tự do thông tin của người dân.
Các đại biểu Quốc hội phải được cung cấp đầy
đủ thông tin một cách kịp thời, chi tiết,
được phân tích và đánh giá để xem xét và
đánh giá các chính sách lập pháp. Điều này
không chỉ đòi hỏi phải thực hiện đầy đủ
quyền thông tin của đại biểu mà còn phải
thiết lập cơ chế cung cấp cho đại biểu Quốc
hội không chỉ từ các cơ quan nhà nước mà còn
từ các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, từ các
nhóm đối tượng chịu sự tác động của văn bản
luật. Quốc hội phải có các cơ quan nghiên
cứu đủ mạnh, có đủ năng lực phân tích, tổng
hợp khối lượng thông tin đồ sộ về kinh tế,
xã hội để cung cấp theo yêu cầu của các cơ
quan của Quốc hội và của cá nhân đại biểu
Quốc hội.
Vấn đề nữa là cần tiếp tục cải tiến việc thảo luận và thông
qua dự án luật tại kỳ họp; khắc phục tình
thực trạng kéo dài là có hiện tượng "làm văn
tập thể"; khi mà các đại biểu Quốc hội thảo
luận nhiều về cách hành văn, câu chữ của dự
án luật mà không tập trung làm rõ những vấn
đề về mặt chính sách pháp luật như lợi ích
và tính khả thi của dự án luật...
Đại biểu hoạt động chuyên trách chưa phải là chuyên nghiệp
nhưng lại là bước khởi đầu rất quan trọng để
tiến tới một Quốc hội chuyên nghiệp. Từ thực
tiễn hiện nay của Việt nam, chúng tôi cho
rằng, việc bước đầu hình thành nhóm các đại
biểu hoạt động chuyên trách ở Quốc hội thực
chất là nhận thức mới về cách thức tổ chức
thực hiện quyền lực nhà nước trao cho Quốc
hội và rằng khó có thể cải tiến chất lượng
và hiệu quả hoạt động của Quốc hội nếu cơ
quan này không có những người đại biểu
chuyên trách của mình.
V. KẾT LUẬN
Thành công của hoạt động lập pháp và ở
mức độ đáng kể, của việc thực hiện nhiệm vụ
xây dựng Nhà nước pháp quyền, phụ thuộc vào
mức độ hài lòng của người dân về những giải
pháp lập pháp do Quốc hội đưa ra; ở tốc độ
của những biện pháp đổi mới về thể chế kinh
tế và chính trị mà luật pháp ghi nhận. Những
nội dung mới mà hoạt động lập pháp đã và
đang hướng đến là xây dựng chế độ quản trị
nhà nước tốt [good governance] như kiềm chế
và chống tham nhũng; minh bạch hóa hoạt động
của bộ máy nhà nước. Có thể thấy rằng việc
đưa nội dung xây dựng nhà nước pháp quyền
vào đạo luật cơ bản của đất nước là một quá
trình đổi mới nhận thức về phương thức phát
triển đất nước trong giai đoạn hiện nay cũng
như trong thời gian sắp tới.
Vấn đề tiếp tục cải cách pháp luật vì mục tiêu xây dựng và
hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt nam là
một quá trình phức tạp, phải xuất phát từ
điều kiện thực tế của đất nước; đòi hỏi phải
có những giải pháp đồng bộ về tư tưởng,
nhận thức, tổ chức thi hành pháp luật và
nâng cao trình độ, văn hoá, giáo dục của
nhân dân.
Rõ ràng là đổi mới Quốc hội góp phần tích cực vào quá trình
xây dựng nhà nước pháp quyền Việt nam xã hội
chủ nghĩa. Với tính chất là cơ quan đại biểu
cao nhất của nhân dân, đổi mới Quốc hội sẽ
tạo ra động lực và thúc đẩy quá trình cải
cách ở Việt nam, nhất là trong việc thực
hiện có kết quả chương trình lập pháp đồ sộ
đã đề ra. Trong mối quan hệ với cải cách
pháp luật, vai trò của Quốc hội còn thể hiện
ở chỗ Quốc hội giám sát việc thi hành pháp
luật, bảo đảm cho pháp luật được thi hành
nghiêm chỉnh và thống nhất trong cả nước.
Từ những điều đã phân tích ở trên cho chúng ta thấy vấn đề
tăng cường hoạt động lập pháp của Quốc hội
nhằm thúc đẩy và bảo đảm tương lai vững bền
của nhà nước pháp quyền ở Việt nam phải được
xem xét trong tổng thể chung của việc nâng
cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của
Quốc hội trong thời gian tới, phải là tổng
thể của nhiều biện pháp cụ thể, có tính khả
thi của quá trình chuyển vững chắc Quốc hội
sang cơ chế hoạt động chuyên nghiệp hơn./.
|