|
ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA
QUỐC HỘI
TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
GS. VS Nguyễn Duy Quý
Các nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam trong
những năm qua đã phác thảo ra những phương hướng
chủ yếu về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Một trong những phương hướng
đó là tiếp tục xây dựng và hoàn thiện lý luận về
đổi mới tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động
của các thiết chế trong bộ máy nhà nước, trong
đó có Quốc hội. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX đã đề ra nhiệm vụ phải "kiện toàn tổ chức,
đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt
động của Quốc hội".
Khi nghiên cứu đổi mới tổ chức và hoạt động của
Quốc hội, cần tính đến tính lịch sử hình thành
và phát triển của bộ máy của nhà nước ta trong
60 năm qua, nhất là từ khi có Hiến pháp năm 1992
đến nay.
Hiến pháp năm 1992 đã xác định mô hình tổ chức
quyền lực nhà nước theo nguyên tắc quyền lực nhà
nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện
các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tổ chức
bộ máy nhà nước đã từng bước phù hợp với các mục
tiêu của quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế
hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phù
hợp với các mục tiêu đổi mới hệ thống chính trị
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cơ
chế tổ chức và vận hành của các thiết chế quyền
lực ở cấp trung ương từ Quốc hội, Chính phủ đến
tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thể hiện sự
kế thừa sâu sắc tính chất tiến bộ của nhà nước
kiểu mới được khẳng định trong các Hiến pháp
1946, 1959, 1980. Đồng thời Hiến pháp năm 1992
cũng khẳng định những cải cách mạnh mẽ với mục
tiêu xây dựng bộ máy nhà nước thật sự có hiệu
quả, thích ứng với điều kiện kinh tế - xã hội
của thời kỳ đổi mới.
Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước từ khi có Hiến pháp năm 1992 cho
thấy, giữa các quy định Hiến pháp về cơ cấu tổ
chức, quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ giữa
các thiết chế quyền lực với thực tiễn vận hành
của cơ chế quyền lực nhà nước vẫn tồn tại một
khoảng cách.
Có thể dễ dàng nhận thấy rằng bộ máy nhà nước
theo Hiến pháp năm 1992 thể hiện rõ mong muốn tổ
chức theo hướng hiện đại, đáp ứng nhu cầu của
kinh tế thị trường và trở thành một công cụ có
hiệu quả để tiến hành cải cách. Tuy nhiên các
quy định của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức bộ
máy nhà nước vẫn chịu ảnh hưởng lớn của các quy
định Hiến pháp năm 1980 và thực tiễn tổ chức bộ
máy nhà nước trong mấy chục năm qua. Về phía
Quốc hội, với tính chất là cơ quan đại biểu cao
nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
Quốc hội được xác định là cơ quan duy nhất có
quyền lập hiến và lập pháp; thực hiện quyền giám
sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà
nước và quyết định những vấn đề quan trọng của
đất nước. Nhưng tổ chức và hoạt động của Quốc
hội vẫn bị tác động và ảnh hưởng bởi các yếu tố
chưa hợp lý trong tổ chức bộ máy nhà nước; mặc
dù đã có cải cách, nhưng vẫn chưa đáp ứng được
yêu cầu của tình hình mới. Có thể thấy bộ máy
nhà nước được tổ chức trên cơ sở các quy định
của Hiến pháp năm 1992 vẫn chưa đủ khả năng để
giải quyết được các mâu thuẫn như: mâu thuẫn
giữa quy định Hiến pháp về quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân và thực tiễn quan liêu của tổ
chức bộ máy nhà nước; mâu thuẫn giữa thẩm quyền
hiến định và quyền lực trên thực tế của Quốc
hội, Chủ tịch nước, Chính phủ; mâu thuẫn giữa
tính không thường xuyên của hoạt động Quốc hội,
tính không chuyên nghiệp của đa số đại biểu Quốc
hội với nhu cầu xây dựng pháp luật và thực hiện
quyền giám sát tối cao của Quốc hội; mâu thuẫn
giữa thẩm quyền ban hành luật của Quốc hội và
quyền ra Pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội; mâu thuẫn giữa địa vị phụ thuộc của Chính
phủ trong mối quan hệ với Quốc hội và nhu cầu
xây dựng một nền hành chính hiệu quả và phát
triển... Những mâu thuẫn này là không thể tránh
khỏi trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế
từ tập trung kế hoạch hoá bao cấp sang kinh tế
thị trường. Bởi lẽ mô hình kinh tế cũ chưa thật
sự bị loại bỏ, mô hình kinh tế mới đang từng
bước được khẳng định trong cuộc đấu tranh gay go
và phức tạp. Vì vậy có thể nói Hiến pháp năm
1992, tuy không tiếp tục quy định mô hình tổ
chức bộ máy nhà nước đã tồn tại trong thời kỳ
kinh tế tập trung, bao cấp theo mô hình tổ chức
bộ máy của một số nước xã hội chủ nghĩa trước
đây, nhưng chưa thể đưa ra một mô hình tổ chức
bộ máy nhà nước mới - bộ máy nhà nước của kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phù
hợp với những đặc trưng của nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, trong thời kỳ hội nhập kinh tế
quốc tế và trong xu thế toàn cầu hóa.
Trong số những vấn đề còn vướng mắc về lý luận
khi tiến hành nghiên cứu đổi mới các thiết chế
trong bộ máy nhà nước thì một trong những vướng
mắc lớn là nguyên tắc quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện
các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp chưa được
thể chế hoá trên phương diện luật pháp. Để làm
được điều này, cần khắc phục cách tiếp cận lâu
nay cho rằng tính thống nhất của quyền lực nhà
nước là xuất phát từ nguyên tắc tập quyền. Cách
đặt vấn đề theo tư duy mới là: nhân dân là chủ
thể của quyền lực nhà nước; tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân và quyền lực nhà nước
thống nhất ở chính nhân dân. Nguyên tắc "Tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân" đã được
nhận thức sâu sắc hơn trong quá trình đổi mới.
Khi nói nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà
nước, mọi quyền hành đều ở dân, thì việc nhân
dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua Quốc
hội và Hội đồng nhân dân theo Hiến pháp năm 1992
là chưa đầy đủ, bởi vì nhân dân còn sử dụng
quyền lực nhà nước của mình thông qua hệ thống
các cơ quan hành pháp và các cơ quan tư pháp.
Cũng cần nói thêm rằng bất luận trong một mô
hình tổ chức nhà nước nào, quyền lực nhà nước,
tự bản thân nó luôn bao hàm sự thống nhất. Nếu
thiếu tính thống nhất thì quyền lực mất hiệu
lực. Sở dĩ quyền lực nhà nước có được hiệu lực
vì nó luôn là một hệ thống thống nhất. Chính sự
phân công, phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp là sự phân công giữa ba bộ phận
của một hệ thống tồn tại dưới dạng một chỉnh thể
của các quan hệ quyền lực. Do vậy, khi xác định
tính thống nhất của quyền lực nhà nước và sự
phân công, phối hợp giữa ba quyền cho thấy, cần
phải đặt ba quyền này trong một thể thống nhất
của hệ thống với việc xác định rõ địa vị pháp lý
của từng nhánh quyền lực mà Quốc hội là một
trong ba nhánh quyền lực đó. Sự phân công, phối
hợp giữa ba quyền và tương ứng với chúng là ba
thiết chế quyền lực nhà nước, là sự phân công có
điều kiện và bảo đảm khả năng loại bỏ sự lạm
dụng quyền lực từ bất kỳ một thiết chế quyền lực
nào. Theo đó, mỗi một thiết chế quyền lực chỉ
thực thi một loại quyền lực, và không thể có một
thiết chế quyền lực nào lại thâu tóm toàn bộ
quyền lực nhà nước vào tay mình. Tinh thần này
chính là nội dung pháp lý của sự phân công, phối
hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
trong sự thống nhất quyền lực ở nhân dân và đó
là một trong những yếu tố trực tiếp chi phối
việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội.
Khi nghiên cứu lý luận về đổi mới tổ chức và
hoạt động của Quốc hội trong nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, phải tiếp tục xác định rõ vị
trí, vai trò của Quốc hội. Nếu so sánh Quốc hội
với các bộ phận hợp thành hệ thống chính trị
(Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội) và các bộ
phận cấu thành của bộ máy nhà nước (Chính phủ,
Viện kiểm sát, Toà án…) thì Quốc hội có vị trí
đặc biệt, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
dân, đồng thời là cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất. Quốc hội có những chức năng riêng, vốn có
của mình, đó là lập hiến và lập pháp; giám sát
tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước;
quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.
Đối với nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống
nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan
nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp, như đã phân tích ở
phần trên, cần phải nhìn nhận lại ý kiến cho
rằng toàn bộ quyền lực nhà nước tập trung vào
Quốc hội. Các Hiến pháp của nước ta từ 1946 đến
nay đã chỉ rõ là ở nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân. Như vậy, nhân dân là chủ thể duy
nhất và tối cao của quyền lực nhà nước và nếu ở
một giai đoạn lịch sử nhất định đã tồn tại
nguyên tắc tập quyền, thì đó là sự biểu đạt của
tư tưởng: toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân, chứ không thể toàn bộ quyền lực nhà
nước thuộc về Quốc hội như đã từng được quan
niệm. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất, nhưng không phải là cơ quan toàn quyền.
Quốc hội nhận quyền lực nhà nước từ nhân dân và
như vậy, không thể uỷ quyền tiếp cho các cơ quan
nhà nước khác. Do đó, không thể tồn tại một Quốc
hội nắm toàn bộ quyền lực nhà nước. Nhìn nhận
nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi với
những yếu tố khách quan, cần có cách nhìn thực
tế hơn về chức năng của Quốc hội, để từ đó đưa
ra các quy định phù hợp hơn về tổ chức và hoạt
động của Quốc hội.
Việc đổi mới Quốc hội cần theo các phương hướng
sau:
- Cần nhận thức rõ vị trí, vai trò của Quốc hội
với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất, nhưng không phải là cơ quan toàn quyền.
Quốc hội được nhân dân trao quyền lực nhà nước
và vì vậy Quốc hội không thể uỷ quyền tiếp cho
các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước. Vì vậy,
mục tiêu hướng tới là cần xây dựng một Quốc hội
"thực quyền" chứ không phải "toàn quyền".
- Hoạt động của Quốc hội cần tiếp tục theo hướng
dân chủ hóa trong các kỳ họp, các hình thức lấy
ý kiến nhân dân đối với các dự án luật, các hình
thức tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội.
- Thực hiện phương hướng đó, hoạt động của Quốc
hội cần tập trung vào tăng cường năng lực xây
dựng pháp luật, như Nghị quyết số 48/NQ/TW ngày
24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã chỉ rõ:
"Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và
hoạt động của Quốc hội, đẩy nhanh tiến độ và
nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp…" và
"...Thể chế hóa nguyên tắc dân chủ trong hoạt
động của cơ quan dân cử, bảo đảm để nhân dân
tích cực tham gia vào các hoạt động xây dựng
pháp luật, giám sát bằng nhiều hình thức việc
thi hành pháp luật của cơ quan, công chức nhà
nước…".
Về tổ chức cần cải tổ cơ cấu tổ chức của Quốc
hội, xác định lại mối quan hệ giữa Quốc hội, Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội với các Hội đồng, các Uỷ
ban của Quốc hội. Việc quy định chức năng, quyền
hạn của Quốc hội không những phải gắn liền với
việc xác định cơ cấu tổ chức mà còn gắn liền với
các phương thức thực hiện các quyền ấy. Phương
thức hoạt động của Quốc hội phải dựa trên hai
yếu tố cơ bản là các đại biểu Quốc hội và các Uỷ
ban của Quốc hội. Ngoài ra, các nghị quyết của
Quốc hội về những vấn đề quan trọng của đất nước
cần được luật hóa dưới hình thức một đạo luật;
thay Nghị quyết về ngân sách nhà nước bằng Luật
về ngân sách hàng năm. Hiện nay, theo chúng tôi,
đã có các điều kiện cần thiết để chuyển dần
phương thức hoạt động của Quốc hội từ một Quốc
hội tham luận sang một Quốc hội tranh luận, từ
một Quốc hội hoạt động theo Đoàn đại biểu sang
một Quốc hội với hoạt động của từng đại biểu
Quốc hội, một Quốc hội hướng tới hoạt động
thường xuyên với một bộ phận quan trọng các đại
biểu chuyên nghiệp. Xuất phát từ bản chất của
Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất và cơ quan đại diện cao nhất của
nhân dân nên trong cơ cấu bộ máy nhà nước, Quốc
hội phải có vị trí khác với cơ quan hành pháp và
cơ quan tư pháp. Quyền lực của Quốc hội phải là
quyền lực có tính chi phối đối với các lĩnh vực
quyền lực nhà nước khác. Tức là xét trên phương
diện thẩm quyền, Quốc hội cần nắm giữ những
quyền hạn mà việc thực thi chúng có ý nghĩa
quyết định đối với toàn bộ hoạt động nhà nước.
Về quyền lập pháp: Quốc hội là một cơ quan thực
hiện quyền lập pháp. Do vậy quyền làm luật là
thẩm quyền cơ bản nhất của Quốc hội. Để thực
hiện quyền này, đảm bảo vai trò quyết định của
Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động lập pháp.
Quốc hội cần đổi mới công tác Kế hoạch hóa xây
dựng pháp luật theo hướng Quốc hội sẽ chỉ thông
qua các sáng kiến pháp luật. Những cơ quan, cá
nhân có quyền nêu sáng kiến pháp luật có trách
nhiệm lập luận về sự cần thiết ban hành các đạo
luật, sau đó, Quốc hội sẽ thông qua Chương trình
xây dựng pháp luật và giao trách nhiệm cho các
cơ quan, tổ chức soạn thảo. Bên cạnh đó, cần có
công đoạn xây dựng chính sách trước khi bắt tay
vào soạn thảo một dự án luật.
Về quy mô các đạo luật, cần đi theo hướng xây
dựng các đạo luật có phạm vi và quy mô điều
chỉnh hẹp, ít điều khoản để thuận tiện khi áp
dụng đồng thời giảm dần việc ban hành các văn
bản dưới luật. Cần thực hiện biện pháp dùng một
đạo luật mới để sửa đổi, bổ sung nhiều đạo luật
cùng lúc. Trong chức năng quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước, cần chú trọng đến chức
năng quyết định chính sách tài chính, tiền tệ
quốc gia, quyết định dự toán ngân sách nhà nước
và phân bổ ngân sách nhà nước, phê duyệt quyết
toán ngân sách nhà nước...
Về vấn đề kiểm soát của Quốc hội đối với các
quan hệ quyền lực và việc thực hiện quyền lực
nhà nước trên thực tế, cần nhấn mạnh rằng Quốc
hội trong quan hệ phân công quyền lực là cơ quan
thực hiện quyền lập pháp, nhưng về vị trí lại là
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ
quan đại diện cao nhất của nhân dân. Do vậy,
Quốc hội có quyền kiểm soát toàn bộ quá trình
thực thi quyền lực nhà nước, kể cả quyền hành
pháp và quyền tư pháp.
Trong số các cơ quan của Quốc hội, các Uỷ ban
của Quốc hội là những cơ quan đặc trách từng
lĩnh vực hoạt động của Quốc hội và là các Uỷ ban
hoạt động thường xuyên. Trong bối cảnh hiện nay
ở nước ta, số lượng các Uỷ ban phải được tăng
lên nhiều lần và tương ứng với số lượng các Uỷ
ban ấy là số đại biểu chuyên trách phải gia tăng
kể cả số lượng và chất lượng. Thực hiện chế độ
luân phiên chuyên trách đối với đại biểu Quốc
hội trong một nhiệm kỳ.
Ngoài các Uỷ ban, Quốc hội cần thành lập các
tiểu ban, các tổ công tác để giúp Quốc hội giải
quyết các nhiệm vụ cụ thể nảy sinh trong hoạt
động Quốc hội liên quan đến trách nhiệm, thẩm
quyền của Quốc hội.
Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội cũng là
vấn đề rất đáng quan tâm. Cần hoàn thiện cơ chế
giới thiệu, lựa chọn và bầu cử đại biểu Quốc hội
theo hướng khắc phục tính chất vùng, miền mà ít
chú ý đến giới, ngành, lĩnh vực. Tổ chức kê khai
tài sản của các ứng cử viên đại biểu Quốc hội,
từng bước đòi hỏi ứng cử viên đại biểu Quốc hội
phải trình bày chương trình hành động và đối
thoại với cử tri.
Việc tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật cần thiết cho
hoạt động của Quốc hội cũng rất quan trọng. Cần
tăng cường khả năng cung cấp thông tin cho các
đại biểu Quốc hội, tiến tới có các luật gia làm
tư vấn cho các đại biểu Quốc hội về pháp luật.
Tóm lại cần tiếp tục đổi mới tổ chức và phương
thức hoạt động của Quốc hội theo hướng để Quốc
hội thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đắn tất cả
các quyền hạn, nhiệm vụ do Hiến pháp và luật quy
định. Trong mối quan hệ giữa Quốc hội và Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, cần phải coi Uỷ ban thường
vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội
chứ không phải là một cấp của Quốc hội. Đó là cơ
sở để tiến tới sẽ không giao cho Uỷ ban thường
vụ Quốc hội ra Pháp lệnh nữa. Trước hết cần nâng
cao chất lượng, hiệu quả trong việc thực hiện
các chức năng của Quốc hội: lập pháp, quyết định
các vấn đề quan trọng của đất nước; giám sát
việc thi hành pháp luật theo hướng tập trung vào
giám sát ngân sách và nhân sự. Đồng thời xác
định rõ phạm vi, nội dung, cơ chế giám sát của
Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội theo hướng
tập trung giám sát cơ quan hành pháp cao nhất,
phân biệt rạch ròi hoạt động giám sát với các
hoạt động khác. Cần sớm thiết lập một cơ chế bảo
vệ Hiến pháp (Uỷ ban bảo hiến hoặc Tòa án Hiến
pháp) để xét xử các văn bản, các hành vi trái
với Hiến pháp, bảo đảm tính tối thượng của Hiến
pháp trong Nhà nước pháp quyền. Thứ hai, phát
huy vai trò, trách nhiệm và nâng cao năng lực
của đại biểu Quốc hội. Cần tăng dần số đại biểu
Quốc hội chuyên trách tới 50% hoặc cao hơn để
thực hiện tốt các nhiệm vụ của Quốc hội. Thứ ba,
kiện toàn các cơ quan của Quốc hội, bảo đảm cho
Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội thực
sự là những cơ quan hoạt động thường xuyên; Thứ
tư, xác định rõ và cụ thể hơn phương thức lãnh
đạo của Đảng đối với Quốc hội; tăng cường đội
ngũ cán bộ có trình độ cao cho các cơ quan của
Quốc hội, tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật
hiện đại, tiên tiến phục vụ cho hoạt động của
Quốc hội./.
|