|
SÁU MƯƠI NĂM - MỘT CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ PHÁT
TRIỂN
CỦA NỮ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VIỆT NAM
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)

Nguyễn Thị Hoài Thu
Uỷ viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội,
Chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn đề xã hội
Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của
dân tộc Việt Nam, từ tổ tiên đến con cháu hôm
nay đã ghi nhận phụ nữ Việt Nam cùng nhân dân cả
nước góp phần làm nên sự nghiệp quang vinh của
nước nhà, xây dựng nên truyền thống vẻ vang của
dân tộc. Trên mọi lĩnh vực, trong mọi hoàn cảnh
phụ nữ đã luôn khẳng định được vai trò to lớn
của mình. Họ đã góp phần tô thắm truyền thống vẻ
vang của dân tộc từ thời kỳ dựng nước cho đến
ngày nay.
Với gần 51% dân số, chiếm tỷ lệ hơn 50,6%
lực lựợng lao động, dù ở vị trí nào, phụ nữ
cũng đều thể hiện rất rõ tài, đức, bản lĩnh, trí
tuệ của mình, kể cả ở các cương vị quan trọng
của Đảng và Nhà nước.
Đặc biệt tại cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất
là Quốc hội, trong những hoạt động lập pháp,
giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng
của đất nước qua các thời kỳ, ở đâu cũng có sự
đóng góp tích cực của những phụ nữ ưu tú đại
biểu của nhân dân. Mặc dù mỗi nhiệm kỳ Quốc hội
đều mang nột đặc thù riờng và gắn với những thử
thách và trách nhiệm nặng nề hơn, song mỗi giai
đoạn phát triển của Quốc hội Việt Nam đã ghi
nhận những bước trưởng thành của nữ ĐBQH.
Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngay sau sự kiện lịch sử
vĩ đại ấy, Chủ tịch Lâm thời nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà đã ra Sắc lệnh số 14/SL tổ chức
Tổng tuyển cử bầu Quốc hội. Ngày mùng 6 tháng
giêng năm 1946, cử tri cả nước đã bầu ra Quốc
hội đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
đánh dấu một mốc son trong lịch sử dân tộc,
khẳng định thể chế dân chủ của một Quốc gia độc
lập “của dân, do dân, vì dân” đầu tiên ở
Đông Nam á. Quốc hội khoá I hoạt động suốt
trong thời kỳ kháng chiến từ năm 1946 kéo dài
đến 1960. Trong số 333 đại biểu, đã có 10 đại
biểu nữ. Mặc dù, số lượng đại biểu nữ chưa nhiều
dù chỉ chiếm 3%, song tất cả các chị (nay gọi là
các bà) đều là những đảng viên ưu tú, là những
người lãnh đạo chủ chốt những nữ cán bộ xuất sắc
ở các địa phương từ Bắc tới Nam như : Bà Bùi Thị
Diệm (tức Lê Chân Phương), Bà Lê Thị Xuyến, Bà
Nguyễn Thị Thập, Bà Nguyễn Thị Thục Viên, Bà
Trương Thị Mỹ v.v...
Buổi đầu của cách mạng non trẻ, Quốc hội làm
việc trong điều kiện “thù trong giặc ngoài” bị
các lực lượng phản động luôn rình rập chống phá
cách mạng, Quốc hội vẫn triển khai các hoạt động
với chức năng của cơ quan lập pháp, giám sát và
quyết định của mình. Nhiều Bộ luật lớn được Quốc
Hội thông qua vào thời kỳ này: Hiến pháp đầu
tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Dự án Luật
Lao động đầu tiên được Quốc hội thông qua
(tháng 11/1946); Luật Cải cách ruộng đất
(tháng 12 năm 1953), Luật Công đoàn, Luật Hôn
nhân gia đình... Trong số các Uỷ viên đầu
tiên của Uỷ ban Thường trực Quốc hội đã có các
bà: Lê Thị Xuyến, Nguyễn Thị Thục Viên. Đại
biểu Nguyễn Thị Thục Viên là người đã có mặt
trong những phái đoàn ngoại giao đầu tiên ấy
tham gia hoạt động hợp tác quốc tế (1951), bà
còn là thành viên nữ duy nhất trong Ban soạn
thảo Hiến pháp 1946.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, thực dân Pháp
phải rút khỏi Việt Nam, đất nước hoà bình trở
lại. Trước những biến đổi chung của tình hình
đất nước, theo đề nghị của Uỷ ban Thường trực
Quốc hội, ngày 23-1-1957, Ban nghiên cứu và sửa
đổi Hiếp pháp đã được bầu ra gồm 29 người do Hồ
Chủ tịch làm Trưỏng Ban, trong đó có 2 đại biểu
nữ là bà Trương Thị Mỹ và bà Nguyễn Thị Thập
cũng đã đóng góp tiếng nói của nữ giới vào việc
sửa đổi Hiến pháp và xây dựng một số văn bản
pháp luật trong nhiệm kỳ này. Một trong những
thành công đáng ghi nhận là ngày 1-1-1960, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 01/SL công bố
Hiến pháp mới (Quốc hội khoá I đã sửa đổi) có
hiệu lực, phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đất
nước đặt ra cho giai đoạn này.
Kế tục sự nghiệp của Quốc hội khóa I, Quốc hội
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ khóa II đến
khóa V đã trải qua 16 năm hoạt động (7-1960 đến
6-1976). Đây là những năm tháng hoạt động đầy
thử thách, quyết liệt trong bối cảnh nhân dân ta
phải tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng khác
nhau: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng Dân
tộc Dân chủ nhân dân ở miền Nam. Đặc biệt là từ
năm 1965 trở đi cả nước phải tiến hành cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một cuộc chiến
tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc lâu
dài nhất, quyết liệt nhất, oanh liệt nhất và
cũng ác liệt nhất đã giành được thắng lợi to lớn
mang tầm vóc lịch sử vĩ đại. Trong số những Đại
biểu nữ ưu tú của thời kỳ này, không thể không
nói về người con gái quê ở Mỹ Tho (nay là tỉnh
Tiền Giang) Đó là bà Nguyễn Thị Thập, người phụ
nữ đã từng xông pha trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ
13/9/1940, đxa từng giữ các cương vị quan trọng
nhu Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam suốt
30 năm (1950 – 1980); đại biểu Quốc hội từ khoá
I đến khoá VI, Phó Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội các khoá V, VI, Uỷ viên Đoàn chủ tịch
UBTƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 1955 đến
1980. Trong suốt quá trình công tác, bà đã góp
phần xây dựng nên đội ngũ cán bộ nữ đầu tiên để
bổ sung vào các vị trí lãnh đạo của Đảng và Nhà
nước. Bà cũng đã hiến dâng cho Tổ quốc chồng và
hai người con trai yêu quí. Ghi nhận những công
lao to lớn của bà, Đảng và Nhà nước đã tặng
thưởng cho bà Huân chương Sao vàng và danh hiệu
vinh dự Nhà nưỡc Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Chúng
ta còn tự hào về các bà Lê Thị Xuyến được bầu là
uỷ viên ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà Nguyễn
Khoa Diệu Hồng và bà Nguyễn Thị Minh Nhã được
bầu là uỷ viên dự khuyết của uỷ ban Thường vụ
Quốc hội. Một số Đại biểu nữ là Bà Hà Thị Quế và
Bà Lê Chân Phương đều tham gia vào Uỷ ban Dự án
Hiến pháp. Nhiều đại biểu nữ khác cũng là các Uỷ
viên của các Uỷ ban của Quốc hội như : Bà Lê Thị
Cầm là uỷ viên của Uỷ ban Dân tộc, Bà Nguyễn Thị
Minh Nhã và Bà Ngô Thị Huệ là Uỷ viên Uỷ ban
thống nhất.
Giữa lúc đó, ở miền Nam, ngày 6-6-1969, Đại hội
Đại biểu quốc dân miền Nam đã tổ chức họp lại
trên cơ sở hợp nhất các đại biểu Mặt trận dân
tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các
lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam
cùng đại biểu các lực lượng yêu nước khác ở miền
Nam. Đại hội đã bầu Chính phủ Cách mạng Lâm thời
Cộng hoà miền Nam. Trong đó hai nữ chính trị gia
là Bà Nguyễn Thị Bình và Bà Bùi Thị Mè đã được
cử vào Chính phủ Lâm thời, Bà Nguyễn Thị Bình
giữ chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ
cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.
Vào những năm đầu của thập kỷ 70, sự lớn mạnh
của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà cùng với
những thắng lợi vang dội trong sự nghịêp chống
Mỹ đã tạo điều kiện cho quan hệ đối ngoại của
nước ta ngày càng mở rộng. Trong vòng 5 năm từ
1970 – 1975, đã có tới trên 40 quốc gia đặt quan
hệ ngoại giao với nước ta. Với thời cơ thuận lợi
đó, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền
Nam Việt Nam vừa phối hợp trên mặt trận quân sự,
vừa đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao. Đặc biệt là
sự đóng góp to lớn về ngoại giao tài tình của bà
Nguyễn Thị Bình, đã thực hiện nhiều cuộc tiếp
xúc và đàm phán ngoại giao, đặc biệt là cuộc đàm
phán lịch sử tại Hội nghị Pa-ri, góp phần tạo
nên thắng lợi hoàn toàn trong cuộc chiến tranh
chống Mỹ. Bên cạnh đó là Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa,
Phó Tổng thư ký Uỷ ban Trung ương Liên minh các
lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam
cũng góp phần không nhỏ vào thành công trong
quan hệ ngoại giao tạo nên sức mạnh tổng hợp
giành thắng lợi hoàn toàn vào mùa xuân năm 1975.
Trên mặt trận quân sự, chúng ta có một vị tướng
tài ba: Phó Tổng tư lệnh Quân giải phóng miền
Nam Nguyễn Thị Định, người đã đóng vai trò quan
trọng trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam
thống nhất đất nước. Sinh ra trong một gia đình
nông dân giàu truyền thống yêu nước ở Bến Tre,
từ những năm 1936 bà Định đã tham gia hoạt động
và lãnh đạo cách mạng miền Nam, năm 1974 bà được
phong quân hàm Thiếu tướng. Sau năm 1976, từ một
nữ tướng chỉ huy kiên cường và mưu lược, Bà đã
trở thành nhà lãnh đạo lớn của nhân dân. Năm
1980, Bà được bầu giữ chức vụ Chủ tịch Hội liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam và giữ cương vị Phó Chủ
tịch Hội đồng Nhà Nước từ năm 1987 – 1992, và là
nữ Đại biểu Quốc hội các khoá: VI, VII, VIII.
Với công lao đóng góp và tấm gương mẫu mực của
mình, Bà được Đảng và Nhà nước cũng như nhiều
nguyên thủ quốc gia trao, tặng nhiều huân
chương, danh hiệu cao quý, như: Huân chương Hồ
Chí Minh, Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân.
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa V có tỷ lệ nữ ĐBQH cao
nhất của Việt Nam, với 137 đại biểu (chiếm
32,3%). Tại nhiệm kỳ này, Bà Nguyễn Thị Thập lại
tiếp tục được bầu là Phó Chủ tịch uỷ ban Thường
vụ Quốc hội. Bà Lê Thị Xuyến được bầu là Uỷ viên
ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chủ nhiệm Uỷ ban
Thống nhất của Quốc hội là Bà Nguyễn Thị Lựu và
Uỷ viên Uỷ ban đối ngoại là luật sư Bùi Thị Cẩm.
Kế thừa thành quả và kinh nghiệm lịch sử của ba
thập kỷ hoạt động đã qua (1946-1976), Quốc hội
khoá VI bầu ngày 25-4-1976, là Quốc hội của sự
thống nhất đất nước và Quốc hội các khóa tiếp
theo đã nắm vững và giương cao ngọn cờ về Nhà
nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Vai
trò của càng nữ ĐBQH càng được nâng cao, nhất là
từ khi Đảng ta đề ra đường lối đổi mới.
Hiến pháp Việt Nam đã quy định sự bình đẳng của
nam và nữ trong tất cả lĩnh vực, trong đó có
lĩnh vực chính trị. Hàng loạt các chủ trương,
chính sách của Đảng được ban hành nhằm thực hiện
giải phóng phụ nữ và mở rộng cơ hội cho phụ nữ
phát triển: Chỉ thị 44/CT-TW ngày 7/6/1984 của
Ban Bí thư; Nghị quyết 04/NQ-TW của Bộ Chính trị
về "Tăng cường và đổi mới công tác vận động phụ
nữ trong tình hình mới"; Chỉ thị 37/CT-TW ngày
16/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương về "Một số
vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới";
tiếp theo là Nghị Quyết Đại hội IX của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Nội dung của các văn kiện trên đều
nhất quán một quan điểm: Thực hiện tốt chính
sách, pháp luật về bình đẳng giới, bồi dưỡng đào
tạo nghề nghiệp, nâng cao trình độ học vấn, có
cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng
nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các
cấp, các ngành… Thủ tướng Chính phủ cũng ra
Quyết định số 19/2002/ QĐ-TTg ngày 21- 01- 2002
phê duyệt Chiến lược quốc gia Vì sự tiến bộ phụ
nữ Việt Nam đến năm 2010 về năng cao chất lượng
và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên mọi lĩnh
vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và phải
đạt tỷ lệ lãnh đạo nữ là 50% trong các cơ quan
Nhà nước và tổ chức các cấp.
Tuy ở một số nhiệm kỳ (khoá VII và khoá VIII) tỷ
lệ ĐBQH nữ có giảm đôi chút. Song, các nhiệm kỳ
tiếp đều số lượng nữ trong quốc hội lại tăng
dần: nhiệm kỳ X (1997-2002) tỷ lệ nữ chiếm
26,2%, tăng 8% so với Quốc hội khóa trước đưa
nước ta đứng thứ 9/135 nước trong liên minh Quốc
hội và đứng thứ 2 trong khu vực Châu á - Thái
Bình Dương; nhiệm kỳ XI (2002-2007) tỷ lệ nữ
tăng 1,1% so với nhiệm kỳ X, đây là tỷ lệ cao
nhất trong khu vực châu á và đứng thứ hai trong
khu vực châu á - Thái Bình Dương sau Niu-Di-lân.
Việt Nam là một trong 16 quốc gia có nữ làm Phó
Chủ tịch nước (các nước khác là Tổng thống, Phó
Tổng thống) trên tổng số 195 quốc gia trên thế
giới
Việc tăng cường tỷ lệ nữ tham gia vào các cương
vị lãnh đạo trong các cơ quan dân cử, đặc biệt
là Quốc hội để thực hiện quyền lập pháp, giám
sát và ra quyết định là một đòi hỏi khách quan
của sự phát triển xã hội. Vai trò của phụ nữ
quan trọng không phải là do ý muốn chủ quan của
chúng ta mà là do những đòi hỏi tất yếu khách
quan của thời đại, do thực tế phát triển của
kinh tế – xã hội của lực lượng lao động nữ hình
thành. Và khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới,
việc nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của phụ
nữ trong cơ chế thị trường là một trong những
chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta. Việc
nâng cao năng lực của phụ nữ trong cơ quan quyền
lực Nhà nước luôn gắn liền với sự phát triển và
được xem xét dưới góc độ của giới cùng với việc
tạo điều kiện cho phụ nữ vươn lên đáp ứng yêu
cầu CNH – HĐH đất nước ngày càng cao hơn trong
lãnh đạo và quản lý.
Bước vào thế kỷ mới, nhân
loại đang và sẽ phải đối đầu với hàng loạt những
thách thức mới: Theo dự báo của các nhà khoa học
thì đến năm 2010, dân số thế giới sẽ gần 10 tỷ,
năm 2040 sẽ là 13,4 tỷ, một viễn cảnh mà cả thế
giới quan tâm. Do vậy, tăng cường vai trò của nữ
đại biểu trong thời kỳ mới là xu thế phát triển
tất yếu khách quan nhằm phát huy nội lực, tiềm
năng, sáng tạo và tận tuỵ trong công việc, đồng
thời không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt của
đại biểu nữ nhằm đáp ứng mọi yêu cầu đặt ra
trong công cuộc CNH – HĐH đất nước.
|