Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

SÁU MƯƠI NĂM - MỘT CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN

CỦA NỮ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VIỆT NAM

(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển"

Hà Nội, 23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)

 

Nguyễn Thị Hoài Thu

Uỷ viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội,

Chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn đề xã hội

 

Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, từ tổ tiên đến con cháu hôm nay đã ghi nhận phụ nữ Việt Nam cùng nhân dân cả nước góp phần làm nên sự nghiệp quang vinh của nước nhà, xây dựng nên truyền thống vẻ vang của dân tộc. Trên mọi lĩnh vực, trong mọi hoàn cảnh phụ nữ đã luôn khẳng định được vai trò to lớn của mình. Họ đã góp phần tô thắm truyền thống vẻ vang của dân tộc từ thời kỳ dựng nước cho đến ngày nay.

Với gần 51% dân số, chiếm tỷ lệ hơn 50,6% lực lựợng lao động, dù ở vị trí nào, phụ nữ  cũng đều thể hiện rất rõ tài, đức, bản lĩnh, trí tuệ của mình, kể cả ở các cương vị quan trọng của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt tại cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất là Quốc hội, trong những hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước qua các thời kỳ, ở đâu cũng có sự đóng góp tích cực của những phụ nữ ưu tú đại biểu của nhân dân. Mặc dù mỗi nhiệm kỳ Quốc hội đều mang nột đặc thù riờng và gắn với những thử thách và trách nhiệm nặng nề hơn, song mỗi giai đoạn phát triển của Quốc hội Việt Nam đã ghi nhận những bước trưởng thành của nữ ĐBQH.

Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngay sau sự kiện lịch sử vĩ đại ấy, Chủ tịch Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra Sắc lệnh số 14/SL tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội. Ngày mùng 6 tháng giêng năm 1946, cử tri cả nước đã bầu ra Quốc hội đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu một mốc son trong lịch sử dân tộc, khẳng định thể chế dân chủ của một Quốc gia độc lập “của dân, do dân, vì dân” đầu tiên ở Đông Nam á.  Quốc hội khoá I hoạt động suốt trong thời kỳ kháng chiến từ năm 1946 kéo dài đến 1960. Trong số 333 đại biểu, đã có 10 đại biểu nữ. Mặc dù, số lượng đại biểu nữ chưa nhiều dù chỉ chiếm 3%, song tất cả các chị (nay gọi là các bà) đều là những đảng viên ưu tú, là những người lãnh đạo chủ chốt những nữ cán bộ xuất sắc ở các địa phương từ Bắc tới Nam như : Bà Bùi Thị Diệm (tức Lê Chân Phương), Bà Lê Thị Xuyến, Bà Nguyễn Thị Thập, Bà Nguyễn Thị Thục Viên, Bà Trương Thị Mỹ v.v...      

Buổi đầu của cách mạng non trẻ, Quốc hội làm việc trong điều kiện “thù trong giặc ngoài” bị các lực lượng phản động luôn rình rập chống phá cách mạng, Quốc hội vẫn triển khai các hoạt động với chức năng của cơ quan lập pháp, giám sát và  quyết định của mình. Nhiều Bộ luật lớn được Quốc Hội thông qua vào thời kỳ này: Hiến pháp đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Dự án Luật Lao động đầu tiên được Quốc hội thông qua (tháng 11/1946); Luật Cải cách ruộng đất (tháng 12 năm 1953), Luật Công đoàn, Luật Hôn nhân gia đình... Trong số các Uỷ viên đầu tiên của Uỷ ban Thường trực Quốc hội đã có các bà:  Lê Thị Xuyến, Nguyễn Thị Thục Viên. Đại biểu Nguyễn Thị Thục Viên là người đã có mặt trong những phái đoàn ngoại giao đầu tiên ấy tham gia hoạt động hợp tác quốc tế (1951), bà còn là thành viên nữ duy nhất trong Ban soạn thảo Hiến pháp 1946.  

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, thực dân Pháp phải rút khỏi Việt Nam, đất nước hoà bình trở lại. Trước những biến đổi chung của tình hình đất nước, theo đề nghị của Uỷ ban Thường trực Quốc hội, ngày 23-1-1957, Ban nghiên cứu và sửa đổi Hiếp pháp đã được bầu ra gồm 29 người do Hồ Chủ tịch làm Trưỏng Ban, trong đó có 2 đại biểu nữ là bà Trương Thị Mỹ và bà Nguyễn Thị Thập cũng đã đóng góp tiếng nói của nữ giới vào việc sửa đổi Hiến pháp và xây dựng một số văn bản pháp luật trong nhiệm kỳ này. Một trong những thành công đáng ghi nhận là ngày 1-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 01/SL công bố Hiến pháp mới (Quốc hội khoá I đã sửa đổi) có hiệu lực, phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đất nước đặt ra cho giai đoạn này.

Kế tục sự nghiệp của Quốc hội khóa I, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ khóa II đến khóa V đã trải qua 16 năm hoạt động (7-1960 đến 6-1976). Đây là những năm tháng hoạt động đầy thử thách, quyết liệt trong bối cảnh nhân dân ta phải tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng khác nhau: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng Dân tộc Dân chủ nhân dân ở miền Nam. Đặc biệt là từ năm 1965 trở đi cả nước phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc lâu dài nhất, quyết liệt nhất, oanh liệt nhất và cũng ác liệt nhất đã giành được thắng lợi to lớn mang tầm vóc  lịch sử vĩ đại. Trong số những Đại biểu nữ ưu tú của thời kỳ này, không thể không nói về người con gái quê ở Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang) Đó là bà Nguyễn Thị Thập, người phụ nữ đã từng xông pha trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ 13/9/1940, đxa từng giữ các cương vị quan trọng nhu Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam suốt 30 năm (1950 – 1980); đại biểu Quốc hội từ khoá  I đến khoá VI, Phó Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội các khoá V, VI, Uỷ viên Đoàn chủ tịch UBTƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 1955 đến 1980. Trong suốt quá trình công tác, bà đã góp phần xây dựng nên đội ngũ cán bộ nữ đầu tiên để bổ sung vào các vị trí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Bà cũng đã hiến dâng cho Tổ quốc chồng và hai người con trai yêu quí. Ghi nhận những công lao to lớn của bà, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng cho bà Huân chương Sao vàng và danh hiệu vinh dự Nhà nưỡc Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Chúng ta còn tự hào về các bà Lê Thị Xuyến được bầu là uỷ viên ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà Nguyễn Khoa Diệu Hồng và bà Nguyễn Thị Minh Nhã được bầu là uỷ viên dự khuyết của uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Một số Đại biểu nữ là Bà Hà Thị Quế và Bà Lê Chân Phương đều tham gia vào Uỷ ban Dự án Hiến pháp. Nhiều đại biểu nữ khác cũng là các Uỷ viên của các Uỷ ban của Quốc hội như : Bà Lê Thị Cầm là uỷ viên của Uỷ ban Dân tộc, Bà Nguyễn Thị Minh Nhã và Bà Ngô Thị Huệ là Uỷ viên Uỷ ban thống nhất.

Giữa lúc đó, ở miền Nam, ngày 6-6-1969, Đại hội Đại biểu quốc dân miền Nam đã tổ chức họp lại trên cơ sở hợp nhất các đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam cùng đại biểu các lực lượng yêu nước khác ở miền Nam. Đại hội đã bầu Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam. Trong đó hai nữ chính trị gia là Bà Nguyễn Thị Bình và Bà Bùi Thị Mè đã được cử vào Chính phủ Lâm thời, Bà Nguyễn Thị Bình giữ chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

Vào những năm đầu của thập kỷ 70, sự lớn mạnh của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà cùng với những thắng lợi vang dội trong sự nghịêp chống Mỹ đã tạo điều kiện cho quan hệ đối ngoại của nước ta ngày càng mở rộng. Trong vòng 5 năm từ 1970 – 1975, đã có tới trên 40 quốc gia đặt quan hệ ngoại giao với nước ta. Với thời cơ thuận lợi đó, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vừa phối hợp trên mặt trận quân sự, vừa đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao. Đặc biệt là sự đóng góp to lớn về ngoại giao tài tình của bà Nguyễn Thị Bình, đã thực hiện nhiều cuộc tiếp xúc và đàm phán ngoại giao, đặc biệt là cuộc đàm phán lịch sử tại Hội nghị Pa-ri, góp phần tạo nên thắng lợi hoàn toàn trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Bên cạnh đó là Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, Phó Tổng thư ký Uỷ ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam cũng góp phần không nhỏ vào thành công trong quan hệ ngoại giao tạo nên sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi hoàn toàn vào mùa xuân năm 1975.

Trên mặt trận quân sự, chúng ta có một vị tướng tài ba: Phó Tổng tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Nguyễn Thị Định, người đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Sinh ra trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước ở Bến Tre, từ những năm 1936 bà Định đã tham gia hoạt động và lãnh đạo cách mạng miền Nam, năm 1974 bà được phong quân hàm Thiếu tướng. Sau năm 1976, từ một nữ tướng chỉ huy kiên cường và mưu lược, Bà đã trở thành nhà lãnh đạo lớn của nhân dân. Năm 1980, Bà được bầu giữ  chức vụ Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và giữ cương vị Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà Nước từ năm 1987 – 1992, và là nữ Đại biểu Quốc hội các khoá: VI, VII, VIII. Với công lao đóng góp và tấm gương mẫu mực của mình, Bà được Đảng và Nhà nước cũng như nhiều nguyên thủ quốc gia trao, tặng nhiều huân chương, danh hiệu cao quý, như: Huân chương Hồ Chí Minh, Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa V có tỷ lệ nữ ĐBQH cao nhất của Việt Nam, với 137 đại biểu (chiếm 32,3%). Tại nhiệm kỳ này, Bà Nguyễn Thị Thập lại tiếp tục được bầu là Phó Chủ tịch uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bà Lê Thị Xuyến được bầu là Uỷ viên ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chủ nhiệm Uỷ ban Thống nhất của Quốc hội là Bà Nguyễn Thị Lựu và Uỷ viên Uỷ ban đối ngoại là luật sư Bùi Thị Cẩm.

Kế thừa thành quả và kinh nghiệm lịch sử của ba thập kỷ hoạt động đã qua (1946-1976), Quốc hội khoá VI bầu ngày 25-4-1976, là Quốc hội của sự thống nhất đất nước và Quốc hội các khóa tiếp theo đã nắm vững và giương cao ngọn cờ về Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Vai trò của càng nữ ĐBQH càng được nâng cao, nhất là từ khi Đảng ta đề ra đường lối đổi mới.

 Hiến pháp Việt Nam đã quy định sự bình đẳng của nam và nữ trong tất cả lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực chính trị. Hàng loạt các chủ trương, chính sách của Đảng được ban hành nhằm thực hiện giải phóng phụ nữ và mở rộng cơ hội cho phụ nữ phát triển: Chỉ thị 44/CT-TW ngày 7/6/1984 của Ban Bí thư; Nghị quyết 04/NQ-TW của Bộ Chính trị về "Tăng cường và đổi mới công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới"; Chỉ thị 37/CT-TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương về "Một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới"; tiếp theo là Nghị Quyết Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nội dung của các văn kiện trên đều nhất quán một quan điểm: Thực hiện tốt chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, bồi dưỡng đào tạo nghề nghiệp, nâng cao trình độ học vấn, có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành… Thủ tướng Chính phủ cũng ra Quyết định số 19/2002/ QĐ-TTg ngày 21- 01- 2002 phê duyệt Chiến lược quốc gia Vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 về năng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và phải đạt tỷ lệ lãnh đạo nữ là 50% trong các cơ quan Nhà nước và tổ chức các cấp.

Tuy ở một số nhiệm kỳ (khoá VII và khoá VIII) tỷ lệ ĐBQH nữ có giảm đôi chút. Song, các nhiệm kỳ tiếp đều số lượng nữ trong quốc hội lại tăng dần: nhiệm kỳ X (1997-2002) tỷ lệ nữ chiếm 26,2%, tăng 8% so với Quốc hội khóa trước đưa nước ta đứng thứ 9/135 nước trong liên minh Quốc hội và đứng thứ 2 trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương; nhiệm kỳ XI (2002-2007) tỷ lệ nữ tăng 1,1% so với nhiệm kỳ X, đây là tỷ lệ cao nhất trong khu vực châu á và đứng thứ hai trong khu vực châu á - Thái Bình Dương sau Niu-Di-lân. Việt Nam là một trong 16 quốc gia có nữ làm Phó Chủ tịch nước (các nước khác là Tổng thống, Phó Tổng thống) trên tổng số 195 quốc gia trên thế giới

Việc tăng cường tỷ lệ nữ tham gia vào các cương vị lãnh đạo trong các cơ quan dân cử, đặc biệt là Quốc hội để thực hiện quyền lập pháp, giám sát và ra quyết định là một đòi hỏi khách quan của sự phát triển xã hội. Vai trò của phụ nữ quan trọng không phải là do ý muốn chủ quan của chúng ta mà là do những đòi hỏi tất yếu khách quan  của thời đại, do thực tế phát triển của kinh tế – xã hội của lực lượng lao động nữ hình thành. Và khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, việc nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của phụ nữ trong cơ chế thị trường là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta. Việc nâng cao năng lực của phụ nữ trong cơ quan quyền lực Nhà nước luôn gắn liền với sự phát triển và được xem xét dưới góc độ của giới cùng với việc tạo điều kiện cho phụ nữ vươn lên đáp ứng yêu cầu CNH – HĐH đất nước ngày càng cao hơn trong lãnh đạo và quản lý.

Bước vào thế kỷ mới, nhân loại đang và sẽ phải đối đầu với hàng loạt những thách thức mới: Theo dự báo của các nhà khoa học thì đến năm 2010, dân số thế giới sẽ gần 10 tỷ, năm 2040 sẽ là 13,4 tỷ, một viễn cảnh mà cả thế giới quan tâm. Do vậy, tăng cường vai trò của nữ đại biểu trong thời kỳ mới là xu thế phát triển tất yếu khách quan nhằm phát huy nội lực, tiềm năng, sáng tạo và tận tuỵ trong công việc, đồng thời không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt của đại biểu nữ nhằm đáp ứng mọi yêu cầu đặt ra trong công cuộc CNH – HĐH đất nước.

   

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện