Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UỶ BAN

QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CỦA QUỐC HỘI

(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển"

Hà Nội, 23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005) 

 

Nguyễn Văn Khá, Phó Chủ nhiệm

Uỷ ban QP&AN của Quốc hội khoá XI

 

1. Vài  nét về Uỷ ban Quốc phòng và an ninh của Quốc hội

Để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Quốc hội cần có một cơ quan chức năng giúp Quốc hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình về lĩnh vực quốc phòng và an ninh.

Từ cách đặt vấn đề trên và cùng với Tờ trình của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá IX đã quyết định thành lập Uỷ ban Quốc phòng và An ninh với 21 thành viên, Chủ nhiệm Uỷ ban do một Phó Chủ tịch Quốc hội kiêm, các Phó Chủ nhiệm và toàn bộ thành viên Uỷ ban hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm. Nhiệm kỳ Quốc hội  khoá X, Uỷ ban có 30 thành viên, Chủ nhiệm Uỷ ban do Phó Chủ tịch Quốc hội kiêm, các Phó Chủ nhiệm và 01 ủy viên hoạt động theo chế độ chuyên trách. Đến nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI, số lượng Uỷ ban đã lên tới 38 thành viên, gồm 17 thành viên là sĩ quan quân đội, 13 thành viên là sĩ quan công an và 8  thành viên thuộc các cơ quan dân chính, đảng ở trung ương và địa phương, trong đó 5 thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách ở trung ương (Chủ nhiệm, 02 Phó Chủ nhiệm, 02 ủy viên chuyên trách ) hợp thành Thường trực Uỷ ban, 6 thành viên Uỷ ban làm việc theo chế độ chuyên trách tại Đoàn đại biểu Quốc hội ở các tỉnh, số còn lại làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Uỷ ban đã thành lập Tiểu ban Quốc phòng và Tiểu ban An ninh, mỗi Tiểu ban có 07 thành viên do một Phó Chủ nhiệm làm Trưởng tiểu ban.

Xét về mặt thời gian, Uỷ ban Quốc phòng và An ninh là Uỷ ban được thành lập muộn nhất so với các Uỷ ban khác của Quốc hội, do đó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có những khó khăn nhất định. Vấn đề khó nhất chính là tính đặc thù, nhạy cảm và phạm vi rộng lớn của lĩnh vực quốc phòng, an ninh- một lĩnh vực luôn đòi hỏi phải bảo đảm nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện. Nhiều thông tin cần bảo mật, trong khi sinh hoạt của Quốc hội ngày càng mở rộng dân chủ, công khai, thành phần đại biểu Quốc hội lại bao gồm đại diện của hầu hết các tầng lớp trong xã hội. Điều kiện bảo đảm cho đại biểu Quốc hội hoạt động nói chung, cho thành viên Uỷ ban nói riêng còn khó khăn. Hơn nữa, Uỷ ban không có được sự kế thừa kinh nghiệm hoạt động của các thế hệ tiền nhiệm.

Trong điều kiện đó, với tinh thần đổi mới, khắc phục khó khăn, Uỷ ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội đã triển khai thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật với tinh thần chủ động, sáng tạo, vừa làm vừa rút kinh nghiệm kết hợp tham khảo kinh nghiệm của HĐDT, các Uỷ ban khác của Quốc hội, từng bước đưa hoạt động của Uỷ ban đi vào nề nếp, chất lượng, hiệu quả được nâng lên.

2. Tình hình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban Quốc phòng và an ninh của Quốc hội

- Thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách luôn được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm, được tiến hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do luật định, có nề nếp, chất lượng và hiệu quả, góp phần tích cực vào hoạt động lập pháp của Quốc hội trong thời kỳ đổi mới. Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và sự phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, trong từng nhiệm kỳ và hàng năm, Uỷ ban QP&AN đã xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện cụ thể, phân công thành viên Thường trực Uỷ ban đảm nhiệm từng dự án, huy động sự tham gia của tập thể Uỷ ban, sự phối hợp, giúp đỡ của HĐDT và các Uỷ ban khác cũng như các chuyên gia về lĩnh vực lập pháp. Trong quá trình thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, Uỷ ban QP&AN đặc biệt coi trọng thẩm tra sự phù hợp của nội dung dự án luật, pháp lệnh với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật; đồng thời trình bày rõ quan điểm của Uỷ ban về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau nhằm giúp Quốc hội, UBTVQH xem xét, cho ý kiến và thông qua dự án luật, pháp lệnh được thuận lợi. Hoạt động thẩm tra của Uỷ ban đã góp phần quan trọng trong việc thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng về nhiệm vụ chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.

Nếu lấy thời điểm Quốc hội ban hành Luật về chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam năm 1959 thì đến năm 1991 (Uỷ ban QP&AN chưa được thành lập), trong vòng 32 năm, hệ thống văn bản pháp luật về quốc phòng, an ninh mới chỉ có 2 đạo luật và 5 pháp lệnh. Do chủ động phối hợp với Bộ Quốc phòng và Bộ Công an bàn bạc, thống nhất chương trình xây dựng pháp luật, pháp lệnh từng nhiệm kỳ và hàng năm. Vì vậy, từ năm 1992, khi Uỷ ban Quốc phòng và An ninh bắt đầu đảm nhiệm vai trò cơ quan thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh về lĩnh vực quốc phòng, an ninh cho đến nay, tổng số văn bản luật, pháp lệnh được ban hành đã tăng lên đáng kể gấp ba, bốn lần (8 luật và 15 pháp lệnh), chưa kể số luật, pháp lệnh sửa đổi, sửa đổi bổ xung một số điều hoặc thuộc lĩnh vực khác có phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng liên quan đến quốc phòng, an ninh. Những văn bản QPPL quan trọng, có tính chất nền tảng đối với lĩnh vực này sau nhiều năm chuẩn bị đã được ban hành như Luật quốc phòng, Luật an ninh quốc gia, Luật biên giới quốc gia, Luật sĩ quan QĐNDVN, Luật công an nhân dân v.v… Ngoài ra, Uỷ ban còn phối hợp thẩm tra nhiều dự án luật, pháp lệnh và các dự án công trình trọng điểm quốc gia có liên quan đến quốc phòng, an ninh do Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra.  

- Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và giám sát ban hành văn bản thuộc lĩnh vực Uỷ  ban phụ trách có tiến bộ cả về nội dung, hình thức tiến hành, chất lượng, hiệu quả được nâng lên, tính hình thức từng bước được khắc phục.

Trong gần ba nhiệm kỳ, Uỷ ban đã tiến hành hàng trăm cuộc giám sát đối với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, một số bộ, ngành hữu quan khác ở trung ương, nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị lực lượng vũ trang về tình hình thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Tính trung bình, mỗi nhiệm kỳ, Uỷ ban tổ chức từ 80 - 90 cuộc giám sát. Một số vấn đề nổi cộm về an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội được thuyết trình trước Quốc hội như: quản lý nhà nước về an ninh biên giới, biển đảo; phòng cháy, chữa cháy; trật tự, an toàn giao thông đường bộ.v.v.   

Những kiến nghị của Uỷ ban đã góp phần tham mưu cho Đảng, Quốc hội và Chính phủ kịp thời có chủ trương, ban hành những chính sách phù hợp để tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Điển hình là sau khi Uỷ ban có thuyết trình về tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ và kiến nghị, Quốc hội đã đưa nội dung này vào Nghị quyết của kỳ họp để chỉ đạo hoặc qua giám sát kiến nghị, hàng năm ngân sách quốc phòng, an ninh đều được Quốc hội phân bổ tăng so với dự toán do Chính phủ trình. Về giám sát ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách, bước đầu phát hiện và kiến nghị với Chính phủ, các Bộ về một số sai sót trong các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh cần phải sửa đổi, bổ sung để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

- Hoạt động đối ngoại của Uỷ ban QP&AN được triển khai theo chương trình hoạt động đối ngoại hàng năm của Quốc hội đã góp phần thúc đẩy và tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Quốc hội nước ta với nghị viện các nước trong khu vực và thế giới. Uỷ ban QP&AN đã tổ chức đón tiếp và làm việc với nhiều đoàn nghị sĩ của Quốc hội các nước đến thăm Quốc hội Việt Nam; tổ chức mỗi năm từ một đến hai đoàn đi nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm hoạt động với cơ quan tương ứng của Quốc hội một số nước. Hoạt động đối ngoại của Uỷ ban QP&AN đã góp phần tích cực vào việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác, cùng phấn đấu vì hoà bình, ổn định và phát triển cũng như trao đổi, học tập kinh nghiệm để nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban trong các năm qua.

- Xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách từng bước đi vào nề nếp, tác động tích cực đến hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

Đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh so với các lĩnh vực khác không nhiều nhưng khá phức tạp. Nội dung khiếu nại thường là những vấn đề nhạy cảm, gắn với từng giai đoạn lịch sử cụ thể, con người cụ thể có công lao nhất định đối với đất nước v.v. Vì vậy, Thường trực Uỷ ban QP&AN đã phân công một đồng chí Phó Chủ nhiệm trực tiếp chỉ đạo vụ chuyên môn tổ chức nghiên cứu, xử lý đơn thư theo luật định, đồng thời phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, thường xuyên trao đổi, rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng giám sát đơn thư khiếu nại, tố cáo. Đến nay, Uỷ ban đã xử lý 1088 lượt đơn thư, trong đó có 435 đơn liên quan Bộ Quốc phòng, 428 đơn liên quan Bộ Công an, số còn lại thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan khác.

- Sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ khác khi được phân công với tinh thần trách nhiệm cao, đạt chất lượng và hiệu quả.

Theo quyết định của Chủ tịch Hội đồng bầu cử trung ương và Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thường trực Uỷ ban QP&AN được giao nhiệm vụ tổ chức và điều hành hoạt động của Tiểu ban chỉ đạo công tác bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội trong quá trình chuẩn bị và tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội khoá X và khoá XI trên phạm vi cả nước. Tuy lực lượng, phương tiện và điều kiện làm việc còn hạn chế, nhưng Thường trực Uỷ ban QP&AN đã bám sát sự chỉ đạo của Hội đồng bầu cử trung ương, chủ động xây dựng kế hoạch, quan hệ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan, Uỷ ban bầu cử các địa phương, triển khai các biện pháp cụ thể và tổ chức các cuộc giám sát rút kinh nghiệm giúp Hội đồng bầu cử chỉ đạo kịp thời nên đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, bảo đảm an toàn tuyệt đối các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội.

Từ khi thành lập Uỷ ban đến nay, được sự chỉ đạo sát sao của Đảng đoàn và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, sự phối hợp của Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban khác của Quốc hội, các cơ quan hữu quan và các địa phương, về cơ bản Uỷ ban QP&AN đã hoàn thành có kết quả nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong hoạt động của Uỷ ban cũng còn có những hạn chế nhất định:

Thứ nhất, do phần đông thành viên Uỷ ban hoạt động kiêm nhiệm, ở nhiều lĩnh vực và địa phương khác nhau, do quỹ thời gian dành cho hoạt động của Uỷ ban không nhiều nên việc nghiên cứu, tham gia ý kiến vào các dự án luật, pháp lệnh cũng như tham gia các cuộc giám sát còn hạn chế. Thời gian dành cho thẩm tra mỗi dự án còn có mức độ nên chất lượng báo cáo thẩm tra chưa được như mong muốn, tính phản biện chưa cao; chất lượng văn bản và kỹ thuật lập pháp là vấn đề cần được quan tâm nhiều trong thời gian tới.

Thứ hai, hiệu quả và hiệu lực giám sát chưa tương xứng với vị trí và tính chất giám sát như quy định của pháp luật. Việc theo dõi, đôn đốc các cơ quan chịu sự giám sát giải quyết các kiến nghị sau giám sát chưa thường xuyên nên hiệu quả thấp. Giám sát việc ban hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh chưa có chương trình, kế hoạch cụ thể. Trong triển khai thực hiện, khi phát hiện những quy định trong văn bản hướng dẫn thi hành có dấu hiệu không phù hợp với Hiến pháp, luật, pháp lệnh nhưng kiến nghị còn thiếu kiên quyết.

Thứ ba, việc xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách tuy có tiến bộ, nhưng số lượng đơn thư chậm được giải quyết vẫn còn nhiều, có vụ việc kéo dài gây bức xúc cho đương sự, trong khi đó Uỷ ban chưa tổ chức được việc giám sát điểm một số vụ để xác định bản chất của sự việc, nguyên nhân của sự chậm trễ để yêu cầu các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm khắc phục.

3. Một số kinh nghiệm bước đầu trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban quốc phòng, an ninh

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn hoạt động gần ba nhiệm kỳ qua, Uỷ ban chúng tôi rút ra một số kinh nghiệm bước đầu như sau:

Một là, nắm vững chủ trương, đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước  là vấn đề có tính xuyên suốt quá trình hoạt động của Uỷ ban.

Thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch coi pháp luật là một lĩnh vực mà chúng cần tìm cách thâm nhập để chuyển hóa. Vì vậy, trong hoạt động xây dựng pháp luật của Quốc hội, sự thận trọng đối với toàn bộ các khâu soạn thảo, thẩm tra và quyết định thông qua phải được xem là một yêu cầu không thể thiếu. Là cơ quan được giao trách nhiệm thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh về lĩnh vực quốc phòng, an ninh và phối hợp thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh liên quan đến quốc phòng, an ninh, Uỷ ban chúng tôi nhận thức rõ đây là nhiệm vụ của “người lính gác” cho Đảng và Nhà nước về lĩnh vực này. Khi thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh cũng như giám sát việc thực hiện các văn bản đó, Uỷ ban luôn lấy quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước  làm tiêu chuẩn xem xét, đánh giá, nhằm loại trừ những sơ xuất mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng.

Hai là, xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động sát đúng là định hướng quan trọng để Uỷ ban thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định.

Chương trình, kế hoạch giữ vị trí quan trọng trong hoạt động của Uỷ ban. Lĩnh vực quốc phòng, an ninh rất rộng lớn, nếu không xác định được chương trình, kế hoạch hoạt động phù hợp, có trọng tâm, trọng điểm và giới hạn nó trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì hoạt động của Uỷ ban sẽ dàn trải, kém hiệu quả và dễ lấn sang nhiệm vụ, quyền hạn của các Uỷ ban khác. Vì vậy, việc xây dựng phương hướng hoạt động của Uỷ ban phải coi trọng ngay từ đầu nhiệm kỳ, trên cơ sở phương hướng hoạt động cả nhiệm kỳ của Uỷ ban mà cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hoạt động từng năm cho đúng với chức năng, nhiệm vụ và sát với thực tiễn. Đó là định hướng quan trọng để hoạt động của Uỷ ban có chất lượng và hiệu quả.

Chương trình, kế hoạch hoạt động phải được tập thể Uỷ ban bàn bạc và quyết định. Tuy nhiên, không nên quan niệm một cách cứng nhắc. Trong quá trình tổ chức thực hiện, Thường trực Uỷ ban có thể điều chỉnh, bổ sung những nội dung cần thiết  theo sự chỉ đạo của UBTVQH  hoặc do đòi hỏi của khách quan, đồng thời báo cáo Uỷ ban tại cuộc họp gần nhất.

Ba là, vai trò của Thường trực Uỷ ban và sự phối hợp với cơ quan hữu quan có vị trí  quan trọng trong tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch đã đề ra

Sau khi có chương trình, kế hoạch thì việc chỉ đạo tổ chức thực hiện mang ý nghĩa quyết định kết quả hoạt động của Uỷ ban. Mặc dù, Thường trực Uỷ ban không phải là một cấp trong hệ thống tổ chức của Quốc hội, nhưng thực tế cho thấy vai trò của Thường trực Uỷ ban không thể thiếu được trong điều kiện đa số thành viên Uỷ ban hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm. Việc cụ thể hóa chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện, bảo đảm thông tin, tài liệu và các điều kiện cần thiết cho thành viên Uỷ ban hoạt động, duy trì quan hệ phối hợp với Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban và các cơ quan hữu quan khác, chỉ đạo cơ quan tham mưu, giúp việc của Uỷ ban .v.v đều do Thường trực Uỷ ban đảm nhiệm. Để hoạt động của Thường trực Uỷ ban có hiệu quả, đầu nhiệm kỳ khoá XI, Uỷ ban chúng tôi đã ban hành Quy chế làm việc, trong đó quy định rõ chế độ làm việc và mối quan hệ trong Thường trực Uỷ ban, phân công nhiệm vụ cụ thể đối với Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm Uỷ ban, các Uỷ viên chuyên trách, Uỷ viên kiêm nhiệm, nhiệm vụ của các Tiểu ban và bộ máy giúp việc của Uỷ ban. Điều 16 Quy chế làm việc của Uỷ ban Quốc phòng và An ninh khoá XI đã chỉ rõ nhiệm vụ của Thường trực Uỷ ban là “cụ thể hoá chương trình, kế hoạch hoạt động của Uỷ  ban trong toàn khoá và trong từng năm; chỉ đạo tổ chức các hoạt động của Uỷ ban; chuẩn bị dự thảo các loại văn bản báo cáo của Uỷ ban; dự trù kinh phí và quyết định sử dụng kinh phí của Uỷ ban; chỉ đạo tổ chức phối hợp với các cơ quan hữu quan trong thực hiện nhiệm vụ của Uỷ ban”. Trong hoạt động của mình, Thường trực Uỷ ban chúng tôi luôn chú ý phát huy vai trò tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân, thực hiện phân công, phân nhiệm rõ ràng kết hợp với kiểm tra, đôn đốc thường xuyên; coi trọng cải tiến phương thức hoạt động và lề lối làm việc.

Cần hết sức coi trọng công tác phối hợp, vì trong bất kỳ hoạt động nào của Uỷ ban cũng cần có sự tham gia của các cơ quan hữu quan ( Khi thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, Uỷ ban cần có sự tham gia của các cơ quan phối hợp thẩm tra và cơ quan trình dự án). Từ nhận thức đó, Uỷ ban chúng tôi luôn chủ động phối hợp với Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban khác của Quốc hội và các cơ quan hữu quan trong việc thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh cũng như khi tiến hành giám sát ở những địa bàn quan trọng như Tây Nguyên, quần đảo Trường Sa, tuyến biên giới v.v… Sự phối hợp đó đã giúp cho hoạt động của Uỷ ban QP&AN ngày càng có hiệu quả, góp phần tích cực vào hoạt động chung của Quốc hội.

Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các đơn vị chuyên môn thuộc các cơ quan hữu quan và của Văn phòng Quốc hội, đặc biệt chăm lo xây dựng, nâng cao chất lượng hoạt động của Vụ Quốc phòng và An ninh.

Quốc phòng, an ninh theo tư duy mới có phạm vi rất rộng. Nó có mặt ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, việc huy động sức mạnh tổng hợp của các đơn vị chuyên môn thuộc các cơ quan hữu quan và của Văn phòng Quốc hội là hết sức cần thiết. Bằng cơ chế sử dụng cộng tác viên và biết phát huy sức mạnh của các đơn vị chuyên môn, Uỷ ban QP&AN đã nhận được sự cộng tác tích cực với nhiều thông tin, tư liệu cần thiết bảo đảm cho hoạt động của mình.

Trong điều kiện đa số đại biểu Quốc hội là thành viên Uỷ ban hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, hầu như toàn bộ công việc của Uỷ ban tập trung vào tập thể Thường trực. Để giúp Thường trực Uỷ ban hoàn thành được vai trò tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch của Uỷ ban, cần phải có Vụ chuyên môn giúp việc với biên chế phù hợp, gồm những cán bộ, chuyên viên có trình độ chuyên sâu về quốc phòng, an ninh, có kiến thức nhất định về pháp luật, kinh tế - xã hội, kỹ năng biên soạn văn bản, biết sử dụng các phương tiện chuyên dụng văn phòng.v.v. Gần ba nhiệm kỳ qua, Thường trực Uỷ ban chúng tôi đã tập trung chỉ đạo củng cố từng bước về tổ chức, phối hợp với lãnh đạo Văn phòng Quốc hội tăng biên chế cho Vụ Quốc phòng và An ninh; tạo điều kiện để cán bộ, công chức tham gia học các chương trình về chính trị, hành chính quốc gia, pháp luật, ngoại ngữ và tin học. Đến nay, đội ngũ cán bộ, công chức của Vụ đã trưởng thành, tích lũy được kinh nghiệm trong công tác tham mưu, phục vụ hoạt động của Uỷ ban. Tuy nhiên, để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, việc tiếp tục củng cố về tổ chức, biên chế và bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chuyên viên của Vụ Quốc phòng và An ninh cần được quan tâm thường xuyên hơn nữa.

Thưa các vị đại biểu,

Từ thực tế hoạt động qua gần 15 năm, chúng tôi nhận thấy, phần đông thành viên của Uỷ ban Quốc phòng và An ninh hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, lại giữ những vị trí quan trọng ở địa phương và các đơn vị quân đội, công an, nên thời gian dành cho hoạt động của Uỷ ban không nhiều đã hạn chế chất lượng, hiệu quả chung. Để khắc phục nhược điểm đó, Uỷ ban Quốc phòng và An ninh trong các khoá tới cần phải tiếp tục đổi mới về tổ chức để huy động sức mạnh và trí tuệ tập thể vào thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của Uỷ ban theo hướng coi trọng chất lượng, hợp lý về số lượng và cơ cấu, bố trí ít nhất 50% thành viên hoạt động theo chế độ chuyên trách, đồng thời đổi mới phương thức hoạt động, bảo đảm điều kiện làm việc, nhất là cung cấp thông tin, tư liệu cần thiết cho thành viên Uỷ ban.

Là một cơ quan của Quốc hội, trong các nhiệm kỳ qua, về cơ bản Uỷ ban QP&AN đã hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật, góp phần cùng HĐDT, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội từng bước nâng cao hiệu lực,  hiệu quả hoạt động của Quốc hội để Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân./.

  

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện