|
UỶ BAN PHÁP LUẬT CỦA QUỐC HỘI -
SÁU MƯƠI NĂM HOẠT ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
TS. Nguyễn Văn Thuận
Phó Chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một thời
đại mới cho dân tộc Việt Nam. Ngày 2 tháng 9 năm
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc
lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa,
mở đầu cho kỷ nguyên độc lập, tự do và dân chủ
của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản Việt Nam. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, lần
đầu tiên trong lịch sử nước ta, cử tri cả nước
đã tham gia cuộc tổng tuyển cử để bầu ra Quốc
hội, cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ
quan quyền lực Nhà nước cao nhất.
Uỷ ban pháp luật của Quốc hội, với những tên gọi
và cách thức tổ chức khác nhau, luôn tồn tại và
gắn liền với hoạt động của Quốc hội, là một
trong những Uỷ ban được thành lập sớm nhất. Nếu
tính cả các hình thức tổ chức ban đầu là những
tiểu ban về các dự án luật của Quốc hội, tiểu
ban pháp chế, tiểu ban luật pháp của Ban thường
trực Quốc hội nhiệm kỳ Quốc hội khóa I, có thể
khẳng định rằng: sáu mươi năm hoạt động và phát
triển của Quốc hội Việt Nam cũng là chặng đường
hình thành và phát triển của Uỷ ban pháp luật.
Từ khi thành lập đến nay, tổ chức, chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban pháp luật đã
không ngừng được tăng cường và hoàn thiện; Uỷ
ban pháp luật đã chủ trì thẩm tra hàng trăm dự
án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án
pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội, trong đó có các dự án lớn, phạm vi
điều chỉnh rộng, như dự án Bộ luật hình sự, Bộ
luật tố tụng hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố
tụng dân sự v.v. ; giám sát việc thực hiện pháp
luật trong lĩnh vực tổ chức bộ máy Nhà nước, về
hình sự, dân sự, hành chính; giám sát hoạt động
của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, hoạt động điều tra, thi hành
án.v.v…
Bằng hoạt động của mình, từ khi được thành lập
cho tới nay Uỷ ban pháp luật của Quốc hội đã có
những đóng góp quan trọng, tích cực vào hoạt
động của Quốc hội trên các mặt công tác xây dựng
pháp luật, giám sát và quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước.
Nhân dịp kỷ
niệm sáu mươi năm Quốc hội Việt Nam, xin được
phản ánh một cách khái quát về tổ chức và hoạt
động, nhiệm vụ cũng như những đóng góp của Uỷ
ban pháp luật qua các nhiệm kỳ Quốc hội; đồng
thời, cũng xin nêu ra một số vấn đề cần được
làm rõ nhằm góp phần củng cố, hoàn thiện cả về
tổ chức cung nhu nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ
ban pháp luật trong thời gian tới.
I. Tổ chức của Uỷ ban pháp luật qua các nhiệm kỳ
Quốc hội
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá I, Quốc hội không
tổ chức ra các Uỷ ban thường trực, mà mỗi khi
Quốc hội xem xét, thông qua một dự án luật, sắc
luật nào đó thì tại mỗi kỳ họp, Quốc hội thành
lập Tiểu ban về dự án luật, sắc luật đó để
nghiên cứu, tham mưu cho Quốc hội. Sau khi dự án
luật, sắc luật được Quốc hội thông qua Tiểu ban
tự giải tán. Mỗi Tiểu ban có Trưởng tiểu ban,
Phó trưởng Tiểu ban và Thuyết trình viên của
Tiểu ban; Trưởng tiểu ban có trách nhiệm điều
hành hoạt động của Tiểu ban; Thuyết trình viên
của Tiểu ban có trách nhiệm chuẩn bị báo cáo của
Tiểu ban về các dự án luật, sắc luật và trình
bày báo cáo của Tiểu ban ra trước phiên họp Quốc
hội. Bên cạnh đó, do Ban thường trực Quốc hội
cũng có những thẩm quyền nhất định trong hoạt
động lập pháp như quyền biểu quyết các sắc luật
do Chính phủ ban hành, nên Ban thường trực Quốc
hội đã thành lập ra Tiểu ban pháp chế (sau kỳ
họp thứ hai Quốc hội khóa I), sau này đổi tên
thành Tiểu ban luật pháp để nghiên cứu tham mưu
cho Ban thường trực Quốc hội trong việc thực
hiện nhiệm vụ này. Tiểu ban của Ban thường trực
Quốc hội là một cơ quan thường trực, hoạt động
thường xuyên. Về tổ chức, Tiểu ban gồm có Trưởng
Tiểu ban và một số thành viên.
Từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa II đến nhiệm kỳ Quốc
hội khóa VI, Quốc hội đã tổ chức ra Uỷ ban dự án
pháp luật là cơ quan hoạt động thường xuyên của
Quốc hội. Uỷ ban dự án pháp luật trong các nhiệm
kỳ này được tổ chức trên cơ sở Luật tổ chức Quốc
hội năm 1960. Theo đó, Uỷ ban dự án pháp luật có
Chủ nhiệm và các ủy viên, có thể có Phó Chủ
nhiệm; Chủ nhiệm và các uỷ viên của Uỷ ban do
Quốc hội bầu ra theo sự đề cử của Chủ tịch đoàn
kỳ họp Quốc hội; Phó Chủ nhiệm Uỷ ban do Uỷ ban
bầu ra trong số các uỷ viên của Uỷ ban (Điều
34).
Từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII, Uỷ ban dự án pháp
luật được đổi tên thành Uỷ ban pháp luật, trong
đó:
- Uỷ ban pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá VII và
khoá VIII được tổ chức theo Luật tổ chức Quốc
hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981. Uỷ ban pháp
luật gồm có Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm, thư ký và
các uỷ viên; Chủ nhiệm và các thành viên khác
của Uỷ ban do Quốc hội bầu theo danh sách do Chủ
tịch Quốc hội và các trưởng đoàn đại biểu Quốc
hội giới thiệu; Phó Chủ nhiệm và Thư ký Uỷ ban
do Uỷ ban bầu ra trong số các uỷ viên của Uỷ ban
(Điều 46).
- Uỷ ban pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá IX và
khoá X được tổ chức theo Luật tổ chức Quốc hội
năm 1992, Uỷ ban pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội XI
được tổ chức theo Luật tổ chức Quốc hội năm
2001. Tuy trong các nhiệm kỳ này, Uỷ ban pháp
luật được tổ chức dựa trên hai đạo luật kế tiếp
nhau nhưng về cơ bản tổ chức của Uỷ ban pháp
luật đều giống nhau. Theo đó, Chủ nhiệm, các Phó
Chủ nhiệm và các uỷ viên của Uỷ ban đều do Quốc
hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội theo danh
sách đề cử chức vụ từng người do Chủ tịch Quốc
hội giới thiệu (Điều 71 Luật tổ chức Quốc hội
năm 1992, Điều 83 Luật tổ chức Quốc hội năm
2001).
Tuy nhiên, cũng có điểm khác nhau ở chỗ Luật tổ
chức Quốc hội năm 1992 không quy định Uỷ ban có
uỷ viên chuyên trách, nhưng đến Luật tổ chức
Quốc hội năm 2001 dó quy định Uỷ ban có uỷ viên
chuyên trách và số Uỷ viên chuyên trách này do
Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định;
Như vậy, trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá I, ngoài Ban thường
trực Quốc hội là cơ quan hoạt động thường xuyên,
Quốc hội không thành lập thêm bất kỳ một Uỷ ban
nào khác thuộc cơ cấu của Quốc hội. Để thực hiện
nhiệm vụ xem xét thông qua các dự án luật, các
sắc luật, Quốc hội thành lập Tiểu ban nghiên cứu
về các dự án luật, sắc luật đó để tham mưu cho
Quốc hội, Ban thường trực Quốc hội thành lập
Tiểu ban luật pháp để giúp Ban thường trực Quốc
hội. Các Tiểu ban của Quốc hội được tổ chức mang
tính chất lâm thời, chỉ được thành lập và hoạt
động trong kỳ họp Quốc hội và sau khi dự án
luật, sắc luật được thông qua thì tự giải tán.
Duy chỉ có Tiểu ban luật pháp thuộc cơ cấu của
Ban thường trực Quốc hội là hoạt động thường
xuyên.
Sau khi có Hiến pháp năm 1959, lần đầu tiên một
đạo luật riêng về tổ chức và hoạt động của Quốc
hội được ban hành, đó là Luật tổ chức Quốc hội
năm 1960. Theo đó, tổ chức của Quèc hội đã có sự
thay đổi lớn, bên cạnh Uỷ ban thường vụ Quốc hội
(thay cho Ban thường trực Quốc hội khoá I), Quốc
hội đã thành lập các Uỷ ban thường trực thuộc cơ
cấu của mình, trong đó có Uỷ ban dự án pháp luật
và tên gọi này tồn tại trong suốt các nhiệm kỳ
Quốc hội các khoá II, III, IV, V và VI. Việc ra
đời Uỷ ban dự án pháp luật trong giai đoạn này
xuất phát từ yêu cầu của hoạt động lập pháp của
Quốc hội cũng như từ kết quả đạt được trong thực
tiễn hoạt động của các Tiểu ban về xây dựng pháp
luật trong các kỳ họp Quốc hội, cũng như Tiểu
ban luật pháp của Ban thường trực Quốc hội trong
nhiệm kỳ Quốc hội khoá I. Vì vậy, có thể nói
rằng các Tiểu ban này chính là tiền thân của Uỷ
ban dự án pháp luật cũng như Uỷ ban pháp luật
sau này.
Từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII, thông qua việc ban hành Luật
tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981,
Quốc hội đã quyết định đổi tên Uỷ ban dự án pháp
luật thành Uỷ ban pháp luật, tên gọi này tiếp
tục được giữ nguyên trong Luật tổ chức Quốc hội
năm 1992 và Luật tổ chức Quốc hội năm 2001. Từ
đó đến nay, cơ cấu tổ chức của Uỷ ban pháp luật
ngày càng được quy định cụ thể và hoàn thiện
hơn, cụ thể như sau:
- Về các chức danh của Uỷ ban, từ chỗ quy định Uỷ ban có thể
có chức danh Phó Chủ nhiệm Uỷ ban (Luật tổ chức
Quốc hội năm 1960) cho đến khi quy định đây là
chức danh không thể thiếu của Uỷ ban (Luật tổ
chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981, các
Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 và năm 2001); từ
chỗ không quy định có chức danh Thư ký Uỷ ban
(Luật tổ chức Quốc hội năm 1960) cho đến khi quy
định đây là một chức danh chính thức của Uỷ ban
(Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm
1981), sau đó do không phù hợp nên không tiếp
tục duy trì chức danh này (các Luật tổ chức Quốc
hội năm 1992 và năm 2001); từ chỗ không quy định
Uỷ ban không có uỷ viên chuyên trách (Luật tổ
chức Quốc hội năm 1960, Luật tổ chức Quốc hội và
Hội đồng nhà nước năm 1981, Luật tổ chức Quốc
hội năm 1992) đến chỗ quy định Uỷ ban có uỷ viên
chuyên trách (Luật tổ chức Quốc hội năm 2001);
- Về việc bầu các thành viên Uỷ ban, từ chỗ quy định việc
Quốc hội bầu Chủ nhiệm và các uỷ viên của Uỷ ban
theo sự đề cử của Chủ tịch đoàn kỳ họp Quốc hội
(Luật tổ chức Quốc hội năm 1960) cho đến việc
quy định Quốc hội bầu Chủ nhiệm và các uỷ viên
của Uỷ ban theo danh sách do Chủ tịch Quốc hội
và các trường đoàn đại biểu Quốc hội giới thiệu
(Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm
1981) và sau này quy định Quốc hội bầu Chủ
nhiệm, Phó Chủ nhiệm và các uỷ viên của Uỷ ban
theo danh sách đề cử chức vụ từng người do Chủ
tịch Quốc hội giới thiệu (các Luật tổ chức Quốc
hội năm 1992 và năm 2001); từ chỗ quy định Phó
Chủ nhiệm Uỷ ban do Uỷ ban tự bầu ra (Luật tổ
chức Quốc hội năm 1960, Luật tổ chức Quốc hội và
Hội đồng nhà nước năm 1981) cho đến việc quy
định do Quốc hội bầu trực tiếp (các Luật tổ chức
Quốc hội năm 1992 và năm 2001);
- Từ chỗ không quy định có Thường trực Uỷ ban (Luật tổ chức
Quốc hội năm 1960, Luật tổ chức Quốc hội và Hội
đồng nhà nước năm 1981) cho đến việc quy định
Chủ nhiệm Uỷ ban và các Phó Chủ nhiệm Uỷ ban hợp
thành bộ phận Thường trực Uỷ ban (Quy chế hoạt
động của các Uỷ ban của Quốc hội nam 1993), Chủ
nhiệm Uỷ ban, các Phó Chủ nhiệm Uỷ ban và một số
uỷ viên thường trực hợp thành bộ phận Thường
trực Uỷ ban (Quy chế hoạt động của Hội đồng dân
tộc và các Uỷ ban của Quốc hội nam 2004).
- Từ chỗ hầu hết các thành viên Uỷ ban hoạt động kiêm nhiệm,
trừ một số chức danh lãnh đạo của Uỷ ban (các
nhiệm kỳ Quốc hội từ khoá II cho đến khoá X) cho
đến sau này số thành viên hoạt động chuyên trách
chiếm tới 30% tổng số thành viên của Uỷ ban
(nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI có 11 thành viên hoạt
động chuyên trách trên tổng số 34 thành viên của
Uỷ ban).
II. Nhiệm vụ, quyền hạn và kết quả hoạt động của
Uỷ ban dự án pháp luật qua các nhiệm kỳ Quốc hội
1. Nhiệm vụ, quyền hạn và kết quả hoạt động của các tiểu ban
về xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá I
(1946-1960)
Như trên đã trình bày, trong nhiệm kỳ khoá I,
Quốc hội không thành lập Uỷ ban pháp luật mà tại
mỗi kỳ họp khi xem xét thông qua các dự án luật,
sắc luật thì Quốc hội thành lập Tiểu ban về dự
án luật đó để nghiên cứu, tham mưu cho Quốc hội;
Ban thường trực Quốc hội cũng thành lập tiểu ban
về xây dựng pháp luật thuộc cơ cấu của mình để
nghiên cứu tham mưu cho Ban thường trực Quốc hội
trong việc biểu quyết thông qua các sắc luật do
Chính phủ ban hành, đồng thời tiểu ban cũng có
nhiệm vụ theo dõi, nghiên cứu các sắc lệnh, nghị
định do Chính phủ ban hành để có những kiến nghị
kịp thời với Ban thường trực Quốc hội nhằm bảo
đảm cho nội dung của các văn bản này không trái
với các đạo luật hiện hành.
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá I, các tiểu ban
nghiên cứu về các dự án luật, sắc luật đã tham
mưu cho Quốc hội xem xét thông qua 10 dự án luật
và 5 sắc luật do Chính phủ ban hành; trong đó có
các dự án luật lớn, với phạm vi điều chỉnh rộng
như Luật lao động (thông qua tại kỳ họp thứ
hai), Luật bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền
bất khả xâm phạm về nhà ở, đồ vật, thư tín của
nhân dân (thông qua tại kỳ họp thứ sáu), Luật tổ
chức chính quyền địa phương, Luật quy định chế
độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt
Nam (thông qua tại kỳ họp thứ 8) v.v... Các tiểu
ban về xây dựng pháp luật của Ban thường vụ Quốc
hội cũng đã nghiên cứu tham mưu cho Ban thường
trực Quốc hội trong việc xem xét biểu quyết về
các sắc luật do Chính phủ ban hành, trong đó có
các sắc luật rất quan trọng như Sắc luật số
001-SLt ngày 19 tháng 4 năm 1957 cấm chỉ mọi
hành động đầu cơ về kinh tế, Sắc luật số 002-SLt
ngày 18 tháng 6 năm 1957 quy định những trường
hợp phạm pháp quả tang và những trường hợp khẩn
cấp nói ở điều 4 đạo luật về tự do thân thể, Sắc
luật số 003-SLt ngày 18 tháng 6 năm 1957 quy
định chế độ xuất bản, Sắc luật số 004-SLt ngày
20 tháng 7 năm 1957 quy định thể lệ bầu cử Hội
đồng nhân dân và Uỷ ban Hành chính các cấp v.v…;
bên cạnh đó, các tiểu ban này cũng đã thường
xuyên theo dõi giám sát việc ban hành các sắc
lệnh, nghị định của Chính phủ để kịp thời kiến
nghị với Ban thường trực Quốc hội nhằm bảo đảm
cho nội dung các văn bản này phù hợp với hệ
thống pháp luật của Nhà nước.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn và kết quả hoạt động của Uỷ ban dự án
pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội các khoá II, III,
IV, V và VI (1960-1981)
Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban dự án pháp luật
nhiệm kỳ Quốc hội các khoá II, III, IV, V và VI
được quy định cụ thể trong Luật tổ chức Quốc hội
năm 1960. Theo đó, Uỷ ban dự án pháp luật có
nhiệm vụ thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh và
những dự án khác về vấn đề pháp luật do Quốc hội
hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao cho; căn cứ
vào quyết định của Quốc hội hoặc của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, thảo ra dự án luật và dự án
pháp lệnh; đề ra dự án và ý kiến về vấn đề pháp
luật với Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội
(Điều 35); có quyền trình dự án luật và các dự
án khác ra trước Quốc hội (Điều 15); có quyền
trình dự án pháp lệnh và các dự án khác ra trước
Uỷ ban thường vụ Quốc hội (Điều 28); có thể yêu
cầu các thành viên của Hội đồng Chính phủ và
những nhân viên hữu quan khác trình bày về những
vấn đề cần thiết có liên quan đến nhiệm vụ của
Uỷ ban (Điều 38).
Như vậy, có thể nhận thấy, nhiệm vụ, quyền hạn
chính của Uỷ ban dự án pháp luật trong các nhiệm
kỳ này là thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh và
các dự án khác về vấn đề pháp luật và quyền
trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác ra
trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Theo Luật tổ chức Quốc hội năm 1960 thì Quốc hội
chỉ thành lập 2 Uỷ ban duy nhất là Uỷ ban dự án
pháp luật và Uỷ ban kế hoạch và ngân sách, khi
cần thiết thì mới thành lập Uỷ ban khác (Điều
33). Trong giai đoạn này, Uỷ ban kế hoạch và
ngân sách không được giao nhiệm vụ thẩm tra các
dự án luật, pháp lệnh, cho nên trong thực tế
thực tế tất cả các dự án luật, pháp lệnh trình
Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đều do Uỷ
ban dự án pháp luật thẩm tra. Tổng cộng Uỷ ban
dự án pháp luật đã thẩm tra 9 dự án luật và 26
dự án pháp lệnh. Bên cạnh đó, theo sự phân công
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Uỷ ban dự án pháp
luật đã chủ trì soạn thảo dự án Luật bầu cử đại
biểu Quốc hội và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội
quy định một số điểm về việc thi hành Hiến pháp
năm 1980 (được Quốc hội thông qua tháng 12 năm
1980). Ngoài ra, U? ban d? ỏn phỏp luật cung dó
thực hiện một số nhiệm vụ khác như: chuẩn bị văn
bản của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
phúc đáp Lời kêu gọi của Quốc hội nước Cộng hoà
dân chủ Đức; nghiên cứu giúp Uỷ ban thường vụ
Quốc hội trong việc phê chuẩn Hiệp định tương
trợ tư pháp và pháp lý về dân sự, gia đình và
hình sự giữa nước ta và nước Cộng hoà dân chủ
Đức v.v...
3. Nhiệm vụ, quyền hạn và kết quả hoạt động của Uỷ ban pháp
luật từ nhiệm kỳ Quốc hội các khoá VII đến nay
Từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII, Uỷ ban dự án pháp luật được
đổi tên thành Uỷ ban pháp luật cùng với việc
phân công nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp. Có thể
phân thành các giai đoạn như sau:
- Uỷ ban pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá VII và khóa VIII:
Trong các nhiệm kỳ này, nhiệm vụ, quyền hạn của
Uỷ ban pháp luật được quy định cụ thể trong Luật
tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981.
Theo đó, Uỷ ban pháp luật có nhiệm vụ thẩm tra
các báo cáo, dự án luật, dự án pháp lệnh và các
dự án khác do Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước
giao cho; trình dự án luật, dự án pháp lệnh và
các dự án khác; nghiên cứu và kiến nghị về những
vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Uỷ ban; giúp
Quốc hội và Hội đồng Nhà nước thực hiện quyền
giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật,
giám sát hoạt động của Hội đồng Bộ trưởng, Tòa
án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân các cấp
(Điều 47); có quyền điều tra, xem xét tại chỗ;
có quyền yêu cầu các thành viên của Hội đồng bộ
trưởng và những nhân viên hữu quan khác trình
bày hoặc cung cấp tư liệu về những vấn đề cần
thiết có liên quan đến nhiệm vụ của Uỷ ban (Điều
50); có quyền chất vấn Hội đồng bộ trưởng và các
thành viên của Hội đồng bộ trưởng, Chánh án Toà
án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao (Điều 53); có quyền đề nghị đưa
một dự án luật, dự án pháp lệnh hay một vấn đề
quan trọng ra trưng cầu ý kiến nhân dân (Điều
54).
- Uỷ ban pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá IX và
khóa X: Trong các nhiệm kỳ này, nhiệm vụ, quyền
hạn của Uỷ ban pháp luật được quy định cụ thể
trong Luật tổ chức Quốc hội năm 1992. Theo đó,
Uỷ ban pháp luật có nhiệm vụ thẩm tra dự án
luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh về tổ
chức bộ máy nhà nước, về hình sự, dân sự, hành
chính, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và
các dự án khác được giao; tham gia thẩm tra các
dự án do các cơ quan khác của Quốc hội thẩm tra
nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính
thống nhất của hệ thống pháp luật; thẩm tra đề
án thành lập, bãi bỏ các Bộ và cơ quan ngang Bộ,
nhập, chia, thành lập mới, điều chỉnh địa giới
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giám sát
việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật của
Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thuộc các
lĩnh vực Uỷ ban phụ trách; giám sát việc ban
hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và
Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giám sát hoạt
động của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm
sát nhân dân tối cao; kiến
nghị các biện pháp cần thiết nhằm hoàn chỉnh hệ
thống pháp luật. (Điều 23); có quyền yêu
cầu các thành viên Chính phủ, Chánh án Toà án
nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao và những viên chức nhà nước hữu quan
cung cấp tài liệu hoặc đến trình bày những vấn
đề mà Uỷ ban xem xét, thẩm tra (Điều 31); có
quyền cử các thành viên của Uỷ ban đến cơ quan,
tổ chức hữu quan để điều tra, xem xét (Điều 32);
có quyền kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ và
các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà
án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương về những vấn đề
thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban (Điều 33);
ngoài ra, Uỷ ban còn có trách nhiệm xử lý các
đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân gửi tới
Uỷ ban và thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự
phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
- Uỷ ban pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI:
Trong nhiệm kỳ này, nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ
ban pháp luật được quy định cụ thể trong Luật tổ
chức Quốc hội năm 2001. Theo đó, Uỷ ban pháp
luật có nhiệm vụ thẩm tra dự án luật, dự án pháp
lệnh thuộc lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước, về
hình sự, dân sự, hành chính và các dự án khác
được giao; thẩm tra dự kiến về chương trình xây
dựng luật, pháp lệnh, đề nghị xây dựng luật,
pháp lệnh và kiến nghị về luật, pháp lệnh; chủ
trì thẩm tra đề án về thành lập, bãi bỏ các bộ,
cơ quan ngang bộ, thành lập mới, nhập, chia,
điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương; thẩm tra các báo cáo của Chính phủ
về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân, về công tác phòng ngừa và chống vi phạm
pháp luật và tội phạm, công tác thi hành án, các
báo cáo công tác của Chánh án Toà án nhân dân
tối cao, của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính
thống nhất của hệ thống pháp luật đối với các dự
án luật, pháp lệnh trước khi trình thông qua;
giám sát việc thực hiện luật, pháp lệnh, nghị
quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội
thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách; giám sát hoạt
động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ
thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách; giám sát hoạt
động của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao; giám sát hoạt động điều tra,
thi hành án; giám sát việc ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Toà
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương
hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ
quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội
thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách; kiến nghị các
vấn đề vµ các biện pháp cần thiết nhằm hoàn
thiện bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật (Điều
27); tham gia thẩm tra báo cáo của Chính
phủ về kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà
nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương,
tổng quyết toán ngân sách nhà nước (khoản 1 Điều
34); giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước
thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách (khoản 3 Điều
34); tiếp công dân, tiếp nhận, nghiên cứu và xử
lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; giám
sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách (Điều 35);
thực hiện quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế
(Điều 36); có quyền yêu cầu thành viên Chính
phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và những
viên chức nhà nước hữu quan cung cấp tài liệu
hoặc đến trình bày những vấn đề mà Uỷ ban xem
xét thẩm tra (Điều 38); có quyền cử thành viên
của mình đến cơ quan, tổ chức hữu quan để xem
xét, xác minh (Điều 39); có quyền kiến nghị với
Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của
Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền
hạn của Uỷ ban (Điều 40); có quyền yêu cầu cá
nhân, cơ quan hữu quan xem xét và theo thẩm
quyền đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi
bỏ những văn bản trái pháp luật, chấm dứt hành
vi vi phạm, xử lý người vi phạm (Điều 41). Ngoài
ra, theo quy định tại Điều 45a và Điều 45b của
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban
hành văn bản quy phạm pháp luật thì Uỷ ban pháp
luật còn có nhiệm vụ giúp Uỷ ban thường vụ Quốc
hội chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan
chỉnh lý các dự thảo luật, dự thảo pháp lệnh do
Uỷ ban chủ trì thẩm tra và tham gia chỉnh lý các
dự thảo luật, pháp lệnh do Hội đồng dân tộc và
các Uỷ ban khác chủ trì thẩm tra sau khi đã được
Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến.
Như vậy, có thể nhận thấy nhiệm vụ, quyền hạn
của Uỷ ban pháp luật trong các nhiệm kỳ này thể
hiện ở những mặt chính là xây dựng pháp luật,
giám sát, điều chỉnh địa giới hành chính và tổ
chức bộ máy nhà nước. Một điểm đáng chú ý là
theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội và Hội
đồng nhà nước năm 1981 và các Luật tổ chức Quốc
hội năm 1992 và 2001 thì bên cạnh Uỷ ban pháp
luật, Quốc hội còn thành lập Hội đồng dân tộc và
các Uỷ ban thường trực khác; các cơ quan này
cũng có nhiệm vụ thẩm tra các dự án luật trong
lĩnh vực mà mình phụ trách. Do đó, kể từ Quốc
hội nhiệm kỳ khoá VII (theo Luật tổ chức Quốc
hội và Hội đồng nhà nước năm 1981) nhiệm vụ,
quyền hạn của Uỷ ban dự án pháp luật cũng có sự
thay đổi; từ chỗ Uỷ ban dự án pháp luật có nhiệm
vụ thẩm tra tất cả các dự án luật, pháp lệnh và
các dự án khác về pháp luật thì nay công việc
này được phan công cho Hội đồng dân tộc và các
Uỷ ban khác của Quốc hội cùng đảm nhiệm; Uỷ ban
pháp luật chỉ thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh
và các dự án khác thuộc phạm vi, lĩnh vực mà
mình phụ trách. Một thay đổi khác về nhiệm vụ,
quyền hạn của Uỷ ban pháp luật trong giai đoạn
này là trước khi ban hành Luật tổ chức Quốc hội
năm 2001 thì Uỷ ban pháp luật có nhiệm vụ giám
sát việc ban hành đối với tất cả văn bản quy
phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát
nhân dân tối cao; nhưng theo quy định mới của
Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 thì công tác giám
sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật này
cũng được phân công cho Hội đồng dân tộc và các
Uỷ ban khác của Quốc hội, Uỷ ban pháp luật chỉ
đảm nhận trách nhiệm giám sát việc ban hành văn
bản quy phạm pháp luật trong phạm vi lĩnh vực mà
Uỷ ban phụ trách. Một điều đáng lưu ý là, từ
nhiệm kỳ Quốc hội kháo IX, Uỷ ban pháp luật được
giao nhiệm vụ tham gia thẩm tra các dự án luật,
pháp lệnh do Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của
Quốc hội thẩm tra nhằm bảo đảm tính hợp hiến,
hợp pháp và tính thống nhất của hệ thồng pháp
luật.
Bên cạnh những thay đổi lớn như đã nêu trên thì
nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban pháp luật qua các
nhiệm kỳ này ngày càng được cụ thể hoá, chi tiết
hơn. Những quy định đó đã giúp cho Uỷ ban pháp
luật hoạt động thuận lợi hơn và đạt được những
kết quả trên các mặt công tác như sau:
- Về hoạt động xây dựng pháp luật, trong các
khoá Quốc hội này, Uỷ ban pháp luật đã chủ trì
thẩm tra 91 dự án luật, 83 dự án pháp lệnh và
hàng chục dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Uỷ
ban thường vụ Quốc hội; trong số đó có những dự
án lớn có phạm vi điều chỉnh rộng như Bộ luật
hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự; Bộ luật dân
sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật khiếu nại, tố
cáo, Luật phòng, chống tham nhũng, Pháp lệnh xử
lý vi phạm hành chính; Uỷ ban pháp luật cũng đã
tham gia với Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của
Quốc hội trong việc thẩm tra các dự án luật,
pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do các cơ quan này
chủ trì thẩm tra. Ngoài ra, Uỷ ban pháp luật còn
tham gia với các cơ quan hữu quan trong việc
chỉnh lý và hoàn thiện dự thảo luật, pháp lệnh,
nghị quyết trước và sau khi Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội thông qua. Bên cạnh đó, từ
nhiệm kỳ Quốc hội khoá X đến nay, vào đầu mỗi
nhiệm kỳ Quốc hội, Uỷ ban pháp luật đều thẩm tra
dự kiến của Chính phủ và các cơ quan, tổ chức
hữu quan về Chương trình xây dựng luật, pháp
lệnh cả nhiệm kỳ Quốc hội và hàng năm.
- Về hoạt động giám sát, hàng năm Uỷ ban pháp
luật đều tiến hành thẩm tra báo cáo công tác của
Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong những năm
gần đây, Uỷ ban pháp luật thẩm tra báo cáo của
Chính phủ về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
của công dân về công tác phòng ngừa và chống vi
phạm pháp luật và tội phạm; công tác thi hành
án; xử lý hàng vạn đơn thư khiếu nại, tố cáo của
công dân, qua đó phát hiện một số vụ việc các cơ
quan nhà nước giải quyết không đúng pháp luật,
xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;
tổ chức nhiều đoàn giám sát về tình hình thi
hành pháp luật của các cơ quan tư pháp và các cơ
quan hữu quan ở trung ương và địa phương, giám
sát việc giải quyết một số vụ án phức tạp có
khiếu nại kéo dài, gay gắt; bước đầu triển khai
thực hiện giám sát việc ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của các cơ quan hữu quan.
- Về điều chỉnh địa giới hành chính, Uỷ ban pháp
luật đã tiến hành thẩm tra các đề án về điều
chính địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương và đều có báo cáo thẩm tra
trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội. Qua
đó góp phần bảo đảm tính ổn định và hợp lý về
địa giới hành chính ở những địa phương có sự
điều chỉnh, tạo điều kiện cho việc phát triển
kinh tế - xã hội ở các địa phương này.
- Về tổ chức bộ máy nhà nước, theo sự chỉ đạo và
phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Uỷ ban
pháp luật đã tiến hành thẩm tra đề án thành lập,
bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ để trình Quốc
hội xem xét thông qua; đồng thời, Uỷ ban cũng đã
thẩm tra các Tờ trình của Toà án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về biên chế
của hai ngành kiểm sát và toà án, về việc bổ
nhiệm Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thành
viên Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối
cao v.v…
III. Một số kinh nghiệm
1. Luôn tuân thủ và bám sát đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
Ở nước ta, Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước
và xã hội. Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, một
trong nhưng nhiệm vụ quan trọng hành đầu là phải
thể chế hoá đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng thành pháp luật. Chính vì vậy, trong
hoạt động của mình nhất là trong hoạt động thẩm
tra các dự án luật pháp lệnh, nghị quyết của
Quốc hội, Uỷ ban pháp luật luôn tuân thủ và bám
sát quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng thể
hiện trong các nghị quyết của Đảng và coi đây là
một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong hoạt động
của Ủy ban.
2. Hợp tác và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan
Nhằm bảo đảm chất lượng cũng như tiến độ của
công việc, trong hoạt động của mình, ngoài sự nỗ
lực của từng thành viên và tập thể Ủy ban thì
việc duy trì sự hợp tác và phối hợp chặt chẽ với
các cơ quan hữu quan được đặt ra như một yêu cầu
quan trọng và không thể thiếu. Trong hoạt động
thẩm tra, yêu cầu này được thể hiện ở chỗ ngoài
việc, cử thành viên Uỷ ban hoặc chuyên viên tham
gia ngay từ đầu vào quá trình soạn thảo các dự
án đó, nghe các thành viên hoặc các chuyên viên
đó báo cáo về nội dung và tiến độ triển khai các
dự án, thì giữa Uỷ ban pháp luật với các cơ
quan chủ trì soạn thảo các dự án cũng thường
xuyên có sự trao đổi thông tin để kịp thời nắm
bắt được những thay đổi thuộc nội dung dự án,
góp phần tích cực cho việc thẩm tra này của Uỷ
ban cũng như thúc đẩy tiến độ soạn thảo dự án.
Đối với các dự án do các cơ quan khác thẩm tra,
với trách nhiệm là cơ quan tham gia thẩm tra, Uỷ
ban pháp luật thường xuyên cử thành viên của Uỷ
ban hoặc chuyên viên tham gia và góp ý kiến với
cơ quan soạn thảo cũng như cơ quan chủ trì thẩm
tra nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính
thống nhất và hoàn thiện về mặt kỹ thuật lập
pháp của văn bản mới được ban hành. Trong hoạt
động giám sát, yêu cầu nói trên được thực hiện
trên nguyên tắc vô tư, khách quan, trung thực và
thắng thắn trong việc đánh giá, kết luận về
những nội dung giám sát, về những mặt làm được,
những mặt còn hạn chế của đối tượng bị giám sát.
3. Kết hợp nguyên tắc làm việc theo chế độ tập thể với việc phân công
thành viên phụ trách chuyên môn theo tõng lĩnh
vực trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ
ban
Là một trong số các Uỷ ban của Quốc hội, cũng
như các Uỷ ban khác, Uỷ ban pháp luật được tổ
chức và hoạt đéng theo nguyên tắc tập trung dân
chủ, làm việc theo chế đé tập thể và quyết định
theo đa số. Nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động
của mình, Uỷ ban đã kết hợp giữa nguyên tắc làm
việc theo chế độ tập thể với trách nhiệm cá
nhân. Theo đó, thực hiện việc phân công các Phó
Chủ nhiệm Uỷ ban cïng mét sè ủy viên thường trực
của Ủy ban phụ trách từng lĩnh vực cụ thể thuộc
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban. Đồng
thời, Thường trực Uỷ ban cũng tổ chức cho Vụ
giúp việc cơ cấu thành các nhóm chuyên môn tương
ứng để tham mưu, giúp việc cho Uỷ ban pháp luật
ban trong từng lĩnh vực cụ thể. Với việc phân
công như vậy đã tạo điều kiện cho thành viên Uỷ
ban chuyên sâu hơn trong một lĩnh vực cụ thể để
từ đó tham mưu cho Uỷ ban xem xét, thẩm tra các
dự án có chất lượng
4. Luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ, thường xuyên giữa Thường trực Uỷ ban
với các thành viên Uỷ ban.
Là cơ quan hoạt động theo chế độ tập thể và hiệu
quả hoạt động của Uỷ ban được bảo đảm bằng hiệu
quả của các phiên họp Uỷ ban, hiệu quả hoạt động
của Thường trực Uỷ ban, hiệu quả hoạt động của
các thành viên Uỷ ban. Vì vậy, để nâng cao chất
lượng cũng như hiệu quả hoạt động, Uỷ ban pháp
luật luôn chú trọng bảo đảm tính tập thể trong
hoạt động của mình. Để thực hiện tốt điều này Ủy
ban luôn áp dụng các biện pháp nhằm phát huy,
thu hút sự đóng góp của các thành viên Uỷ ban,
tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm để họ có thể
tham gia đầy đủ các hoạt động của Uỷ ban, có cơ
chế tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa Thường trực Uỷ
ban với các thành viên của Uỷ ban để kịp thời
phản ánh đầy đủ các ý kiến của thành viên Uỷ ban
đối với các công việc cña Uỷ ban.
IV. Một số vấn đề đặt ra
Từ thực tiễn hoạt động của Uỷ ban pháp luật cho
thấy bên cạnh những kết quả đạt được thì hiệu
quả, chất lượng hoạt động của Uỷ ban vẫn còn có
những hạn chế. Đó là việc bảo đảm nguyên tắc làm
việc tập thể; việc thực hiện nhiệm vụ bảo đảm
tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của
hệ thống pháp luật đối với các dự án luật, pháp
lệnh trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ
Quốc hội thông qua; hoạt động giám sát nói chung
và việc giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hoạt
động điều tra, thi hành án nói riêng. Đây là
những vấn đề cần phải được tiếp tục nghiên cứu,
làm rõ và có những giải pháp để tạo những căn cứ
pháp lý giúp cho Uỷ ban có thể thực hiện tốt
nhiệm vụ của mình, cụ thể như sau:
- Thực tế cho thấy do khối lượng công việc của
Uỷ ban nhiều trong khi đó phần lớn thành viên Uỷ
ban hoạt động kiêm nhiệm nên trong nhiều trường
hợp hoạt động của Uỷ ban không bảo đảm được đúng
nguyên tắc làm việc tập thể và quyết định theo
đa số. Chẳng hạn như trong một số trường hợp cần
thiết phải thẩm tra ngay dự án luật, pháp lệnh
nhưng do không thể triệu tập phiên họp toàn thể
Uỷ ban được nên phải tổ chức cuộc họp Thường
trực Uỷ ban để tiến hành thẩm tra; hay như việc
tham gia với Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban khác
của Quốc hội thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh
do các cơ quan này chủ trì thẩm tra, trong hầu
hết các trường hợp Uỷ ban chỉ cử thành viên của
mình thậm chí là cán bộ, chuyên viên của bộ máy
giúp việc tham dự các phiên họp thẩm tra.
- Về hoạt động giám sát: bên cạnh nhiệm vụ giám
sát hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, giám sát văn bản quy
phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Ủy ban phụ trách,
trong những năm gần đây, Ủy ban pháp luật còn
được giao thêm nhiệm vụ thẩm tra các báo cáo của
Chính phủ về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo,
về công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật
và tội phạm, công tác thi hành án; xử lý đơn thư
khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực Ủy ban phụ
trách. Có thể thấy rằng, bên cạnh nhiệm vụ thẩm
tra, phối hợp thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự
thảo nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật, thì
việc hoàn thành khối lượng giám sát, với tổ chức
như Ủy ban hiện nay là quá tải và khó có thể làm
tốt được. Đó là chưa kể đến việc giám sát một số
vụ án cá biệt vừa qua đang còn những vấn đề mà
cả về cơ chế lẫn pháp luật chưa có lời giải đáp
thực sự rõ ràng. Chẳng hạn, đối với một vụ án
cho dù cả Uỷ ban pháp luật lẫn các cơ quan hữu
quan, thông qua hoạt động giám sát đều có thể
khẳng định oan hoặc sai nhưng hoặc là thời hạn
kháng nghị đã hết hoặc là đã được giải quyết ë
cấp xét xử cao nhất thì giải quyết bằng cách
nào? cơ chế nào? hoặc về một vụ án hoặc một vấn
đề cụ thể mà cơ quan giám sát cho là sai nhưng
cơ quan bị giám sát lại cho là đúng còn Ủy ban
thường vụ Quốc hội khi nghe báo cáo cũng không
có chính kiến rõ ràng thì sự việc sẽ tiếp tục
như thế nào?
- Về nhiệm vụ bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp,
tính thống nhất của hệ thống pháp luật: theo quy
định của Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 thì
nhiệm vụ bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính
thống nhất của hệ thống pháp luật đối với các dự
án luật, pháp lệnh trước khi trình Quốc hội, Uỷ
ban thường vụ Quốc hội thông qua được giao cho
Uỷ ban pháp luật. Để cụ thể hóa quy định này thì
tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Quy chế
hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của
Quốc hội năm 2004 đã quy định Uỷ ban pháp luật
thực hiện nhiệm vụ này bằng việc tham gia thẩm
tra các dự án luật, pháp lệnh do Hội đồng dân
tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội chủ trì thẩm
tra và tham gia việc chỉnh lý dự thảo văn bản.
Thực tế hoạt động cho thấy, cơ chế này là không
phù hợp và không tạo điều kiện để Uỷ ban pháp
luật thực hiện đầy đủ nhiệm vụ nêu trên. Hiện
nay việc chủ trì chỉnh lý các dự thảo luật, pháp
lệnh trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ
Quốc hội thông qua, nhất là chỉnh lý các dự án
luật đang có sự không thống nhất, phần nhiều vẫn
do Thường trực Uỷ ban chủ trì thẩm tra đảm
nhiệm, trong một số trường hợp thì do Ban công
tác lập pháp chủ trì, có sự tham gia của các cơ
quan hữu quan trong đó có Uỷ ban pháp luật. Đây
là một trong những vấn đề cần được làm rõ; nhất
là trong điều kiện sắp tới sẽ thành lập Uỷ ban
tư pháp để đảm nhiệm nhiệm vụ giám sát tư pháp
của Uỷ ban pháp luật hiện nay; đồng thời, bên
cạnh Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội
còn có các ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
trong đó có Ban công tác lập pháp.
|