Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

UỶ BAN PHÁP LUẬT CỦA QUỐC HỘI -

SÁU MƯƠI NĂM HOẠT ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN

(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển"

Hà Nội, 23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005) 

 

TS. Nguyễn Văn Thuận

Phó Chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật

 

Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một thời đại mới cho dân tộc Việt Nam. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở đầu cho kỷ nguyên độc lập, tự do và dân chủ của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, cử tri cả nước đã tham gia cuộc tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội, cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.

Uỷ ban pháp luật của Quốc hội, với những tên gọi và cách thức tổ chức khác nhau, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động của Quốc hội, là một trong những Uỷ ban được thành lập sớm nhất. Nếu tính cả các hình thức tổ chức ban đầu là những tiểu ban về các dự án luật của Quốc hội, tiểu ban pháp chế, tiểu ban luật pháp của Ban thường trực Quốc hội nhiệm kỳ Quốc hội khóa I, có thể khẳng định rằng: sáu mươi năm hoạt động và phát triển của Quốc hội Việt Nam cũng là chặng đường hình thành và phát triển của Uỷ ban pháp luật. Từ khi thành lập đến nay, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban pháp luật đã không ngừng được tăng cường và hoàn thiện; Uỷ ban pháp luật đã chủ trì thẩm tra hàng trăm dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết  của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, trong đó có các dự án lớn, phạm vi điều chỉnh rộng, như dự án Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự v.v. ; giám sát việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực tổ chức bộ máy Nhà nước, về hình sự, dân sự, hành chính; giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hoạt động điều tra, thi hành án.v.v…

Bằng hoạt động của mình, từ khi được thành lập cho tới nay Uỷ ban pháp luật của Quốc hội đã có những đóng góp quan trọng, tích cực vào hoạt động của Quốc hội trên các mặt công tác xây dựng pháp luật, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Nhân dịp kỷ niệm sáu mươi năm Quốc hội Việt Nam, xin được phản ánh một cách khái quát về tổ chức và hoạt động, nhiệm vụ cũng như những đóng góp của Uỷ ban pháp luật qua các nhiệm kỳ Quốc hội; đồng thời, cũng xin nêu ra một số  vấn đề cần được làm rõ nhằm góp phần củng cố, hoàn thiện cả về tổ chức cung nhu nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban pháp luật trong thời gian tới.

I. Tổ chức của Uỷ ban pháp luật qua các nhiệm kỳ Quốc hội

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá I, Quốc hội không tổ chức ra các Uỷ ban thường trực, mà mỗi khi Quốc hội xem xét, thông qua một dự án luật, sắc luật nào đó thì tại mỗi kỳ họp, Quốc hội thành lập Tiểu ban về dự án luật, sắc luật đó để nghiên cứu, tham mưu cho Quốc hội. Sau khi dự án luật, sắc luật được Quốc hội thông qua Tiểu ban tự giải tán. Mỗi Tiểu ban có Trưởng tiểu ban, Phó trưởng Tiểu ban và Thuyết trình viên của Tiểu ban; Trưởng tiểu ban có trách nhiệm điều hành hoạt động của Tiểu ban; Thuyết trình viên của Tiểu ban có trách nhiệm chuẩn bị báo cáo của Tiểu ban về các dự án luật, sắc luật và trình bày báo cáo của Tiểu ban ra trước phiên họp Quốc hội. Bên cạnh đó, do Ban thường trực Quốc hội cũng có những thẩm quyền nhất định trong hoạt động lập pháp như quyền biểu quyết các sắc luật do Chính phủ ban hành, nên Ban thường trực Quốc hội đã thành lập ra Tiểu ban pháp chế (sau kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I), sau này đổi tên thành Tiểu ban luật pháp để nghiên cứu tham mưu cho Ban thường trực Quốc hội trong việc thực hiện nhiệm vụ này. Tiểu ban của Ban thường trực Quốc hội là một cơ quan thường trực, hoạt động thường xuyên. Về tổ chức, Tiểu ban gồm có Trưởng Tiểu ban và một số thành viên.

Từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa II đến nhiệm kỳ Quốc hội khóa VI, Quốc hội đã tổ chức ra Uỷ ban dự án pháp luật là cơ quan hoạt động thường xuyên của Quốc hội. Uỷ ban dự án pháp luật trong các nhiệm kỳ này được tổ chức trên cơ sở Luật tổ chức Quốc hội năm 1960. Theo đó, Uỷ ban dự án pháp luật có Chủ nhiệm và các ủy viên, có thể có Phó Chủ nhiệm; Chủ nhiệm và các uỷ viên của Uỷ ban do Quốc hội bầu ra theo sự đề cử của Chủ tịch đoàn kỳ họp Quốc hội; Phó Chủ nhiệm Uỷ ban do Uỷ ban bầu ra trong số các uỷ viên của Uỷ ban (Điều 34).

Từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII, Uỷ ban dự án pháp luật được đổi tên thành Uỷ ban pháp luật, trong đó:

- Uỷ ban pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá VII và khoá VIII được tổ chức theo Luật tổ chức  Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981. Uỷ ban pháp luật gồm có Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm, thư ký và các uỷ viên; Chủ nhiệm và các thành viên khác của Uỷ ban do Quốc hội bầu theo danh sách do Chủ tịch Quốc hội và các trưởng đoàn đại biểu Quốc hội giới thiệu; Phó Chủ nhiệm và Thư ký Uỷ ban do Uỷ ban bầu ra trong số các uỷ viên của Uỷ ban (Điều 46).

- Uỷ ban pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá IX và khoá X được tổ chức theo Luật tổ chức Quốc hội năm 1992, Uỷ ban pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội XI được tổ chức theo Luật tổ chức Quốc hội năm 2001. Tuy trong các nhiệm kỳ này, Uỷ ban pháp luật được tổ chức dựa trên hai đạo luật kế tiếp nhau nhưng về cơ bản tổ chức của Uỷ ban pháp luật đều giống nhau. Theo đó, Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và các uỷ viên của Uỷ ban đều do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội theo danh sách đề cử chức vụ từng người do Chủ tịch Quốc hội giới thiệu (Điều 71 Luật tổ chức Quốc hội năm 1992, Điều 83 Luật tổ chức Quốc hội năm 2001). Tuy nhiên, cũng có điểm khác nhau ở chỗ Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 không quy định Uỷ ban có uỷ viên chuyên trách, nhưng đến Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 dó quy định Uỷ ban có uỷ viên chuyên trách và số Uỷ viên chuyên trách này do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định;

Như vậy, trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá I, ngoài Ban thường trực Quốc hội là cơ quan hoạt động thường xuyên, Quốc hội không thành lập thêm bất kỳ một Uỷ ban nào khác thuộc cơ cấu của Quốc hội. Để thực hiện nhiệm vụ xem xét thông qua các dự án luật, các sắc luật, Quốc hội thành lập Tiểu ban nghiên cứu về các dự án luật, sắc luật đó để tham mưu cho Quốc hội, Ban thường trực Quốc hội thành lập Tiểu ban luật pháp để giúp Ban thường trực Quốc hội. Các Tiểu ban của Quốc hội được tổ chức mang tính chất lâm thời, chỉ được thành lập và hoạt động trong kỳ họp Quốc hội và sau khi dự án luật, sắc luật được thông qua thì tự giải tán. Duy chỉ có Tiểu ban  luật pháp thuộc cơ cấu của Ban thường trực Quốc hội là hoạt động thường xuyên.

Sau khi có Hiến pháp năm 1959, lần đầu tiên một đạo luật riêng về tổ chức và hoạt động của Quốc hội được ban hành, đó là Luật tổ chức Quốc hội năm 1960. Theo đó, tổ chức của Quèc hội đã có sự thay đổi lớn, bên cạnh Uỷ ban thường vụ Quốc hội (thay cho Ban thường trực Quốc hội khoá I), Quốc hội đã thành lập các Uỷ ban thường trực thuộc cơ cấu của mình, trong đó có Uỷ ban dự án pháp luật và tên gọi này tồn tại trong suốt các nhiệm kỳ Quốc hội các khoá II, III, IV, V và VI. Việc ra đời Uỷ ban dự án pháp luật trong giai đoạn này xuất phát từ yêu cầu của hoạt động lập pháp của Quốc hội cũng như từ kết quả đạt được trong thực tiễn hoạt động của các Tiểu ban về xây dựng pháp luật trong các kỳ họp Quốc hội, cũng như Tiểu ban luật pháp của Ban thường trực Quốc hội trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá I. Vì vậy, có thể nói rằng các Tiểu ban này chính là tiền thân của Uỷ ban dự án pháp luật cũng như Uỷ ban pháp luật sau này.

Từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII, thông qua việc ban hành Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981, Quốc hội đã quyết định đổi tên Uỷ ban dự án pháp luật thành Uỷ ban pháp luật, tên gọi này tiếp tục được giữ nguyên trong Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 và Luật tổ chức Quốc hội năm 2001. Từ đó đến nay, cơ cấu tổ chức của Uỷ ban pháp luật ngày càng được quy định cụ thể và hoàn thiện hơn, cụ thể như sau:

- Về các chức danh của Uỷ ban, từ chỗ quy định Uỷ ban có thể có chức danh Phó Chủ nhiệm Uỷ ban (Luật tổ chức Quốc hội năm 1960) cho đến khi quy định đây là chức danh không thể thiếu của Uỷ ban (Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981, các Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 và năm 2001); từ chỗ không quy định có chức danh Thư ký Uỷ ban (Luật tổ chức Quốc hội năm 1960) cho đến khi quy định đây là một chức danh chính thức của Uỷ ban (Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981), sau đó do không phù hợp nên không tiếp tục duy trì chức danh này (các Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 và năm 2001); từ chỗ không quy định Uỷ ban không có uỷ viên chuyên trách (Luật tổ chức Quốc hội năm 1960, Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981, Luật tổ chức Quốc hội năm 1992) đến chỗ quy định Uỷ ban có uỷ viên chuyên trách (Luật tổ chức Quốc hội năm 2001);

- Về việc bầu các thành viên Uỷ ban, từ chỗ quy định việc Quốc hội bầu Chủ nhiệm và các uỷ viên của Uỷ ban theo sự đề cử của Chủ tịch đoàn kỳ họp Quốc hội (Luật tổ chức Quốc hội năm 1960) cho đến việc quy định Quốc hội bầu Chủ nhiệm và các uỷ viên của Uỷ ban theo danh sách do Chủ tịch Quốc hội và các trường đoàn đại biểu Quốc hội giới thiệu (Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981) và sau này quy định Quốc hội bầu Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm và các uỷ viên của Uỷ ban  theo danh sách đề cử chức vụ từng người do Chủ tịch Quốc hội giới thiệu (các Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 và năm 2001); từ chỗ quy định Phó Chủ nhiệm Uỷ ban do Uỷ ban tự bầu ra (Luật tổ chức Quốc hội năm 1960, Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981) cho đến việc quy định do Quốc hội bầu trực tiếp (các Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 và năm 2001);

- Từ chỗ không quy định có Thường trực Uỷ ban (Luật tổ chức Quốc hội năm 1960, Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981) cho đến việc quy định Chủ nhiệm Uỷ ban và các Phó Chủ nhiệm Uỷ ban hợp thành bộ phận Thường trực Uỷ ban (Quy chế hoạt động của các Uỷ ban của Quốc hội nam 1993), Chủ nhiệm Uỷ ban, các Phó Chủ nhiệm Uỷ ban và một số uỷ viên thường trực hợp thành bộ phận Thường trực Uỷ ban (Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội nam 2004).

- Từ chỗ hầu hết các thành viên Uỷ ban hoạt động kiêm nhiệm, trừ một số chức danh lãnh đạo của Uỷ ban (các nhiệm kỳ Quốc hội từ khoá II cho đến khoá X) cho đến sau này số thành viên hoạt động chuyên trách chiếm tới 30% tổng số thành viên của Uỷ ban (nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI có 11 thành viên hoạt động chuyên trách trên tổng số 34 thành viên của Uỷ ban).

II. Nhiệm vụ, quyền hạn và kết quả hoạt động của Uỷ ban dự án pháp luật qua các nhiệm kỳ Quốc hội

1. Nhiệm vụ, quyền hạn và kết quả hoạt động của các tiểu ban về xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá I (1946-1960)

Như trên đã trình bày, trong nhiệm kỳ khoá I, Quốc hội không thành lập Uỷ ban pháp luật mà tại mỗi kỳ họp khi xem xét thông qua các dự án luật, sắc luật thì Quốc hội thành lập Tiểu ban về dự án luật đó để nghiên cứu, tham mưu cho Quốc hội; Ban thường trực Quốc hội cũng thành lập tiểu ban về xây dựng pháp luật thuộc cơ cấu của mình để nghiên cứu tham mưu cho Ban thường trực Quốc hội trong việc biểu quyết thông qua các sắc luật do Chính phủ ban hành, đồng thời tiểu ban cũng có nhiệm vụ theo dõi, nghiên cứu các sắc lệnh, nghị định do Chính phủ ban hành để có những kiến nghị kịp thời với Ban thường trực Quốc hội nhằm bảo đảm cho nội dung của các văn bản này không trái với các đạo luật hiện hành.

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá I, các tiểu ban nghiên cứu về các dự án luật, sắc luật đã tham mưu cho Quốc hội xem xét thông qua 10 dự án luật và 5 sắc luật do Chính phủ ban hành; trong đó có các dự án luật lớn, với phạm vi điều chỉnh rộng như Luật lao động (thông qua tại kỳ họp thứ hai), Luật bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân (thông qua tại kỳ họp thứ sáu), Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật quy định chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (thông qua tại kỳ họp thứ 8) v.v... Các tiểu ban về xây dựng pháp luật của Ban thường vụ Quốc hội cũng đã nghiên cứu tham mưu cho Ban thường trực Quốc hội trong việc xem xét biểu quyết về các sắc luật do Chính phủ ban hành, trong đó có các sắc luật rất quan trọng như Sắc luật số 001-SLt ngày 19 tháng 4 năm 1957 cấm chỉ mọi hành động đầu cơ về kinh tế, Sắc luật số 002-SLt ngày 18 tháng 6 năm 1957 quy định những trường hợp phạm pháp quả tang và những trường hợp khẩn cấp nói ở điều 4 đạo luật về tự do thân thể, Sắc luật số 003-SLt ngày 18 tháng 6 năm 1957 quy định chế độ xuất bản, Sắc luật số 004-SLt ngày 20 tháng 7 năm 1957 quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban Hành chính các cấp v.v…; bên cạnh đó, các tiểu ban này cũng đã thường xuyên theo dõi giám sát việc ban hành các sắc lệnh, nghị định của Chính phủ để kịp thời kiến nghị với Ban thường trực Quốc hội nhằm bảo đảm cho nội dung các văn bản này phù hợp với hệ thống pháp luật của Nhà nước.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn và kết quả hoạt động của Uỷ ban dự án pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội các khoá II, III, IV, V và VI (1960-1981)

Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban dự án pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội các khoá II, III, IV, V và VI được quy định cụ thể trong Luật tổ chức Quốc hội năm 1960. Theo đó, Uỷ ban dự án pháp luật có nhiệm vụ thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh và những dự án khác về vấn đề pháp luật do Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao cho; căn cứ vào quyết định của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thảo ra dự án luật và dự án pháp lệnh; đề ra dự án và ý kiến về vấn đề pháp luật với Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội (Điều 35); có quyền trình dự án luật và các dự án khác ra trước Quốc hội (Điều 15); có quyền trình dự án pháp lệnh và các dự án khác ra trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội (Điều 28); có thể yêu cầu các thành viên của Hội đồng Chính phủ và những nhân viên hữu quan khác trình bày về những vấn đề cần thiết có liên quan đến nhiệm vụ của Uỷ ban (Điều 38).

Như vậy, có thể nhận thấy, nhiệm vụ, quyền hạn chính của Uỷ ban dự án pháp luật trong các nhiệm kỳ này là thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về vấn đề pháp luật và quyền trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác ra trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Theo Luật tổ chức Quốc hội năm 1960 thì Quốc hội chỉ thành lập 2 Uỷ ban duy nhất là Uỷ ban dự án pháp luật và Uỷ ban kế hoạch và ngân sách, khi cần thiết thì mới thành lập Uỷ ban khác (Điều 33). Trong giai đoạn này, Uỷ ban kế hoạch và ngân sách không được giao nhiệm vụ thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, cho nên trong thực tế thực tế tất cả các dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đều do Uỷ ban dự án pháp luật thẩm tra. Tổng cộng Uỷ ban dự án pháp luật đã thẩm tra 9 dự án luật và 26 dự án pháp lệnh. Bên cạnh đó, theo sự phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Uỷ ban dự án pháp luật đã chủ trì soạn thảo dự án Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định một số điểm về việc thi hành Hiến pháp năm 1980 (được Quốc hội thông qua tháng 12 năm 1980). Ngoài ra, U? ban d? ỏn phỏp luật cung dó thực hiện một số nhiệm vụ khác như: chuẩn bị văn bản của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà phúc đáp Lời kêu gọi của Quốc hội nước Cộng hoà dân chủ Đức; nghiên cứu giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc phê chuẩn Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự, gia đình và hình sự giữa nước ta và nước Cộng hoà dân chủ Đức v.v...

3. Nhiệm vụ, quyền hạn và kết quả hoạt động của Uỷ ban pháp luật từ nhiệm kỳ Quốc hội các khoá VII đến nay

Từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII, Uỷ ban dự án pháp luật được đổi tên thành Uỷ ban pháp luật cùng với việc phân công nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp. Có thể phân thành các giai đoạn như sau:

- Uỷ ban pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá VII và khóa VIII: Trong các nhiệm kỳ này, nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban pháp luật được quy định cụ thể trong Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981. Theo đó, Uỷ ban pháp luật có nhiệm vụ thẩm tra các báo cáo, dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác do Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước giao cho; trình dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác; nghiên cứu và kiến nghị về những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Uỷ ban; giúp Quốc hội và Hội đồng Nhà nước thực hiện quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của Hội đồng Bộ trưởng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân các cấp (Điều 47); có quyền điều tra, xem xét tại chỗ; có quyền yêu cầu các thành viên của Hội đồng bộ trưởng và những nhân viên hữu quan khác trình bày hoặc cung cấp tư liệu về những vấn đề cần thiết có liên quan đến nhiệm vụ của Uỷ ban (Điều 50); có quyền chất vấn Hội đồng bộ trưởng và các thành viên của Hội đồng bộ trưởng, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 53); có quyền đề nghị đưa một dự án luật, dự án pháp lệnh hay một vấn đề quan trọng ra trưng cầu ý kiến nhân dân (Điều 54).

- Uỷ ban pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá IX và khóa X: Trong các nhiệm kỳ này, nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban pháp luật được quy định cụ thể trong Luật tổ chức Quốc hội năm 1992. Theo đó, Uỷ ban pháp luật có nhiệm vụ thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh về tổ chức bộ máy nhà nước, về hình sự, dân sự, hành chính, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và các dự án khác được giao; tham gia thẩm tra các dự án do các cơ quan khác của Quốc hội thẩm tra nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật; thẩm tra đề án thành lập, bãi bỏ các Bộ và cơ quan ngang Bộ, nhập, chia, thành lập mới, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giám sát việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thuộc các lĩnh vực Uỷ ban phụ trách; giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giám sát hoạt động của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao; kiến nghị các biện pháp cần thiết nhằm hoàn chỉnh hệ thống pháp luật. (Điều 23); có quyền yêu cầu các thành viên Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và những viên chức nhà nước hữu quan cung cấp tài liệu hoặc đến trình bày những vấn đề mà Uỷ ban xem xét, thẩm tra (Điều 31); có quyền cử các thành viên của Uỷ ban đến cơ quan, tổ chức hữu quan để điều tra, xem xét (Điều 32); có quyền kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban (Điều 33); ngoài ra, Uỷ ban còn có trách nhiệm xử lý các đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân gửi tới Uỷ ban và thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

- Uỷ ban pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI: Trong nhiệm kỳ này, nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban pháp luật được quy định cụ thể trong Luật tổ chức Quốc hội năm 2001. Theo đó, Uỷ ban pháp luật có nhiệm vụ thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước, về hình sự, dân sự, hành chính và các dự án khác được giao; thẩm tra dự kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh và kiến nghị về luật, pháp lệnh; chủ trì thẩm tra đề án về thành lập, bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ, thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thẩm tra các báo cáo của Chính phủ về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, về công tác phòng ngừa và chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác thi hành án, các báo cáo công tác của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với các dự án luật, pháp lệnh trước khi trình thông qua; giám sát việc thực hiện luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách; giám sát hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách; giám sát hoạt động của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giám sát hoạt động điều tra, thi hành án; giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội thuộc lĩnh vực Uỷ  ban phụ trách; kiến nghị các vấn đề vµ các biện pháp cần thiết nhằm hoàn thiện bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật (Điều 27); tham gia thẩm tra báo cáo của Chính phủ về kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương, tổng quyết toán ngân sách nhà nước (khoản 1 Điều 34); giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách (khoản 3 Điều 34); tiếp công dân, tiếp nhận, nghiên cứu và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách (Điều 35); thực hiện quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế (Điều 36); có quyền yêu cầu thành viên Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và những viên chức nhà nước hữu quan cung cấp tài liệu hoặc đến trình bày những vấn đề mà Uỷ ban xem xét thẩm tra (Điều 38); có quyền cử thành viên của mình đến cơ quan, tổ chức hữu quan để xem xét, xác minh (Điều 39); có quyền kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban (Điều 40); có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan hữu quan xem xét và theo thẩm quyền đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ những văn bản trái pháp luật, chấm dứt hành vi vi phạm, xử lý người vi phạm (Điều 41). Ngoài ra, theo quy định tại Điều 45a và Điều 45b của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì Uỷ ban pháp luật còn có nhiệm vụ giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan chỉnh lý các dự thảo luật, dự thảo pháp lệnh do Uỷ ban chủ trì thẩm tra và tham gia chỉnh lý các dự thảo luật, pháp lệnh do Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác chủ trì thẩm tra sau khi đã được Quốc  hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến.

Như vậy, có thể nhận thấy nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban pháp luật trong các nhiệm kỳ này thể hiện ở những mặt chính là xây dựng pháp luật, giám sát, điều chỉnh địa giới hành chính và tổ chức bộ máy nhà nước. Một điểm đáng chú ý là theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981 và các Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 và 2001 thì bên cạnh Uỷ ban pháp luật, Quốc hội còn thành lập Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban thường trực khác; các cơ quan này cũng có nhiệm vụ thẩm tra các dự án luật trong lĩnh vực mà mình phụ trách. Do đó, kể từ Quốc hội nhiệm kỳ khoá VII (theo Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981) nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban dự án pháp luật cũng có sự thay đổi; từ chỗ Uỷ ban dự án pháp luật có nhiệm vụ thẩm tra tất cả các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về pháp luật thì nay công việc này được phan công cho Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội cùng đảm nhiệm; Uỷ ban pháp luật chỉ thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác thuộc phạm vi, lĩnh vực mà mình phụ trách. Một thay đổi khác về nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban pháp luật trong giai đoạn này là trước khi ban hành Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 thì Uỷ ban pháp luật có nhiệm vụ giám sát việc ban hành đối với tất cả văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao; nhưng theo quy định mới của Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 thì công tác giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật này cũng được phân công cho Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội, Uỷ ban pháp luật chỉ đảm nhận trách nhiệm giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi lĩnh vực mà Uỷ ban phụ trách. Một điều đáng lưu ý là, từ nhiệm kỳ Quốc hội kháo IX, Uỷ ban pháp luật được giao nhiệm vụ tham gia thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh do Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội thẩm tra nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thồng pháp luật.

Bên cạnh những thay đổi lớn như đã nêu trên thì nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban pháp luật qua các nhiệm kỳ này ngày càng được cụ thể hoá, chi tiết hơn. Những quy định đó đã giúp cho Uỷ ban pháp luật hoạt động thuận lợi hơn và đạt được những kết quả trên các mặt công tác như sau:

- Về hoạt động xây dựng pháp luật, trong các khoá Quốc hội này, Uỷ ban pháp luật đã chủ trì thẩm tra 91 dự án luật, 83 dự án pháp lệnh và hàng chục dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội; trong số đó có những dự án lớn có phạm vi điều chỉnh rộng như Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự; Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật khiếu nại, tố cáo, Luật phòng, chống tham nhũng, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính; Uỷ ban pháp luật cũng đã tham gia với Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội trong việc thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do các cơ quan này chủ trì thẩm tra. Ngoài ra, Uỷ ban pháp luật còn tham gia với các cơ quan hữu quan trong việc chỉnh lý và hoàn thiện dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết trước và sau khi Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua. Bên cạnh đó, từ nhiệm kỳ Quốc hội khoá X đến nay, vào đầu mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, Uỷ ban pháp luật đều thẩm tra dự kiến của Chính phủ và các cơ quan, tổ chức hữu quan về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cả nhiệm kỳ Quốc hội và hàng năm.

- Về hoạt động giám sát, hàng năm Uỷ ban pháp luật đều tiến hành thẩm tra báo cáo công tác của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong những năm gần đây, Uỷ ban pháp luật thẩm tra  báo cáo của Chính phủ về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân về công tác phòng ngừa và chống vi phạm pháp luật và tội phạm; công tác thi hành án; xử lý hàng vạn đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, qua đó phát hiện một số vụ việc các cơ quan nhà nước giải quyết không đúng pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; tổ chức nhiều đoàn giám sát về tình hình thi hành pháp luật của các cơ quan tư pháp và các cơ quan hữu quan ở trung ương và địa phương, giám sát việc giải quyết một số vụ án phức tạp có khiếu nại kéo dài, gay gắt; bước đầu triển khai thực hiện giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hữu quan.

- Về điều chỉnh địa giới hành chính, Uỷ ban pháp luật đã tiến hành thẩm tra các đề án về điều chính địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đều có báo cáo thẩm tra trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội. Qua đó góp phần bảo đảm tính ổn định và hợp lý về địa giới hành chính ở những địa phương có sự điều chỉnh, tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương này.

- Về tổ chức bộ máy nhà nước, theo sự chỉ đạo và phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Uỷ ban pháp luật đã tiến hành thẩm tra đề án thành lập, bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ để trình Quốc hội xem xét thông qua; đồng thời, Uỷ ban cũng đã thẩm tra các Tờ trình của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về biên chế của hai ngành kiểm sát và toà án, về việc bổ nhiệm Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thành viên Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao v.v…

III. Một số kinh nghiệm

1. Luôn tuân thủ và bám sát đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng

Ở nước ta, Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, một trong nhưng nhiệm vụ quan trọng hành đầu là phải thể chế hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành pháp luật. Chính vì vậy, trong hoạt động của mình nhất là trong hoạt động thẩm tra các dự án luật pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban pháp luật luôn tuân thủ và bám sát quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng thể hiện trong các nghị quyết của Đảng và coi đây là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong hoạt động của Ủy ban.

2. Hợp tác và  phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan

Nhằm bảo đảm chất lượng cũng như tiến độ của công việc, trong hoạt động của mình, ngoài sự nỗ lực của từng thành viên và tập thể Ủy ban thì việc duy trì sự hợp tác và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan được đặt ra như một yêu cầu quan trọng và không thể thiếu. Trong hoạt động thẩm tra, yêu cầu này được thể hiện ở chỗ ngoài việc, cử thành viên Uỷ ban hoặc chuyên viên tham gia ngay từ đầu vào quá trình soạn thảo các dự án đó, nghe các thành viên hoặc các chuyên viên đó báo cáo về nội dung và tiến độ triển khai các dự án, thì  giữa Uỷ ban pháp luật với các cơ quan chủ trì soạn thảo các dự án cũng thường xuyên có sự trao đổi thông tin để kịp thời nắm bắt được những thay đổi thuộc nội dung dự án, góp phần tích cực cho việc thẩm tra này của Uỷ ban cũng như thúc đẩy tiến độ soạn thảo dự án. Đối với các dự án do các cơ quan khác thẩm tra, với trách nhiệm là cơ quan tham gia thẩm tra, Uỷ ban pháp luật thường xuyên cử thành viên của Uỷ ban hoặc chuyên viên tham gia và góp ý kiến với cơ quan soạn thảo cũng như cơ quan chủ trì thẩm tra nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và hoàn thiện về mặt kỹ thuật lập pháp của văn bản mới được ban hành. Trong hoạt động giám sát, yêu cầu nói trên được thực hiện trên nguyên tắc vô tư, khách quan, trung thực và thắng thắn trong việc đánh giá, kết luận về những nội dung giám sát, về những mặt làm được, những mặt còn hạn chế của đối tượng bị giám sát.

3. Kết hợp nguyên tắc làm việc theo chế độ tập thể với việc phân công thành viên phụ trách chuyên môn theo tõng lĩnh vực trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban

Là một trong số các Uỷ ban của Quốc hội, cũng như các Uỷ ban khác, Uỷ ban pháp luật được tổ chức và hoạt đéng theo nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế đé tập thể và quyết định theo đa số. Nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của mình, Uỷ ban đã kết hợp giữa nguyên tắc làm việc theo chế độ tập thể với trách nhiệm cá nhân. Theo đó, thực hiện việc phân công các Phó Chủ nhiệm Uỷ ban cïng mét sè ủy viên thường trực của Ủy ban phụ trách từng lĩnh vực cụ thể thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban. Đồng thời, Thường trực Uỷ ban cũng tổ chức cho Vụ giúp việc cơ cấu thành các nhóm chuyên môn tương ứng để tham mưu, giúp việc cho Uỷ ban pháp luật ban trong từng lĩnh vực cụ thể. Với việc phân công như vậy đã tạo điều kiện cho thành viên Uỷ ban chuyên sâu hơn trong một lĩnh vực cụ thể để từ đó tham mưu cho Uỷ ban xem xét, thẩm tra các dự án có chất lượng

4. Luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ, thường xuyên giữa Thường trực Uỷ ban với các thành viên Uỷ ban.

Là cơ quan hoạt động theo chế độ tập thể và hiệu quả hoạt động của Uỷ ban được bảo đảm bằng hiệu quả của các phiên họp Uỷ ban, hiệu quả hoạt động của Thường trực Uỷ ban, hiệu quả hoạt động của các thành viên Uỷ ban. Vì vậy, để nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả hoạt động, Uỷ ban pháp luật luôn chú trọng bảo đảm tính tập thể trong hoạt động của mình. Để thực hiện tốt điều này Ủy ban luôn áp dụng các biện pháp nhằm phát huy, thu hút sự đóng góp của các thành viên Uỷ ban, tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm để họ có thể  tham gia đầy đủ các hoạt động của Uỷ ban, có cơ chế tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa Thường trực Uỷ ban với các thành viên của Uỷ ban để kịp thời phản ánh đầy đủ các ý kiến của thành viên Uỷ ban đối với các công việc cña Uỷ ban.

IV. Một số vấn đề đặt ra 

Từ thực tiễn hoạt động của Uỷ ban pháp luật cho thấy bên cạnh những kết quả đạt được thì hiệu quả, chất lượng hoạt động của Uỷ ban vẫn còn có những hạn chế. Đó là việc bảo đảm nguyên tắc làm việc tập thể; việc thực hiện nhiệm vụ bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với các dự án luật, pháp lệnh trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua; hoạt động giám sát nói chung và việc giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hoạt động điều tra, thi hành án nói riêng. Đây là những vấn đề cần phải được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ và có những giải pháp để tạo những căn cứ pháp lý giúp cho Uỷ ban có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, cụ thể như sau:

- Thực tế cho thấy do khối lượng công việc của Uỷ ban nhiều trong khi đó phần lớn thành viên Uỷ ban hoạt động kiêm nhiệm nên trong nhiều trường hợp hoạt động của Uỷ ban không bảo đảm được đúng nguyên tắc làm việc tập thể và quyết định theo đa số. Chẳng hạn như trong một số trường hợp cần thiết phải thẩm tra ngay dự án luật, pháp lệnh nhưng do không thể triệu tập phiên họp toàn thể Uỷ ban được nên phải tổ chức cuộc họp Thường trực Uỷ ban để tiến hành thẩm tra; hay như việc tham gia với Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban khác của Quốc hội thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh do các cơ quan này chủ trì thẩm tra, trong hầu hết các trường hợp Uỷ ban chỉ cử thành viên của mình thậm chí là cán bộ, chuyên viên của bộ máy giúp việc tham dự các phiên họp thẩm tra.

- Về hoạt động giám sát: bên cạnh nhiệm vụ giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Ủy ban phụ trách, trong những năm gần đây, Ủy ban pháp luật còn được giao thêm nhiệm vụ thẩm tra các báo cáo của Chính phủ về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, về công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác thi hành án; xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực Ủy ban phụ trách. Có thể thấy rằng, bên cạnh nhiệm vụ thẩm tra, phối hợp thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật, thì việc hoàn thành khối lượng giám sát, với tổ chức như Ủy ban hiện nay là quá tải và khó có thể làm tốt được. Đó là chưa kể đến việc giám sát một số vụ án cá biệt vừa qua đang còn những vấn đề mà cả về cơ chế lẫn pháp luật chưa có lời giải đáp thực sự rõ ràng. Chẳng hạn, đối với một vụ án cho dù cả Uỷ ban pháp luật lẫn các cơ quan hữu quan, thông qua hoạt động giám sát đều có thể khẳng định oan hoặc sai nhưng hoặc là thời hạn kháng nghị đã hết hoặc là đã được giải quyết ë cấp xét xử cao nhất thì giải quyết bằng cách nào? cơ chế nào? hoặc về một vụ án hoặc một vấn đề cụ thể mà cơ quan giám sát cho là sai nhưng cơ quan bị giám sát lại cho là đúng còn Ủy ban thường vụ Quốc hội khi nghe báo cáo cũng không có chính kiến rõ ràng thì sự việc sẽ tiếp tục như thế nào?

- Về nhiệm vụ bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật: theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 thì nhiệm vụ bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với các dự án luật, pháp lệnh trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua được giao cho Uỷ ban pháp luật. Để cụ thể hóa quy định này thì tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội năm 2004 đã quy định  Uỷ ban pháp luật thực hiện nhiệm vụ này bằng việc tham gia thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh do Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra và tham gia việc chỉnh lý dự thảo văn bản. Thực tế hoạt động cho thấy, cơ chế này là không phù hợp và không tạo điều kiện để Uỷ ban pháp luật thực hiện đầy đủ nhiệm vụ nêu trên. Hiện nay việc chủ trì chỉnh lý các dự thảo luật, pháp lệnh trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua, nhất là chỉnh lý các dự án luật đang có sự không thống nhất, phần nhiều vẫn do Thường trực Uỷ ban chủ trì thẩm tra đảm nhiệm, trong một số trường hợp thì do Ban công tác lập pháp chủ trì, có sự tham gia của các cơ quan hữu quan trong đó có Uỷ ban pháp luật. Đây là một trong những vấn đề cần được làm rõ; nhất là trong điều kiện sắp tới sẽ thành lập Uỷ ban tư pháp để đảm nhiệm nhiệm vụ giám sát tư pháp của Uỷ ban pháp luật hiện nay; đồng thời, bên cạnh Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội còn có các ban của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, trong đó có Ban công tác lập pháp.

  

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện