|
NHÌN LẠI HOẠT ĐỘNG LẬP HIẾN CỦA QUỐC HỘI 60 NĂM
QUA
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
Nguyễn Văn Yểu
Dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã làm cuộc cách
mạng tháng Tám năm 1945 thành công; từ đó, Nhà
nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, một Nhà nước
kiểu mới, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam
Á ra đời. Một trong những nhiệm vụ cấp bách của
chính quyền nhân dân đã được Chủ tịch Hồ Chí
Minh chỉ ra là: "Phải bầu ngay Quốc hội, càng
sớm càng tốt. Bên trong thì nhân dân tin tưởng
thêm vào chế độ của mình. Trước thế giới, Quốc
hội do dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý
không ai có thể phủ nhận được".
Trước yêu cầu của thực tiễn khách quan đó, cuộc
Tổng tuyển cử trong cả nước bầu ra Quốc hội khoá
đầu tiên của nước ta đã diễn ra vào ngày 6 tháng
1 năm 1946 và thu được kết quả hết sức tốt đẹp.
Sự kiện này đã trở thành một mốc son chói lọi
trong lịch sử của dân tộc ta. Qua 60 năm xây
dựng và trưởng thành Quốc hội Việt Nam đã phát
triển qua 11 khoá (khoá I (1946 - 1960), khoá II
(1960 - 1964), khoá III (1964 - 1971), khoá IV
(1971 - 1975), khoá V (1975 - 1976), khoá VI
(1976 - 1981), khoá VII (1981 - 1986); khoá VIII
(1986 - 1992); khoá IX (1992 - 1997); khoá X
(1992 - 2002) và khoá XI hiện nay), đã góp phần
to lớn vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Quốc hội cũng đã ngày càng khẳng định được
vị trí, vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất
với các chức năng lập hiến, lập pháp, quyết định
các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát
tối cao.
Trải qua 60 năm lịch sử phát triển, thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của mình, dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội
đã ban hành 4 bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ, đó
là Hiến pháp 1946 của chặng đường vừa kháng
chiến vừa kiến quốc, Hiến pháp 1959 với công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu
tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà,
Hiến pháp 1980 của thời kỳ đất nước thống nhất
đi lên chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp 1992 (đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số
51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc
hội khoá X, kỳ họp thứ 10) - đây là Hiến pháp
của thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới đất nước.
Qua lịch sử lập hiến đó, chúng ta có thể
nêu lên một số vấn đề về quy trình, thủ tục lập
hiến, một số đặc trưng cơ bản của nền lập hiến
Việt Nam phục vụ việc tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, nhằm mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.
I. Về quy trình và thủ tục lập hiến
Hiến pháp có vị trí đặc
biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật và
trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia. Nó
được coi là đạo luật cơ bản, đạo luật "gốc" của
Nhà nước vì nó xác lập những vấn đề cơ bản, hệ
trọng nhất của mỗi quốc gia, đó là: chế độ chính
trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an
nình, đối ngoại; tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Các chế định của Hiến pháp là cơ sở pháp lý cho
việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Do vậy, hoạt động lập hiến - một trong những
hoạt động chính trị pháp lý trọng đại nhất của
một quốc gia - phải tuân theo một trình tự, thủ
tục rất chặt chẽ. Theo đó, việc soạn thảo, thông
qua, công bố Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp và
trình tự, thủ tục giải thích Hiến pháp do Quốc
hội quy định.
Tuy nhiên, cho đến nay, Quốc hội chưa ban hành
một Luật hoặc Nghị quyết quy định cụ thể về
trình tự, thủ tục soạn thảo, thông qua, công bố
Hiến pháp cũng như sửa đổi, bổ sung Hiến pháp
nên việc thực hiện trong các lần sửa đổi Hiến
pháp đều dựa vào các quy định mang tính nguyên
tắc của Hiến pháp, có kế thừa và phát triển đổi
mới phù hợp với điều kiện cụ thể nhằm đề cao
dân chủ, đồng thời bảo đảm chặt chẽ về nguyên
tắc pháp lý. Qua thực tiễn tiến hành hoạt động
lập hiến trong 60 năm qua có thể thấy rằng quy
trình lập hiến gồm các thủ tục sau đây:
1. Chuẩn bị đề nghị và quyết định việc ban hành
Hiến pháp hoặc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp:
Qua thực tiễn ban hành
Hiến pháp hoặc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp cho
thấy việc đề nghị ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung
được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau, có
trường hợp do Chính phủ đề nghị (năm 1945 đề
nghị soạn thảo, ban hành Hiến pháp 1946);
có trường hợp do Cơ quan thường trực của Quốc
hội đề nghị (năm 1957 Ban thường trực Quốc hội
đề nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1946 để ban hành
Hiến pháp 1959
và năm 2001 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đề nghị
sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992);
có trường hợp do Chủ tịch Quốc hội đề nghị (năm
1989 đề nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để ban
hành Hiến pháp 1992).v.v.
Sau khi xem xét đề nghị về việc chuẩn bị ban
hành hoặc sửa đổi Hiến pháp, nếu Quốc hội tán
thành thì Quốc hội thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến
pháp với thành phần là những người đại diện các
cơ quan nhà nước như Quốc hội, Chủ tịch nước,
Chính phủ, các cơ quan tư pháp, các cơ quan của
Đảng, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội
khác, một số chuyên gia pháp lý có trình độ cao,
có kinh nghiệm trong hoạt động xây dựng pháp
luật,… Chủ tịch Uỷ ban dự thảo Hiến pháp có thể
là Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội đồng nhà nước,
Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch
Quốc hội. Có thể nói, với thành phần như vậy, Uỷ
ban dự thảo Hiến pháp thực sự là cơ quan đại
diện cho ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp
nhân dân, các dân tộc. Uỷ ban này có nhiệm vụ
soạn thảo dự thảo Hiến pháp hoặc dự thảo Nghị
quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp
và Tờ trình; nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đóng
góp của các vị đại biểu Quốc hội, của các ngành,
các cấp, của nhân dân để chỉnh lý dự thảo văn
bản trình Quốc hội xem xét, thông qua.
2. Chuẩn bị dự án (Tờ trình và dự thảo văn bản)
Đây là giai đoạn hết sức quan trọng của quy
trình lập hiến. Khác với quy trình xây dựng
luật, pháp lệnh, quy trình lập hiến không có
công đoạn thẩm tra, vì vậy, chất lượng của dự án
Hiến pháp tập trung chủ yếu vào giai đoạn này.
Việc soạn thảo dự thảo Hiến pháp được tiến hành
theo trình tự:
tổng kết thực
tiễn việc thi hành Hiến pháp;
nghiên cứu
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng;
khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội
thuộc phạm vi nội dung cần đề nghị sửa đổi, bổ
sung;
lập đề cương soạn thảo văn bản,
biên soạn dự thảo văn bản;
chuẩn bị Tờ
trình và tài liệu liên quan đến dự án sửa đổi
Hiến pháp.
3. Lấy ý
kiến đóng góp vào dự thảo Hiến pháp hoặc dự thảo
Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến
pháp:
Đây là công đoạn không thể
thiếu trong hoạt động lập hiến. Hoạt động này có
thể diễn ra tại tất cả các công đoạn của quy
trình lập hiến với nhiều hình thức khác nhau, cả
trực tiếp và gián tiếp nhưng tập trung nhất là
sau khi dự thảo được công bố để nhân dân, các
ngành, các cấp đóng góp ý kiến. Việc lấy ý kiến
của nhân dân, các ngành, các cấp thường được
tiến hành sau khi Quốc hội đã thảo luận, cho ý
kiến bước đầu vào dự thảo Hiến pháp hoặc dự thảo
Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến
pháp. Đây chính là
cơ chế phát
huy quyền làm chủ, trí tuệ của nhân dân và
tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào quá trình
quản lý nhà nước; biến đường lối, chủ trương
chính sách của Đảng, ý chí, nguyện vọng của nhân
dân thành các quy định của Hiến pháp. ý kiến
đóng góp của nhân dân phải được Uỷ ban dự thảo
Hiến pháp tổng hợp đầy đủ, trung thực, nghiên
cứu tiếp thu nghiêm túc để hoàn thiện dự thảo
văn bản, bảo đảm chất lượng cả về nội dung và
hình thức, thực sự là sản phẩm kết tinh trí tuệ
của toàn dân, trình Quốc hội xem xét.
4. Xem xét, thông qua dự thảo Hiến pháp hoặc dự
thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của
Hiến pháp
Khi tiến hành xem xét, thông qua dự thảo Hiến
pháp hoặc dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung
một số điều của Hiến pháp, Quốc hội thường vận
dụng các quy định của việc xem xét, thông qua
luật. Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có vị trí
đặc biệt quan trọng nên Quốc hội thường xem xét,
thông qua tại hai kỳ họp. Theo đó, tại kỳ họp
thứ nhất, Uỷ ban dự thảo Hiến pháp trình Quốc
hội về dự án và Quốc hội thảo luận, cho ý kiến
về những nội dung cơ bản và những vấn đề lớn còn
có ý kiến khác nhau của dự thảo. Trong thời gian
giữa hai kỳ họp, dự thảo Hiến pháp hoặc dự thảo
Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến
pháp được công bố để lấy ý kiến nhân dân; Uỷ ban
dự thảo Hiến pháp tổ chức việc nghiên cứu, tiếp
thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, của
nhân dân, các ngành, các cấp để chỉnh lý dự thảo
văn bản. Tại kỳ họp thứ hai, Uỷ ban dự thảo Hiến
pháp trình Quốc hội Báo cáo giải trình tiếp thu,
chỉnh lý; Quốc hội nghe đọc bản dự thảo đã được
tiếp thu, chỉnh lý và thảo luận về một số vấn đề
còn có ý kiến khác nhau; bản dự thảo văn bản
được chỉnh lý lần cuối trên cơ sở tiếp thu ý
kiến của các vị đại biểu Quốc hội sau đó được
trình Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua.
Hiến pháp mới hoặc Nghị quyết sửa đổi bổ, bổ
sung một số điều của Hiến pháp được thông qua
khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc
hội biểu quyết tán thành.
5. Công bố Hiến pháp hoặc Nghị quyết sửa đổi,
bổ sung một số điều của Hiến pháp
Đây là giai đoạn cuối cùng của quy trình lập hiến nhằm đưa nội dung Hiến pháp
đến toàn xã hội. Việc công bố Hiến pháp mới hoặc
Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến
pháp do Chủ tịch nước (hoặc Chủ tịch Hội đồng
Nhà nước) thực hiện. Riêng Hiến pháp 1946 được
Quốc hội thông qua trong điều kiện đất nước có
chiến tranh do vậy ngày 9 tháng 11 năm 1946 sau
khi thông qua Hiến pháp Quốc hội đã thông qua
Nghị quyết uỷ nhiệm Chính phủ và Ban thường trực
Quốc hội thi hành Hiến pháp.
II. Một số đặc trưng cơ bản của nền lập hiến Việt Nam
Các bản hiến pháp của nước ta được ra đời ở những hoàn
cảnh lịch sử khác nhau; có nhiệm vụ phục vụ cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ
tổ quốc; nội dụng của Hiến pháp phải phù hợp với
điều kiện cụ thể của đất nước trong từng giai
đoạn cách mạng, đồng thời cũng đã thể hiện rõ
tính kế thừa trong sự phát triển và yêu cầu phát
triển trong sự kế thừa,
tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của văn minh nhân loại phù hợp với
thực tiễn và truyền thống dân tộc Việt Nam. Từ
đó các nội dung đặc trưng của nền lập hiến Việt
Nam ngày càng được định hình, có thể nêu lên một
số đặc trưng cơ bản sau đây:
1. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính giai cấp, tính
nhân dân và tính dân tộc phù hợp với tình hình,
nhiệm vụ đấu tranh cách mạng của từng giai đoạn
Đề cập tới vấn đề cơ bản của Hiến pháp, trong
Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi (1959),
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tính chất Nhà
nước là vấn đề cơ bản của Hiến pháp. Đó là vấn
đề nội dung giai cấp của chính quyền. Chính
quyền về tay ai và phục vụ quyền lợi của ai?
Điều đó quyết định toàn bộ nội dung của Hiến
pháp”.
Tư tưởng chỉ đạo trên đây quán xuyến các hiến
pháp Việt Nam nên dù ra đời ở những thời điểm,
hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhưng các bản hiến
pháp đều giữ vững được tính nhất quán của định
hướng chính trị, đồng thời bảo đảm sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa tính giai cấp, tính nhân dân
và tính dân tộc trong từng bản hiến pháp.
Trong điều kiện cụ thể của
cách mạng Việt Nam khi nhiệm vụ giải phóng giai
cấp và dân tộc, gắn bó mật thiết với nhau, nhất
là trong năm đầu của chính quyền cách mạng,
nhiệm vụ “bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn
toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân
chủ”
nổi lên hàng đầu, khi “đoàn kết toàn dân không
phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn
giáo” trở thành nguyên tắc lập hiến thì tính
chất nhà nước đã được thể hiện đậm nét trong
Hiến pháp 1946: “Nước Việt Nam là một nước dân
chủ cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là
của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt
nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn
giáo” (Điều 1 Hiến pháp 1946). Lời nói đầu của
Hiến pháp này cũng khẳng định Chính thể Việt Nam
dân chủ cộng hoà là “một chính thể nhân dân rộng
rãi”. Như vậy,
không những khái niệm giai cấp và dân tộc mà cả
nhân dân đều hoà quyện vào nhau trong Hiến pháp
1946.
ở các bản Hiến pháp tiếp theo (Hiến pháp 1959 và
Hiến pháp 1980), cách thể hiện tuy có những điểm
khác với Hiến pháp 1946 nhưng vẫn có sự kết hợp
nhuần nhuyễn tính giai cấp, tính nhân dân, tính
dân tộc và đều nhất quán ở sự khẳng định chính
quyền nhà nước ta là chính quyền của nhân dân.
Trên cơ sở tổng kết quá trình xây dựng, kiện
toàn nhà nước ta trong mấy chục năm qua, quán
triệt sâu sắc, toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh và
quan điểm, đường lối của Đảng ta về tính chất
nhà nước, Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10
ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X)
đã xác định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân...” (Điều
2 Hiến pháp 1992).
2. Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân.
Đây là nguyên tắc cơ bản, trước hết luôn được
khẳng định trong chỉ đạo việc xây dựng nhà nước.
Hiến pháp 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước
ta đã xác định: “Nước Việt Nam là một nước
dân chủ. Tất cả quyền bính trong nước là của
toàn thể nhân dân Việt Nam” (Điều 1). Nguyên
tắc đó được tiếp tục khẳng định trong các Hiến
pháp tiếp theo và đến Hiến pháp 1992 được thể
hiện toàn diện hơn, sâu sắc hơn: “Tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng
là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2).
Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân không chỉ
là nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong các
Hiến pháp nước ta mà còn gắn với việc thiết lập
cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lực thực sự của
nhân dân, là tư tưởng chỉ đạo bao quát toàn bộ
nội dung của các Hiến pháp, được thể hiện cụ thể
trong các quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa
phương; của các cơ quan lập pháp, hành pháp và
tư pháp.
3. Bảo đảm
các quyền tự do, dân chủ của công dân
Nhà nước ta luôn xác định mục tiêu cao nhất của
mình là vì con người, coi con người là trung
tâm, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nhà nước bảo
đảm cho công dân sự an toàn pháp lý, được hưởng
các quyền và có các nghĩa vụ cơ bản; có biện
pháp cần thiết để bảo vệ cho họ khi các quyền cơ
bản đó bị xâm phạm. Đây là một đặc trưng mà kể
từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
cho đến nay Nhà nước ta luôn luôn đặc biệt quan
tâm. Trong các bản Hiến pháp, nội dung về quyền
tự do, dân chủ của công dân đã được quy định đầy
đủ theo hướng kế thừa và ngày càng mở rộng thành
một chế định cơ bản, bao quát tất cả các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội phù hợp
với điều kiện phát triển của đất nước trong mỗi
thời kỳ lịch sử, việc giữ gìn và phát huy truyền
thống dân tộc. Điều dễ nhận thấy là các quy định
cụ thể về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
trong Hiến pháp được tăng lên rõ rệt. Nếu như
Hiến pháp 1946 ghi nhận chung các quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân tại 18 điều (từ Điều 4
đến Điều 21), thì ở các Hiến pháp sau các quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định
đầy đủ, chi tiết hơn thành 21 điều (từ Điều 22
đến Điều 42 Hiến pháp 1959), 29 điều (từ Điều 53
đến Điều 81 Hiến pháp 1980) và 34 điều (từ Điều
49 đến Điều 82 Hiến pháp 1992). Hiến pháp 1992
đã ghi nhận đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân như quyền tham gia quản lý nhà nước
và xã hội, quyền tự do kinh doanh theo quy định
của pháp luật v.v; xác định quyền công dân đi
đôi với nghĩa vụ của công dân và lần đầu tiên
khái niệm quyền con người được trang trọng ghi
nhận như một tuyên ngôn "ở nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam các quyền con người về chính
trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn
trọng" (Điều 50).
Lúc sinh thời, Bác Hồ đã
viết: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn
tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn
độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào
ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học
hành”.
Như vậy, nguyện vọng thiết tha và mục tiêu cao
cả của Đảng ta và Hồ Chủ Tịch về giá trị con
người đã được chú trọng đề cao trong thực tế,
được quy định trong Hiến pháp, pháp luật và Nhà
nước luôn quan tâm phấn đấu thực hiện.
4. Xác định quyền lực nhà nước là thống nhất có
sự phân công rành mạch và sự phối hợp giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp
Đây vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước ta, vừa là quan điểm chỉ đạo quá
trình tiếp tục thực hiện việc cải cách bộ máy
nhà nước.
“Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp”.
Đây là hai mặt của vấn đề tổ chức, xây dựng nhà
nước. Quán triệt quan điểm quyền lực nhà nước
thống nhất sẽ tác động trực tiếp đến việc tăng
cường trách nhiệm và sự phối hợp của các cơ cấu
thực hiện quyền lực của bộ máy nhà nước, bảo đảm
cho bộ máy nhà nước vận hành đồng bộ, thống nhất
và có hiệu lực, hiệu quả. Mặt khác, tăng cường
việc phân công, phân nhiệm rành mạch, hợp lý, rõ
ràng và chú trọng phối hợp chặt chẽ trên tinh
thần “vì dân, do dân” giữa các cơ quan trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp chính là điều kiện để phát huy tốt hiệu
lực của quyền lực nhà nước thống nhất.
Quan điểm nêu trên trong việc xây dựng nhà nước
luôn luôn được thể hiễn rõ trong bốn bản Hiến
pháp của nước ta. Quốc hội luôn được xác định là
cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất có
quyền lập hiến và lập pháp, quyết định những vấn
đề cơ bản, quan trọng của đất nước và thực hiện
quyền giám sát tối cao. Chính phủ là cơ quan
chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà
nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Chính phủ thống nhất quản lý việc thực
hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà
nước.
Trong việc tổ chức và phân công quyền lực nhà
nước vị trí, vai trò của cơ quan tư pháp nước ta
mà trung tâm là hệ thống các Toà án luôn được đề
cao. Các nguyên tắc: “khi xét xử, Thẩm phán và
Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”;
“Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định
theo đa số”; “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo
đảm” luôn phải được tôn trọng trong hoạt động tư
pháp.
Chính quyền địa phương luôn được chăm lo củng cố
theo quy định của các Hiến pháp với việc hình
thành Hội đồng nhân dân do nhân dân địa phương
trực tiếp bầu ra và việc Hội đồng nhân dân bầu
các thành viên của Uỷ ban nhân dân (hoặc Uỷ ban
hành chính).
Việc phân công và phối hợp trong thực hiện quyền
lực nhà nước ở Việt Nam mấy chục năm qua đã tạo
điều kiện để bộ máy nhà nước vận hành thông
suốt; đồng thời bảo đảm tăng cường ngày càng có
chất lượng hơn cơ chế kiểm tra và tự kiểm tra,
thanh tra của hệ thống cơ quan hành chính nhà
nước, cơ chế kiểm sát đối với các hoạt động tư
pháp của Viện kiểm sát, cơ chế giám sát của Quốc
hội, Hội đồng nhân dân các cấp đối với các cơ
quan nhà nước và cơ chế giám sát thường xuyên
của nhân dân
đối với hoạt động của bộ máy nhà nước và cán bộ,
công chức nhà nước.
5. Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối
thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Hệ thống pháp luật phải thể hiện đầy đủ, đúng
đắn ý chí của nhân dân, phù hợp với hiện thực
khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Pháp luật
phải được chính Nhà nước, cán bộ, công chức
trong các cơ quan nhà nước và mọi người, mọi tổ
chức trong xã hội tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp
hành. Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nhà nước
ta đã xác định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng
pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã
hội chủ nghĩa. Các cơ quan nhà nước, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân
dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành
Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và
chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và
pháp luật” (Điều 12 Hiến pháp 1992). Nghĩa
vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật không loại trừ
đối với bất cứ ai. Ngay Đảng Cộng sản Việt Nam,
được toàn thể nhân dân Việt Nam thừa nhận vị
trí, vai trò lãnh đạo đất nước và Hiến pháp xác
định: Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và
xã hội thì cũng tại Điều 4 của Hiến pháp
1992 khẳng định: mọi tổ chức của Đảng hoạt
động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
6. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam
Trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc
và xây dựng đất nước của nhân dân ta từ thời kỳ
đầu của cách mạng Việt Nam cho đến nay đã có một
thời kỳ ở nước ta tồn tại nhiều Đảng chính trị
hoạt động trong đời sống xã hội; tuy nhiên, qua
thử thách của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
mấy chục năm vô cùng ác liệt và công cuộc xây
dựng và bảo vệ đất nước đầy gay go quyết liệt,
nhân dân Việt Nam đã thừa nhận vị trí, vai trò
lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối
với Nhà nước và xã hội. Sở dĩ nhân dân ta thừa
nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam bởi
vì chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới là tổ chức
thực sự mang lại lợi ích cho dân tộc, cho nhân
dân; mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta không có gì
khác ngoài việc chăm lo cho hạnh phúc của nhân
dân, phấn đấu làm cho dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh; mọi người có
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có đầy đủ
điều kiện phát triển toàn diện; đưa đất nước
phát triển. Tuy chúng ta có một Đảng lãnh đạo
Nhà nước và xã hội, nhưng chúng ta có Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của
Mặt trận hoạt động tích cực để đoàn kết rộng rãi
và đại diện cho tiếng nói của tất cả các giai
cấp, các tầng lớp trong xã hội.
Sự lãnh đạo của Đảng được chính thức ghi nhận
trong Hiến pháp, đó là sự khẳng định thành quả
đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Hiến pháp
1992 tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã
hội: "Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của
giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung
thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác -
Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng
lãnh đạo Nhà nước và xã hội…" (Điều 4 Hiến pháp
1992).
Uỷ viên Ban chấp hành trung ương Đảng,
Phó Chủ tịch Quốc hội
|