|
VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UỶ BAN VĂN HOÁ, GIÁO
DỤC, THANH NIÊN,
THIẾU NIÊN VÀ NHI ĐỒNG CỦA QUỐC HỘI QUA BA KHOÁ
QUỐC HỘI
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
Nguyễn Viết Lểnh
Vụ trưởng Vụ văn hoá, giáo dục, thanh niên,
thiếu niên và nhi đồng
I. Đặt vấn đề
Trong lịch sử hình thành và phát triển của Quốc
hội Việt Nam, sự ra đời của các Uỷ ban của Quốc
hội là một trong những cột mốc quan trọng khẳng
định sự trưởng thành và từng bước hoàn thiện của
bộ máy tổ chức và hoạt động của Quốc hội nói
chung, các cơ quan của Quốc hội nói riêng.
Trước khi giới thiệu chi tiết, cụ thể về tổ chức
và hoạt động của Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh
niên, Thiếu niên và Nhi đồng, chúng tôi cũng nêu
sơ lược về quá trình ra đời và phát triển của Uỷ
ban này.
Tại Khoá I (1946-1960), Quốc hội mới
thành lập hai Ban là Ban Thường trực Quốc hội và
Ban Dự thảo Hiến pháp; Quốc hội Khoá II
(1960-1964) có hai Uỷ ban là Uỷ ban Dự án
Pháp luật và Uỷ ban Kế hoạch và Ngân sách; Quốc
hội Khoá III (1964-1971), cùng với hai Uỷ
ban đã được hình thành từ Khoá II, Quốc hội đã
thành lập thêm hai Uỷ ban là Uỷ ban Dân tộc và
Uỷ ban Văn hoá và Xã hội. Việc thành của Uỷ ban
Văn hoá và Xã hội đã được Quốc hội Khoá III
khẳng định tại Nghị quyết ngày 3/7/1964. Quốc
hội Khoá IV (1971-1975) thành lập thêm Uỷ
ban Thống nhất; Quốc hội Khoá V
(6/4/1975-25/4/1976) thành lập thêm Uỷ ban
Đối ngoại. Quốc hội Khoá VI (1976-1981),
là Quốc hội của nước CHXHCN Việt Nam thống nhất
nên Quốc hội đã không thành lập Uỷ ban Thống
nhất, chỉ còn 5 Uỷ ban Đến Quốc hội Khoá VII
(1981-1987), cùng với việc đổi tên Uỷ ban
Dân tộc thành Hội đồng Dân tộc; đổi tên Uỷ ban
Kế hoạch và Ngân sách thành Uỷ ban Kinh tế, Kế
hoạch và Ngân sách; đổi tên Uỷ ban Dự án Pháp
luật thành Uỷ ban Pháp luật; Quốc hội đã tách Uỷ
ban Văn hoá và Xã hội thành 4 Uỷ ban, bao gồm:
Uỷ ban Văn hoá và Giáo dục, Uỷ ban Khoa học và
Kỹ thuật, Uỷ ban Y tế và Xã hội, Uỷ ban Thanh
niên, Thiếu niên và Nhi đồng. Trong Quốc hội
Khoá VIII (1987-1992), Quốc hội vẫn giữ
số lượng các Uỷ ban của Quốc hội là một Hội đồng
và bảy Uỷ ban, như Khoá VII. Sang Quốc hội Khoá
IX, Quốc hội đã đổi tên Uỷ ban Kinh tế, Kế hoạch
và Ngân sách thành Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách;
đổi tên Uỷ ban Y tế và Xã hội thành Uỷ ban Về
các vấn đề xã hội; đổi tên Uỷ ban Khoa học và Kỹ
thuật thành Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi
trường; thành lập thêm Uỷ ban Quốc phòng và An
Ninh; sáp nhập Uỷ ban Văn hoá và Giáo dục với Uỷ
ban Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng, tạo nên
một Uỷ ban có tên "hoành tráng" nhất Quốc hội,
với dung lượng từ là 13 từ và có 3 dấu phảy để
xác định hai lĩnh vực (văn hoá, giáo dục) và hai
đối tượng (thanh niên và trẻ em), tuy nhiên Uỷ
ban còn có nhiệm vụ phụ trách cả lĩnh vực thể
dục thể thao, phát thanh truyền hình - dù không
được ghi trong tên của Uỷ ban. Tên gọi của Uỷ
ban đã được xác định trong các văn bản quan
trọng của Nhà nước; được khẳng định vị trí, vai
trò không chỉ trong nước mà với quốc tế; không
chỉ một khoá mà đã là khoá thứ 3 của Quốc hội.
II. Về tổ chức, hoạt động của Uỷ ban văn hoá,
giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng qua
ba khoá Quốc hội
Cũng như đối với các Uỷ ban khác, tổ chức và
hoạt động của Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh
niên, Thiếu niên và Nhi đồng được quy định dựa
trên cơ sở các quy định của Luật tổ chức Quốc
hội năm 1992; Quy chế hoạt động của các Uỷ ban
của Quốc hội năm 1993 và Luật Tổ chức Quốc hội
năm 2001. Tại Quốc hội Khoá XI, Uỷ ban đã nhất
trí thông qua Quy chế làm việc của Uỷ ban (số
202 QC/VH-GD-TTN ngày 25/5/2003), bao gồm 4
chương, 15 điều quy định về tổ chức và phân công
nhiệm vụ của Uỷ ban (Chương I); tổ chức các
phiên họp Uỷ ban và chế độ báo cáo (Chương II);
Việc sử dụng chuyên gia tư vấn và trách nhiệm
tham mưu, giúp việc của Vụ chuyên môn của Uỷ ban
(Chương III); thời hiệu thi hành và việc sửa
đổi, bổ sung quy chế (Chương IV). Năm 2004, Quốc
hội đã sửa đổi, sáp nhập Quy chế hoạt động của
Hội đồng Dân tộc và Quy chế hoạt động của các Uỷ
ban năm 1993 thành Quy chế hoạt động của Hội
đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội năm
2004.
1. Về tổ chức của Uỷ ban qua các khoá Quốc hội
1.1. Tại Khoá IX
1.1.1. Tổ chức của Uỷ ban
Số thành viên Uỷ ban được Quốc hội bầu là 30,
trong đó có Chủ nhiệm - Trần Thị Tâm Đan, 4 Phó
Chủ nhiệm (2 Phó Chủ nhiệm chuyên trách, 2 Phó
Chủ nhiệm kiêm nhiệm). Trong số 2 Phó Chủ nhiệm
Uỷ ban kiêm nhiệm, có Nhạc sĩ Ca Lê Thuần là
Tổng Thư ký Hội Nhạc Sĩ Việt Nam và đồng chí Hồ
Đức Việt là Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh. Phó Chủ nhiệm Lương Ngọc Toản,
nguyên là Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Phó
Chủ nhiệm Đặng Thị Thanh Hương, nguyên là Chánh
Văn phòng Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam. Chủ
nhiệm và các Phó Chủ nhiệm Uỷ ban hợp thành
Thường trực Uỷ ban.
Về cơ cấu thành viên Uỷ ban:
- 10/30 thành viên hoạt động trên lĩnh vực văn
hoá - nghệ thuật;
- 9/30 thành viên hoạt động trên lĩnh vực giáo
dục - đào tạo;
- 7/30 thành viên hoạt động trên lĩnh vực thanh
niên, thiếu niên và nhi đồng;
- 4/30 thành viên hoạt động trên lĩnh vực chính
trị - xã hội.
Trong số thành viên Uỷ ban, có 14 đại biểu nữ, 5
đại biểu là người dân tộc thiểu số, 5 đại biểu
có học hàm, học vị Phó Giáo sư, Phó Tiến sĩ, 6
đại biểu là văn nghệ sĩ.
Uỷ ban không thành lập các tiểu ban.
1..1.2.. Về bộ máy giúp việc
Đầu nhiệm kỳ, trên danh nghĩa thì Uỷ ban có một
Vụ giúp việc chuyên môn cho Uỷ ban, thuộc Văn
phòng Quốc hội, nhưng chỉ có hai cán bộ - một
đồng chí Phụ trách Vụ và một chuyên viên. Đó
cũng là thời điểm trụ sở Văn phòng Quốc hội tại
35 Ngô Quyền đang sửa chữa nên cả Vụ và Thường
trực Uỷ ban phải đi thuê nơi làm việc tại Uỷ ban
Dân số và Gia đình của thành phố Hà Nội. Trong
năm 1993, Vụ được bổ sung một chuyên viên; đồng
chí chuyên viên phụ trách Vụ được bổ nhiệm là
Phó Vụ trưởng và nơi làm việc được chuyển về 35
Ngô Quyền. Đến năm 1994, Vụ được bổ sung một Vụ
trưởng, một chuyên viên được bổ nhiệm là Phó Vụ
trưởng, một nhân viên văn thư được tiếp nhận về
Vụ, nâng số cán bộ trong Vụ lên con số là 5
người. Năm 1995, Vụ được bổ sung thêm hai chuyên
viên.
Về công tác chuyên môn, Vụ chịu sự chỉ đạo trực
tiếp của Thường trực Uỷ ban và phối hợp với các
đơn vị khác trong Văn phòng để bảo đảm mọi hoạt
động của Uỷ ban được thực hiện đúng chương
trình, kế hoạch. Với điều kiện chung của Quốc
hội, về cơ bản, Vụ đã đáp ứng được yêu cầu hoạt
động của Uỷ ban và có nhiều đóng góp để Uỷ ban
hoàn thành nhiệm vụ của nhiệm kỳ Quốc hội.
1.2. Tại Khoá X
1.2.1.
Tổ chức của Uỷ ban
Số thành viên Uỷ ban được Quốc hội bầu là 34 (14
nữ, 20 nam) trong đó có Chủ nhiệm - Trần Thị Tâm
Đan, 3 Phó Chủ nhiệm (2 Phó Chủ nhiệm chuyên
trách là Lương Ngọc Toản và Đặng Thị Thanh
Hương; 1 Phó Chủ nhiệm kiêm nhiệm là Vũ Trọng
Kim, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh). Chủ nhiệm và các Phó Chủ nhiệm Uỷ ban hợp
thành Thường trực Uỷ ban.
Về cơ cấu thành viên Uỷ ban:
- 6/34 thành viên hoạt động trên lĩnh vực văn
hoá - nghệ thuật;
- 15/34 thành viên hoạt động trên lĩnh vực giáo
dục - đào tạo;
- 7/34 thành viên hoạt động trên lĩnh vực thanh
niên, thiếu niên và nhi đồng;
- 6/34 thành viên hoạt động trên lĩnh vực chính
trị - xã hội.
Các thành viên Uỷ ban đều có trình độ đại học
trở lên, trong đó có 9 người là Giáo sư, Phó
Giáo sư, Tiến sĩ, 3 người là Thạc sĩ.
Trong nhiệm kỳ Quốc hội, một số thành viên Uỷ
ban có sự thuyên chuyển công tác do được bầu
hoặc điều động sang lĩnh vực công tác khác với
trách nhiệm cao hơn (một Phó Chủ nhiệm Uỷ ban -
Vũ Trọng Kim, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh được phân công làm Bí thư tỉnh
uỷ tỉnh Quảng Trị; một uỷ viên từ chức danh Giám
đốc Sở Giáo dục và Đào tạo (Nguyễn Văn Vọng) và
một uỷ viên là Phó Giám đốc Đại học Quốc gia
(Nguyễn Tấn Phát) lên làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo; một uỷ viên từ chức danh Giám đốc Sở
Giáo dục và Đào tạo lên chức danh Chủ tịch UBND
tỉnh (Lê Minh Hồng); một uỷ viên được bổ nhiệm
là Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo và tiếp
đó được bầu là Phó Chủ tịch UBND tỉnh (Mai Hoa
Niêk Đăm); hai uỷ viên là Bí thư tỉnh Đoàn
chuyển sang làm bí thư huyện uỷ (Nguyễn Văn
Tuyết, Hà Văn Thạch); một uỷ viên là Bí thư tỉnh
Đoàn chuyển sang làm Chánh án Toà án nhân dân
tỉnh (Lê Văn Tâm); một uỷ viên là Phó Tư lệnh
Quân khu lên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (Lê
Trung Thành)...
1.2.2. Về bộ máy giúp việc
Trong nhiệm kỳ Khoá X, Vụ chuyên môn của Uỷ ban
được bổ sung thêm 1 chuyên viên. Năm 2000, đồng
chí Vụ trưởng nghỉ chế độ và năm 2001 nghỉ hưu
nên Vụ được kiện toàn tổ chức, trong đó có 1 Phó
Vụ trưởng được bổ nhiệm là Vụ trưởng và một
chuyên viên được bổ nhiệm là Phó Vụ trưởng.
Về công tác chuyên môn, Vụ tiếp tục chịu sự chỉ
đạo trực tiếp của Thường trực Uỷ ban và phối hợp
với các đơn vị khác trong Văn phòng để bảo đảm
mọi hoạt động của Uỷ ban được thực hiện đúng
chương trình, kế hoạch. Về cơ bản, Vụ đã đáp ứng
được yêu cầu hoạt động của Uỷ ban và đóng góp
tích cực với Thường trực Uỷ ban trong việc xây
dựng và tổ chức thực hiện chương trình công tác
của Uỷ ban.
1.3. Tại Khoá XI
1.3.1.
Tổ chức của Uỷ ban
Số thành viên Uỷ ban được Quốc hội bầu là 37 (16
nữ, 21 nam) trong đó có Chủ nhiệm - Trần Thị Tâm
Đan, 4 Phó Chủ nhiệm ( Nguyễn Đình Hương, Lê
Minh Hồng, Nguyễn Viêt Chức, Trương Thị Mai).
- 7/37 thành viên hoạt động trên lĩnh vực văn
hoá - nghệ thuật;
- 13 /37 thành viên hoạt động trên lĩnh vực giáo
dục - đào tạo;
- 10/37 thành viên hoạt động trên lĩnh vực thanh
niên, thiếu niên và nhi đồng;
- 7/37 thành viên hoạt động trên lĩnh vực chính
trị - xã hội.
Các thành viên Uỷ ban đều có trình độ đại học
trở lên, trong đó có 7 người là Giáo sư, Phó
Giáo sư, Tiến sĩ, 7 người là Thạc sĩ. Sau khi
trúng cử đại biểu Quốc hội và được Quốc hội bầu
là thành viên Uỷ ban, có 15/37 thành viên hoạt
động chuyên trách, trong đó có 6 đồng chí trong
Thường trực Uỷ ban 9 đồng chí là Phó Đoàn đại
biểu Quốc hội của các tỉnh (từ tháng 1/2006, một
đồng chí chuyển từ Phó Đoàn đại biểu của tỉnh về
Thường trực Uỷ ban). Tại Khoá này, Uỷ ban đã
thành lập 4 tiểu ban, do 4 Phó Chủ nhiệm Uỷ ban
là Trưởng Tiểu ban, bao gồm: Tiểu ban Văn hoá -
Thông tin; Tiểu ban Đào tạo; Tiểu ban Giáo dục
Phổ thông và Mầm non; Tiểu ban Thanh Thiếu Nhi
và Thể thao.
1.3.2. Về bộ máy giúp việc
Trong nhiệm kỳ Khoá XI, Vụ chuyên môn của Uỷ ban
được bổ sung thêm 2 chuyên viên. Để phù hợp với
điều kiện phục vụ Thường trực Uỷ ban và các hoạt
động của Uỷ ban, cơ cấu tổ chức của Vụ được thực
hiện gắn với việc phục vụ các tiểu ban và các
nhóm công việc, bao gồm 5 nhóm: Nhóm phục vụ
Tiểu ban đào tạo; nhóm phục vụ Tiểu ban giáo dục
phổ thông và mầm non; nhóm phục vụ Tiểu ban văn
hoá - thông tin; nhóm phục vụ Tiểu ban thanh
thiếu nhi và thể thao; nhóm phục vụ công tác văn
thư, dân nguyện. Lãnh đạo Vụ được đề bạt, bổ
sung để có 4 phó vụ trưởng phụ trách 4 nhóm
chuyên môn và Vụ trưởng phụ trách chung kiêm phụ
trách nhóm văn thư, dân nguyện. Bước sang năm
2005, một đồng chí Phó Vụ trưởng chuyển công tác
sang Bộ Văn hoá - Thông tin nên Vụ thiếu một Phó
Vụ trưởng. Cho đến tháng 10/2005, tổng biên chế
của Vụ mới có 10 người và 2 người dự bị thi vào
biên chế (một người đã có quá trình làm báo gần
5 năm và một sinh viên mới tốt nghiệp loại giỏi
tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội).
Về công tác chuyên môn, Vụ tiếp tục chịu sự quản
lý, chỉ đạo trực tiếp của Thường trực Uỷ ban và
phối hợp với các đơn vị khác trong Văn phòng
trong việc phục vụ các hoạt động của Uỷ ban.
Nhìn chung, công tác tham mưu, phục vụ của Vụ đã
đã đáp ứng được những yêu cầu cơ bản trong việc
tổ chức các hoạt động của Uỷ ban và tham gia
phục vụ các công tác khác của Văn phòng và của
Quốc hội. Tuy nhiên, so với yêu cầu của tình
hình mới, Vụ cần được bổ sung về biên chế và bồi
dưỡng thêm về trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho
một số đồng chí.
2. Về hoạt động của Uỷ ban qua gần ba khoá Quốc
hội
Hoạt động của Uỷ ban được thực hiện theo chương
trình công tác cả nhiệm kỳ và chương trình công
tác hàng năm, do Thường trực Uỷ ban chuẩn bị để
Uỷ ban thảo luận, thông qua. Vì ở mỗi khoá Quốc
hội, Uỷ ban có những chương trình, kế hoạch công
tác khác nhau nên chúng tôi sẽ trình bày về hoạt
động của Uỷ ban trong từng khoá Quốc hội.
2.1. Hoạt động của Uỷ ban tại Quốc hội Khoá IX
2.1.1. Về công lập pháp
Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Uỷ ban đã được Uỷ ban
thường vụ Quốc hội phân công thẩm tra Dự án Luật
Xuất bản. Uỷ ban đã thực hiện các bước chuẩn bị,
từ cử người tham gia Ban soạn thảo, tổ chức các
cuộc làm việc giữa Thường trực Uỷ ban với Ban
soạn thảo để thống nhất kế hoạch và tiến hành
các quy trình thẩm tra, đảm bảo đúng nguyên tắc,
thủ tục và báo cáo thẩm tra trước Quốc hội.
Luật Xuất bản đã được Quốc hội Khoá IX, kỳ họp
thứ 3 thông qua ngày 7/7/1993.
Dự án Luật Giáo dục được chính thức ghi vào
chương trình xây dựng luật, pháp lệnh tại kỳ họp
thứ 8 của Quốc hội Khoá IX. Uỷ ban được Uỷ ban
thường vụ Quốc hội giao nhiệm vụ thẩm tra và Uỷ
ban Pháp luật phối hợp tham gia thẩm tra. Tuy
nhiên, quá trình xây dựng Luật không thể diễn ra
nhanh chóng nên tại kỳ họp thứ 11, Dự án mới
được trình để Quốc hội cho ý kiến. Đồng thời với
việc tham gia xây dựng Dự án Luật Giáo dục,
Thường trực Uỷ ban đã làm việc với Thường vụ
Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về việc tiếp
tục xây dựng Dự án Luật Thanh niên (được chuẩn
bị từ Quốc hội Khoá VIII và được ghi vào chương
trình dự bị của Khoá IX). Đối với các dự án luật
khác, Uỷ ban cũng đã quan tâm tham gia ý kiến về
những vấn đề liên quan đến các lĩnh vực của Uỷ
ban (Luật Đất đai, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân
sự, Luật Ngân sách, Luật thuế...).
Để thẩm tra Dự án Pháp lệnh bảo hộ quyền tác
giả, Thường trực Uỷ ban đã phối hợp chặt chẽ và
làm việc nhiều lần với Ban soạn thảo; tổ chức
một số cuộc hội thảo với các nhà khoa học thuộc
nhiều lĩnh vực, các văn nghệ sĩ... Pháp lệnh
đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày
2/12/1994. Tuy nhiên, sau đó hầu hết nội
dung của Pháp lệnh đã được thể hiện trong Bộ
luật Dân sự.
2.1.2. Về công tác giám sát
a. Giám sát việc thực hiện luật, pháp lệnh thuộc
những lĩnh vực Uỷ ban phụ trách
Trong nhiệm kỳ này, Uỷ ban tập trung giám sát
việc thi hành Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật
Phổ cập giáo dục tiểu học, Pháp lệnh Bảo vệ và
sử dụng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng
cảnh.
Về giám sát việc thi hành Luật Báo chí, Luật
Xuất bản, Thường trực Uỷ ban đã nghe đại diện
lãnh đạo Bộ Văn hoá - Thông tin, Tổng giám đốc
Đài truyền hình Việt Nam, Tổng giám đốc Đài
tiếng nói Việt Nam báo cáo về tình hình thi hành
Luật ; cử đoàn giám sát về tình hình hoạt động
báo chí, xuất bản tại 12 tỉnh, thành phố, một số
tờ báo, nhà xuất bản của các đoàn thể và các cơ
quan trung ương (gồm 32 tờ báo, 11 đài phát
thanh, truyền hình, 18 nhà xuất bản). Kết quả
giám sát đã được Uỷ ban báo cáo Uỷ ban thường vụ
Quốc hội và thuyết trình trước Quốc hội.
Về giám sát tình hình thi hành Luật phổ cập giáo
dục tiểu học, Uỷ ban không chỉ nghe đại diện
lãnh đạo Bộ Giáo dục - Đào tạo báo cáo mà còn cử
các đoàn đại biểu Uỷ ban đi giám sát tại các
tỉnh, thành phố thuộc các vùng, miền khác nhau,
đặc biệt là những vùng khó khăn. Uỷ ban rất quan
tâm đến việc thực hiện chỉ tiêu phổ cập giáo dục
tiểu học hàng năm. Qua kết quả giám sát, Uỷ ban
đã có ý kiến kịp thời với Chính phủ và các bộ,
ngành, địa phương nhằm huy động các nguồn lực
tham gia phổ cập giáo dục tiểu học.
Về giám sát việc thực hiện Pháp lệnh Bảo vệ và
sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam,
thắng cảnh, Uỷ ban đã nghe đại diện lãnh đạo Bộ
Văn hoá - Thông tin và các cơ quan chức năng của
Bộ Văn hoá - Thông tin báo cáo về thực trạng
tình hình bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn
hoá, danh lam, thắng cảnh. Để phục vụ hoạt động
giám sát về nội dung này, Thường trực ỷ ban đã
tổ chức khảo sát chuyên đề, với sự tham gia của
các sở văn hoá - thông tin của 53 tỉnh, thành
phố và có báo cáo đánh giá kết quả của đợt khảo
sát nói trên.
b. Giám sát tình hình thực hiện các nghị quyết
của Quốc hội về các lĩnh vực văn hoá, giáo dục,
thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; về thực hiện
chính sách văn hoá, giáo dục, thanh thiếu nhi
trong các kế hoạch, chương trình phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước
Hằng năm, theo chương trình công tác đã được Uỷ
ban thông qua, Thường
trực Uỷ ban
tổ chức các đoàn đại biểu Uỷ ban đi giám sát tại
các địa phương, cơ sở. Trong cả nhiệm kỳ, Uỷ ban
đã cử các đoàn đi giám sát tại 38 tỉnh, thành
phố. Các đoàn được tổ chức gọn, với số lượng từ
3 đến 5 thành viên Uỷ ban; chỉ dành thời gian
vừa phải để nghe báo cáo tình hình, còn tập
trung đi tìm hiểu, nghiên cứu tại cơ sở, làm
việc, tiếp xúc chủ yếu với cử tri, lắng nghe ý
kiến, nguyện vọng của cử tri.
Để công tác giám sát có chất lượng, hiệu quả và
rút kinh nghiệm thực tế từ công tác giám sát, từ
năm 1993, hằng năm Uỷ ban đã xem xét và quyết
định một số chuyên đề khảo sát có tính nghiên
cứu nhằm có tư liệu phục vụ một cách hệ thống
công tác giám sát của Uỷ ban. Công việc này, Uỷ
ban giao cho Thường trực Uỷ ban và Vụ chuyên môn
thực hiện, có sự tham gia của các thành viên Uỷ
ban, có báo cáo kết quả trước Uỷ ban.
- Về văn hoá - thông tin, đã thực hiện
khảo sát 5 chuyên đề: Tình hình hoạt động của
hệ thống phát thanh, truyền hình; Tình hình tổ
chức và xây dựng đời sống văn hoá cơ sở; Tình
hình và biện pháp để giữ gìn, phát triển và phát
huy bản sắc văn hoá dân tộc trong sự nghiệp đổi
mới đất nước; Tình hình bảo vệ và sử dụng di
tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh;
Tình hình bảo tồn di sản văn hoá truyền thống
trong xây dựng nếp sống.
- Về giáo dục - đào tạo,
đã thực hiện khảo sát 6 chuyên đề: Tình hình
xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; Chính
sách phổ cập giáo dục tiểu học ở những vùng khó
khăn; Chế độ, chính sách đối với giáo viên phổ
thông; Tình hình tổ chức và hoạt động các loại
hình trường bán công, dân lập, tư thục; Tình
hình và mạng lưới các trường cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp, dạy nghề hiện nay; Tình hình các
trường trung học chuyên nghiệp.
- Về thanh niên, thiếu niên và nhi đồng,
đã thực hiện khảo sát 2 chuyên đề: Tình hình
thanh thiếu niên phạm pháp và biện pháp phòng
ngừa, giáo dục; Thực trạng về điều kiện vui chơi
giải trí của thanh, thiếu niên.
Do lĩnh vực theo dõi của Uỷ ban nhiều, rộng và
tính cấp bách của giáo dục - đào tạo, văn hoá -
thông tin cần phải tập trung, nên có lúc về lĩnh
vực thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, về thể
dục thể thao chưa được tập trung như các lĩnh
vực khác. Chính vì vậy, Thường trực Uỷ ban đã
đặt chương trình làm việc với Ban Thường vụ
Trung ương Đoàn TNCSHCM, Hội LHTNVN, Uỷ ban bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam để nắm
tình hình và có các kiến nghị cần thiết. Uỷ ban
cũng đã đề nghị, trong các báo cáo của Chính
phủ, nghị quyết của Quốc hội cần dành phần thích
đáng cho những lĩnh vực này.
2.1.3. Các công tác khác
a. Về hoạt động đối ngoại
Trong nhiệm kỳ, Uỷ ban đã tổ chức đón 5 đoàn đại
biểu của quốc hội một số nước sang thăm và làm
việc tại Việt Nam, bao gồm: Đoàn Uỷ ban Văn hoá,
Gia đình và xã hội của Quốc hội Cộng hoà Pháp;
Đoàn Uỷ ban Văn hoá - Xã hội của Cộng hoà dân
chủ nhân dân Lào; Đoàn Uỷ ban Văn hoá, Tôn giáo
và Nghệ thuật của Hạ viện Vương quốc Thái Lan;
Đoàn Uỷ ban Giáo dục của Hạ viện Vương quốc Thái
Lan; Đoàn Nghị sĩ Thượng Nghị viện Cộng hoà
Pháp. Đồng thời, Uỷ ban đã cử các đoàn đi thăm
và trao đổi kinh nghiệm tại Vương quốc Thái Lan,
Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa và Ôx-trây- lia. Ngoài ra, một số
thành viên Uỷ ban đã tham gia các đoàn của Uỷ
ban thường vụ Quốc hội và các Uỷ ban khác đi
thăm và làm việc tại một số nước.
b. Về công tác dân nguyện
Tại nhiệm kỳ này, Uỷ ban đã nhận được 174 đơn
thư khiếu nại, tố cáo và phản ánh nguyện vọng
của công dân. Thường trực Uỷ ban đã nghiên cứu,
xem xét đơn thư và phối hợp với Văn phòng Quốc
hội về cách giải quyết; có công văn gứi tới
chính quyền, cơ quan chủ quản, cơ quan chức
năng, đồng thời thông báo đến tập thể, cá nhân
có đơn thư; đối với một số trường hợp, Thường
trực Uỷ ban cử người trực tiếp nghe đương sự
trình bày hoặc đến làm việc với các cơ quan chức
năng để tìm hiểu tình hình thực tế để bàn cách
giải quyết. Uỷ ban đã góp phần giải quyết dứt
điểm một số vụ việc, ví dụ:Vụ kiện kéo dài diễn
ra tại Đài truyền hình Việt Nam; một số vụ kiện
về chiếm dụng trái phép di tích lịch sử, văn
hoá; về giải quyết chế độ đối với giáo viên; một
số vụ việc xâm hại tính mạng, thân thể trẻ em...
2.2. Hoạt động của Uỷ ban tại nhiệm kỳ Khoá X
2.2.1. Về công tác lập pháp
Trong nhiệm kỳ khoá X, Uỷ ban được Uỷ ban thường
vụ Quốc hội phân công thẩm tra ba dự án luật và
ba dự án pháp lệnh, bao gồm: Luật Giáo dục, Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí,
Luật Di sản văn hoá; Pháp lệnh Thể dục thể thao,
Pháp lệnh Thư viện và Pháp lệnh Quảng cáo.
a. Đối với Dự án Luật Giáo dục,
ngay từ đầu khoá Quốc hội, Thường trực Uỷ ban đã
tiến hành nghiên cứu ý kiến đóng góp của các đại
biểu Quốc hội khoá IX, tại kỳ họp thứ 11; phối
hợp với Ban soạn thảo chỉnh lý nhiều lần; tổ
chức Hội nghị tham khảo ý kiến các đại biểu Quốc
hội công tác trong ngành giáo dục - đào tạo, các
nhà khoa học, quản lý giáo dục về Dự án Luật;
tham gia hoàn chỉnh bản dự thảo để Uỷ ban thường
vụ Quốc hội công bố lấy ý kiến nhân dân.
Tại kỳ họp thứ 4 của Quốc hội, Chính phủ đã
trình Quốc hội bản dự thảo lần thứ 24 và Uỷ ban
đã Báo cáo Quốc hội kết quả thẩm tra của Uỷ ban
về bản dự thảo nói trên; đồng thời tham gia việc
tiếp thu, chỉnh lý bản dự thảo theo ý kiến của
đại biểu Quốc hội. Luật Giáo dục đã được Quốc
hội khoá X thông qua ngày 2 tháng 12 năm 1998.
b.
Đối với Dự án
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo
chí,
qua nghiên cứu nội dung Dự án và qua kết quả
khảo sát của 3 đoàn của Thường trực Uỷ ban tại
15 cơ quan báo chí Trung ương và địa phương,
Thường trực Uỷ ban nhận thấy, về cơ bản, Luật
báo chí năm 1989 vẫn đang điều chỉnh có hiệu quả
các hoạt động báo chí của đất nước, chỉ có một
số nội dung tại một số điều cần được sửa đổi, bổ
sung cho phù hợp với sự phát triển của sự nghiệp
báo chí trong tình hình mới và xu thế chung của
thời đại. Vì vậy, Thường trực Uỷ ban đã đề nghị
Uỷ ban thường
vụ Quốc hội chỉ nên trình Quốc hội Dự án Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí.
Sau khi có ý kiến chỉ đạo của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội, Thường trực Uỷ ban đã phối hợp với Ban
soạn thảo và đại diện các cơ quan hữu quan chỉnh
lý bản dự thảo Luật; phối hợp với Hội Nhà báo
Việt Nam tổ chức hai cuộc hội thảo lấy ý kiến
các nhà báo, các nhà quản lý về báo chí, các nhà
khoa học và các đại biểu Quốc hội hoạt động
trong ngành Văn hoá - Thông tin hoặc quan tâm
đến sự nghiệp báo chí; tổ chức họp toàn thể Uỷ
ban để thẩm tra toàn văn Dự án. Những nội dung
Uỷ ban đã quan tâm thảo luận là: Trách nhiệm của
cơ quan chủ quản, quyền của tổ chức, cá nhân khi
báo chí đăng sai, vấn đề kiểm duyệt, vấn đề làm
kinh tế của các cơ quan báo chí... Tại kỳ họp
thứ 5 của Quốc hội Khoá X, Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Báo chí đã được Quốc hội
thông qua.
c. Để thẩm tra Dự án Luật
Di sản văn hoá, Thường trực Uỷ ban đã
tổ chức khảo sát tại 12 tỉnh, thành phố; tổ chức
cuộc Hội thảo với các nhà khoa học, các nhà quản
lý di sản văn hoá và pháp luật; phối hợp với Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội
Nhà văn Việt Nam tổ chức lấy ý kiến các nhà
chuyên môn, các hội viên của các hội nói trên về
Dự án Luật.
Uỷ ban đã tham gia nhiều ý kiến về phạm vi điều
chỉnh của Luật; về bảo vệ và phát huy giá trị
của di sản văn hoá, đặc biệt là di sản văn hoá
phi vật thể, bảo hộ di sản văn hoá Việt Nam ở
nước ngoài; về hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ
di sản; quyền sở hữu về di sản văn hoá, lưu
thông cổ vật.
Trên cơ sở báo cáo thẩm tra của Uỷ ban, sự tiếp
thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp
thứ 8 và kết quả chỉnh lý theo sự chỉ đạo của Uỷ
ban thường vụ Quốc hội, sự tham gia của các nhà
khoa học, văn hoá, các đại biểu Quốc hội,
Luật Di sản văn hoá đã được Quốc hội Khoá
X xem xét, thông qua ngày 29/6/2001, tại kỳ họp
thứ 9.
d. Về Dự án Pháp lệnh Thể dục thể thao,
Thường trực Uỷ ban đã phối hợp với Thường trực
Uỷ ban Pháp luật nghe Ban soạn thảo báo cáo về
quá trình xây dựng Dự án; trao đổi với các nhà
quản lý, chuyên gia và đại diện các liên đoàn
thể thao; tổ chức các đoàn khảo sát thực tế về
tổ chức hoạt động thể dục, thể thao tại Hà Nội,
Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Trung tâm huấn
luyện thể thao Quốc gia I.
Trong các ngày 8 -10/8/2000, Uỷ ban đã thẩm tra
Dự án Pháp lệnh. Sau khi Uỷ ban thường vụ Quốc
hội cho ý kiến (17-18/8/2000), các cơ
quan hữu quan đã phối hợp chỉnh lý, bổ sung vào
bản dự thảo Pháp lệnh. Tại phiên họp ngày
25/9/2000, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã xem xét,
thông qua Pháp lệnh Thể dục thể thao.
đ. Dự án Pháp lệnh Thư viện
đã được chuẩn bị từ năm 1986 và được đưa vào
Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 1999.
Trong năm 1999, Thường trực Uỷ ban đã phối hợp
với các cơ quan hữu quan của Quốc hội làm việc
với Ban soạn thảo về việc xây dựng Dự án pháp
lệnh; tổ chức khảo sát tại 5 thư viện của một số
bộ, ngành, cơ sở giáo dục - đào tạo và làm việc
với các sở văn hoá - thông tin, các thư viện của
8 tỉnh thuộc các địa bàn khác nhau trong cả nước
để lấy ý kiến về Dự án Pháp lệnh; tiến hành họp
Uỷ ban để thẩm tra Dự án trước khi Uỷ ban thường
vụ Quốc hội cho ý kiến lần thứ nhất vào ngày
27/9/1999. Ngày 28/12/2000, Uỷ ban thường vụ
Quốc hội đã xem xét, thông qua toàn văn Pháp
lệnh Thư viện.
e.
Về Pháp lệnh Quảng cáo,
Thường trực Uỷ ban đã tổ chức khảo sát tại một
số công ty quảng cáo ở thành phố Hồ Chí Minh;
làm việc với Ban soạn thảo Dự án Pháp lệnh Quảng
cáo và tổ chức cuộc họp toàn thể Uỷ ban
(8-9/01/2001) để thẩm tra Dự án Pháp lệnh.
Ngày 4/4/2001, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thảo
luận, góp ý về Dự án Pháp lệnh Quảng cáo. Trên
cơ sở ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
Thường trực Uỷ
ban đã phối hợp với các cơ quan chức năng và Ban soạn thảo tiếp thu,
chỉnh lý để
trình
Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Ngày 14 tháng 11
năm 2001, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã xem xét,
thông qua Pháp lệnh Quảng cáo.
g. Về các đề án để Quốc hội ra Nghị quyết
Thông qua công tác giám sát và căn
cứ vào Luật Giáo dục, Luật tổ chức Quốc hội,
Thường trực Uỷ ban nhận thấy chủ trương phổ cập
giáo dục trung học cơ sở và đổi mới chương
trình, sách giáo khoa phổ thông là những chủ
trương lớn, quan trọng đối với sự nghiệp giáo
dục nên đã đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội
nghe báo cáo hai vấn đề nói trên và cần trình
Quốc hội để Quốc hội quyết định. Tại kỳ họp thứ
8 của Quốc hội khoá X, Chính phủ đã trình Quốc
hội về Chủ trương phổ cập giáo dục trung học
cơ sở (2000-2010) và Chủ trương đổi mới
chương trình và sách giáo khoa của giáo dục phổ
thông.
Để giúp Quốc hội có thêm cơ sở khoa học, thực
tiễn và pháp lý trong quá trình thảo luận, thông
qua các chủ trương lớn nói trên, Uỷ ban đã tổ
chức thẩm tra văn bản nói trên và có báo cáo (số
368 và 369 BC/VH-GD-TTN, ngày 15/11/2000) trình
bày trước Quốc hội.
Sau khi thảo luận, cân nhắc các ý kiến trình bày
của Chính phủ và Uỷ ban
Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi
đồng, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị
quyết số 40/2000/QH10 Về đổi mới Chương trình
giáo dục phổ thông và Nghị quyết số
41/2000/QH10 Về phổ cập giáo dục trung học cơ
sở tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội.
2.2.2. Về công tác giám sát
Giám sát việc thi hành pháp luật và thực hiện kế
hoạch nhà nước, thực hiện Nghị quyết của Quốc
hội hàng năm tại các ngành hữu quan, các địa
phương, cơ sở đối với những lĩnh vực Uỷ ban phụ
trách là nhiệm vụ quan trọng của Uỷ ban, được
Thường trực Uỷ ban đặc biệt quan tâm từ khâu
chuẩn bị nội dung đến kế hoạch thực hiện cụ thể.
a. Giám sát việc thực hiện các luật, pháp lệnh
thuộc lĩnh vực Uỷ ban được phân công
Trong nhiệm kỳ, Uỷ ban đã tập trung giám sát
việc thi hành các luật và pháp lệnh sau đây:
Luật Báo chí; Luật Xuất bản; Luật Phổ cập giáo
dục tiểu học; Luật Giáo dục; Luật Bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em; Pháp lệnh Bảo vệ và sử
dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng
cảnh; Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà
nước; các quy định về bảo hộ quyền tác giả tại
Bộ luật dân sự.
Trong chương trình công tác hằng năm của Uỷ ban,
nhiệm vụ giám sát việc thi hành pháp luật luôn
luôn được đặt lên hàng đầu của công tác giám
sát. Qua hoạt động giám sát, Uỷ ban có thêm cơ
sở thực tiễn để thẩm tra các dự luật cũng như
tham gia ý kiến với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ
Quốc hội trong việc xây dựng và thông qua luật,
pháp lệnh.
b. Giám sát tình hình thực hiện các nghị quyết
của Quốc hội về các lĩnh vực văn hoá - thông
tin, giáo dục - đào tạo, thể dục thể thao, thanh
niên, thiếu niên và nhi đồng
Căn cứ vào Chương trình hoạt động đã được Uỷ ban
thông qua, Thường trực Uỷ ban đã xây dựng kế
hoạch giám sát từng năm, quý, tháng. Công tác
giám sát được thực hiện theo hai hướng : Giám
sát việc triển khai thực hiện Nghị quyết của
Quốc hội ở các bộ, ngành và giám sát tại các địa
phương. Việc quán triệt đường lối, quan điểm,
nghị quyết của Đảng trong hoạch định và tổ chức
thực hiện các chủ trương, chính sách; tính khả
thi của các chủ trương, chính sách; những kinh
nghiệm, sáng kiến của các địa phương trong tổ
chức thực hiện Nghị quyết của Quốc hội đã được
Uỷ ban đặc biệt coi trọng. Uỷ ban đã thực hiện
các hoạt động giám sát trên địa bàn 61 tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương.
Trong nhiệm kỳ Quốc hội, Thường trực Uỷ ban đã
nhiều lần tổ chức làm việc với các bộ, ngành, tổ
chức hữu quan, như : Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ
Giáo dục - Đào tạo, Uỷ ban Thể dục thể thao, Uỷ
ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Việt Nam, Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Đài
Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam,
nhiều cơ quan báo chí, xuất bản, Trung ương Đoàn
thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, một số hội văn học - nghệ thuật,
Hội Khoa học - kỹ thuật, các liên đoàn thể thao
... Đối với các bộ, ngành là đối tượng giám sát
chính của Uỷ ban, Uỷ ban còn nhận được báo cáo
công tác thường xuyên về hoạt động của bộ, ngành
đó.
Từ năm 1998 đến năm 2001, Uỷ ban đã tổ chức 15
đoàn đại biểu Uỷ ban đi giám sát tại 25 tỉnh,
thành phố và hơn 130 lượt các Đoàn công tác của
Thường trực đi giám sát theo chuyên đề ở hầu hết
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Các
đoàn giám sát chung của Uỷ ban đã chú trọng giám
sát tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết
của Quốc hội về nhiệm vụ hàng năm đối với các
lĩnh vực Uỷ ban phụ trách, còn các đoàn giám sát
của Thường trực Uỷ ban lại tập trung tìm hiểu,
nghiên cứu những nội dung liên quan tới một lĩnh
vực theo từng chuyên đề, nên các đoàn giám sát
thường phải bố trí đi ở nhiều vùng, địa bàn khác
nhau, bên cạnh việc gửi công văn và nhận báo cáo
của các ngành chuyên môn tại các tỉnh, thành
trong cả nước. Ngoài việc nghiên cứu, tổng hợp ý
kiến của các ngành tại 61 tỉnh, thành, đối với
mỗi chuyên đề, Thường trực Uỷ ban đều tổ chức
các đoàn giám sát tại các địa phương tiêu biểu.
Rút kinh nghiệm hoạt động của Uỷ ban tại nhiệm
kỳ khoá IX của Quốc hội, trong nhiệm kỳ khoá X,
Uỷ ban tiếp tục lựa chọn một số chuyên đề khảo
sát có tính nghiên cứu nhằm có tư liệu một cách
hệ thống phục vụ cho công tác giám sát của Uỷ
ban. Ngay trong năm 1998, Thường trực Uỷ ban đã
khảo sát Tình hình thực hiện chủ trương xã
hội hoá hoạt động văn hoá - thông tin, giáo dục
- đào tạo, thể dục thể thao. Năm 1999,
Thường trực Uỷ ban đã tiến hành giám sát tình
hình và các biện pháp nâng cao chất lượng giáo
dục không chính quy; Tình hình và những giải
pháp cơ bản về trẻ em lang thang; Về tổ chức và
hoạt động phát thanh, truyền hình. Năm 2000,
để chuẩn bị cho việc thẩm tra Dự án Luật di sản
văn hoá, Thường trực Uỷ ban tổ chức nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khảo sát thực tế về bảo vệ
và phát huy giá trị di sản văn hoá. Năm
2001, Thường trực Uỷ ban tập trung khảo sát
Tình hình triển khai thí điểm chương trình tiểu
học và chương trình lớp 6 trung học cơ sở; Tình
hình huy động thanh niên tham gia phát triển
kinh tế-xã hội; Tình hình văn hoá cơ sở, trong
đó có việc tổ chức thực hiện Cuộc vận động "Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá".
2.2.3. Các công tác khác
a. Hoạt động đối ngoại
Nhận lời mời của Quốc hội một số nước và căn cứ
vào chương trình công tác đối ngoại chung của
Quốc hội; được sự đồng ý của Chủ tịch Quốc hội,
trong nhiệm kỳ Khoá X, Uỷ ban đã tổ chức các
đoàn đi thăm và trao đổi kinh nghiệm với các Uỷ
ban tương ứng của Quốc hội 7 nước, bao gồm: Phần
Lan, Thuỵ Điển, Cộng hoà Liên bang Đức, Cộng hoà
Áo, Cộng hoà Ba Lan, Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa và I-ta-li-a.
Trên cơ sở kết quả làm việc của Đoàn đại biểu Uỷ
ban với Quốc hội Thuỵ Điển năm 1999, một đoàn
cán bộ của Vụ chuyên môn của Uỷ ban đã đi nghiên
cứu, trao đổi kinh nghiệm về vấn đề tổ chức
thanh tra, kiểm toán đối với các sự nghiệp văn
hoá và giáo dục tại Thuỵ Điển; một đoàn đại biểu
Quốc hội và cán bộ Văn phòng Quốc hội do Phó chủ
nhiệm Vũ Trọng Kim dẫn đầu đã đi thăm và nghiên
cứu công tác thông tin và giáo dục về Quốc hội
trong nhà trường cũng tại Thuỵ Điển; một số
thành viên Uỷ ban đã tham gia các đoàn công tác
của các đồng chí lãnh đạo Quốc hội
hoặc các đoàn
nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, học tập theo
dự án... tại một số nước.
Các Đoàn đi công tác nước ngoài của Uỷ ban đã
được chuẩn bị kỹ, xác định rõ mục tiêu, nội dung
dự kiến tìm hiểu và các cơ quan, tổ chức cần làm
việc nên đã giúp cho các đoàn nghiên cứu, tìm
hiểu được những kinh nghiệm của bạn trong lĩnh
vực Uỷ ban phụ trách. Thường trực Uỷ ban đã tiếp
và trao đổi kinh nghiệm với đại diện một số tổ
chức quốc tế, quốc gia theo kế hoạch tiếp khách
chung của Quốc hội hoặc theo đề nghị của bạn.
b. Về công tác dân nguyện
Trong nhiệm kỳ Quốc hội Khoá X, Thường trực Uỷ
ban đã nhận được 430 đơn thư tố cáo, khiếu nại
và phản ánh nguyện vọng của nhân dân (năm 1998 :
13; năm 1999: 124; năm 2000: 146; năm 2001:
153). Thường trực Uỷ ban đã xem xét kỹ những đơn
thư đó, có công văn gửi cho các bộ, chính quyền
địa phương, cơ quan chủ quản, đồng thời thông
báo đến cá nhân, tập thể, cơ quan có đơn thư tố
cáo, khiếu nại; có trường hợp Thường trực Uỷ
ban đã trực tiếp nghe đương sự trình bày và trao
đổi với các cơ quan chức năng về biện pháp giải
quyết (ví dụ vụ việc ở Trường Đại học Dân lập
Đông Đô). Tuy nhiên, do vấn đề giải quyết đơn
thư tố cáo, khiếu nại của công dân chưa thực sự
đi vào nền nếp, nhiều vụ việc không được các cơ
quan chức năng xem xét, giải quyết đúng pháp
luật nên tình trạng gửi đơn thư vượt cấp, gửi
nhiều địa chỉ cùng một lúc hoặc nhiều ngời cùng
gửi về một vụ việc... vẫn diễn ra thường xuyên.
Có những vụ việc đã được giải quyết nhưng đương
sự không tán thành nên tiếp tục khiếu kiện.
Nhiều ý kiến đóng góp của cử tri về vấn đề giải
quyết chính sách cho các đối tượng là giáo viên,
văn nghệ sĩ, về việc bảo vệ di sản văn hoá dân
tộc, về các hiện tượng tiêu cực trong hoạt động
xuất bản, báo chí và các hoạt động văn hoá khác
gửi đến Uỷ ban, Thường trực Uỷ ban đã nghiên cứu
đưa vào nội dung lập pháp, giám sát của Uỷ ban.
c. Về tổ chức các cuộc hội thảo khoa học
Để có thêm cơ sở lý luận, thực tiễn và căn cứ
khoa học trong việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của Uỷ ban cũng như về những lĩnh vực chuyên
môn cụ thể, Thường trực Uỷ ban đã tổ chức hai
cuộc hội thảo tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh; phối hợp với Liên hiệp các hội khoa học -
kỹ thuật, Hội Luật gia Việt Nam tổ chức hội nghị
để tham khảo ý kiến các nhà khoa học, quản lý
giáo dục, các luật gia và các đại biểu Quốc hội
về Dự án Luật giáo dục (1998); phối hợp với Quỹ nhi đồng của Liên hợp quốc (UNICEF), Uỷ ban Bảo
vệ và Chăm sóc trẻ em Việt Nam tổ chức Hội thảo
"Các đại biểu Quốc hội về quyền trẻ em"
(1998) và "Pháp luật về trẻ em và quyền trẻ
em trong pháp luật Việt Nam" (1998);
phối
hợp với Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức Hội thảo về
Dự án Luật báo chí (1999); phối hợp với Thường
trực Uỷ ban về các vấn đề xã hội và đại diện Quỹ
dân số thế giới (UNFPA) tổ chức Hội thảo về "Giáo
dục dân số, giới tính trong nhà trường"
(1999); phối hợp với đại diện Quỹ nhi đồng của
Liên hợp quốc tại Việt Nam tổ chức Hội nghị "Các
đại biểu dân cử về kỹ năng, kinh nghiệm giám sát
việc thực hiện quyền trẻ em" (2000); tổ chức
cuộc Hội thảo "Về
dự án Luật di
sản văn hoá";
phối hợp với Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội
Nhà văn Việt Nam tổ chức lấy ý kiến đóng góp về
Dự án Luật di sản văn hoá (2001). Thông
qua các cuộc hội thảo nói trên, Thường trực Uỷ
ban đã có thêm nhiều thông tin, tư liệu để phục
vụ cho công tác lập pháp, giám sát và tham gia
quyết định những vấn đề quan trọng khác.
2.3. Hoạt động của Uỷ ban tại nhiệm kỳ Khoá XI
2.3.1. Về công tác lập pháp
Ngay sau phiên họp thứ nhất của Uỷ ban Khoá XI,
Thường trực Uỷ ban đã trao đổi với các ngành, tổ
chức hữu quan để nắm về yêu cầu xây dựng, ban
hành các văn bản pháp luật. Thường trực Uỷ ban
đã cử các đồng chí trong Thường trực Uỷ ban và
lãnh đạo Vụ chuyên môn tham gia vào các ban soạn
thảo và Ban biên tập một số dự án pháp luật như:
Nội quy kỳ họp; Quy chế hoạt động của đại biểu
Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội; Quy chế hoạt
động của các Uỷ ban của Quốc hội; Luật hoạt động
giám sát của Quốc hội...
Từ ngày 21 – 23/4/2003, Uỷ ban đã họp phiên toàn
thể để tham gia ý kiến về 8 dự án Luật trình
Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 3.
Trong các ngày 29 – 31/7/2003, Uỷ ban đã nghiên
cứu và tham gia ý kiến về 9 dự án Luật trình
Quốc hôị xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 4.
Các nội dung tham gia, đóng góp ý kiến của Uỷ
ban đã được gửi trực tiếp tới cơ quan soạn thảo
và cơ quan thẩm tra từng dự án luật.
Theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của
nhiệm kỳ Khoá XI và sự phân công của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, Uỷ ban chủ trì thẩm tra 7
dự án luật thuộc các lĩnh vực do Uỷ ban phụ
trách (Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Xuất bản; Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều cuả Luật Giáo dục; Luật Thanh niên, Luật
Điện ảnh, Luật Thể dục thể thao, Luật Dạy nghề).
Sau đây là kết quả thực hiện của Uỷ ban trong
việc tham gia xây dựng và thẩm tra các dự án
Luật nói trên.
a. Về Dự án Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em (sửa đổi)
Thường trực Uỷ ban đã nghe Uỷ ban Dân số, Gia
đình và trẻ em báo cáo về tình hình 12 năm thực
hiện Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em,
về tình hình chuẩn bị cho việc sửa đổi, bổ sung
Luật (9/12/2003); tổ chức hai Hội nghị
lấy ý kiến các chuyên gia luật pháp, các nhà
quản lý về Dự án Luật tại Hà Nội
(16-17/12/2003) và Thành phố Hồ Chí Minh
(2-3/2/2004); tổ chức Đoàn công tác của Uỷ
ban đi khảo sát về tình hình tổ chức hoạt động
của các cơ sở trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn tại tỉnh Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh
(4-7/2/2004); tham gia cùng Ban soạn thảo
và đại diện các cơ quan hữu quan chỉnh sửa bản
dự thảo Luật; tổ chức cuộc họp toàn thể Uỷ ban
để thẩm tra Dự án Luật lần thứ nhất
(5-6/1/2004) để báo cáo với Uỷ ban thường vụ
Quốc hội tại phiên họp thứ 15. Sau đó, Thường
trực Uỷ ban đã phối hợp với Ban soạn thảo tiếp
thu ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, của
các đại biểu Quốc hội chuyên trách, các đoàn đại
biểu Quốc hội để hoàn chỉnh dự thảo Luật trình
Uỷ ban thường vụ Quốc hội tại phiên họp thứ 18.
Thường trực Uỷ ban đã tổ chức Hội nghị toàn thể
Uỷ ban để thẩm tra vào ngày
9/4/2004.
Trên cơ sở ý kiến của các thành viên Uỷ
ban, Thường trực
Uỷ ban hoàn
chỉnh báo cáo thẩm tra để trình Quốc hội. Tại
kỳ họp thứ 5. Quốc hội Khoá XI đã xem xét, thông
qua Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em.
b. Về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Xuất bản
Ngay trong tháng 12/2003, Thường trực Uỷ ban đã
tiến hành khảo sát về hoạt động xuất bản, in,
phát hành tại hai nhà xuất bản (Văn hoá - Thông
tin và Thế giới), Tổng công ty Phát hành sách,
Thư viện Quốc gia và Công ty TNHH – Dịch vụ văn
hoá Mai Vũ trên địa bàn Hà Nội
(29-31/12/2003). Tiếp đó, đại diện Thường
trực Uỷ ban đi khảo sát tại Nhà xuất bản Trẻ,
Công ty Liksin, các công ty TNHH Minh Đức, Minh
Phúc, Công ty Thời đại Trẻ thuộc địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh (7-9/1/2004); khảo sát
tại các nhà xuất bản: Bản đồ, Khoa học – Kỹ
thuật, Thanh niên, Công ty in Thống nhất, Công
ty Phát hành sách Hà Nội (4-6/2/2004);
khảo sát tại một số cơ sở xuất bản, in, phát
hành và dịch vụ ở thành phố Hải Phòng và các
tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An (9-13/2/2004).
Bên cạnh việc tích cực tổ chức các đợt đi khảo
sát thực tế về tình hình thi hành Luật xuất bản
hiện hành và nghiên cứu các nội dung cần sửa
đổi, bổ sung vào Luật, Thường trực Uỷ ban đã
nghe đại diện lãnh đạo Bộ Văn hoá - Thông tin
báo cáo về tình hình 10 năm thi hành Luật Xuất
bản và tổ chức họp phiên toàn thể Uỷ ban để thẩm
tra lần thứ nhất Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xuất bản trong các ngày 7-
8/4/2004 để báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội
tại phiên họp thứ 18 và chuẩn bị báo cáo thẩm
tra trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 5 để Quốc hội
cho ý kiến về Dự án Luật.
Trên cơ sở ý kiến của đại biểu Quốc hội tại kỳ
họp thứ 5, Thường trực Uỷ ban đã phối hợp với
Ban Công tác lập pháp của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội, Ban soạn thảo chỉnh lý bản dự thảo; phối
hợp với Dự án DANIDA của Quốc hội Đan Mạch tổ
chức hai Hội nghị chuyên gia (tại Đồ Sơn:
23-24/7/04, tại Vũng Tàu: 8-9/9/04) để lấy ý
kiến về Dự án Luật. Tại phiên họp Uỷ ban trong
các ngày 15/9/04, Dự án Luật tiếp tục được Uỷ
ban thảo luận, tham gia ý kiến. Tại kỳ họp
thứ 6, Quốc hội Khoá XI đã xem xét, thông qua
Luật Xuất bản năm 2004.
c. Về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
cuả Luật Giáo dục
Trong 4 tháng đầu năm 2004, Thường trực Uỷ ban
đã làm việc với một số cơ sở đào tạo để nghe báo
cáo về tình hình giáo dục chuyên nghiệp và đổi
mới chương trình, sách giáo khoa lớp 2, lớp 7;
tình hình 5 năm thi hành Luật Giáo dục; tổ chức
Hội thảo để trao đổi ý kiến giữa các nhà quản
lý giáo dục, các nhà giáo về tình hình giáo dục
trong thời kỳ đổi mới (9 – 12/01/2004).
Tại phiên họp toàn thể Uỷ ban
(28-31/7/04),
bản dự thảo lần thứ 11 của Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Giáo dục đã được Uỷ ban
thảo luận, tham gia ý kiến. Tiếp đó, bản dự thảo
nói trên đã được Thường trực Uỷ ban tổ chức lấy
ý kiến tham gia tại Hội nghị với các nhà báo
(14-15/8/04).
Trong các ngày 14-15/9/04, Uỷ ban đã thẩm tra Dự
án Luật và thẩm tra bản báo cáo của Chính phủ
(lần thứ 5) về tình hình giáo dục để trình Uỷ
ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến tại phiên họp
thứ 22, chuẩn bị trình Quốc hội cho ý kiến tại
kỳ họp thứ 6.
Ngay sau kỳ họp thứ 6 của Quốc hội, Thường trực
Uỷ ban đã chỉ đạo Vụ chuyên môn tổng hợp ý kiến
đại biểu Quốc hội thảo luận, tham gia ý kiến về
Dự án Luật, đồng thời tham gia cùng Ban soạn
thảo tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật theo ý kiến
của đại biểu Quốc hội; tổ chức Hội nghị tiếp xúc
cử tri là các chuyên gia về pháp luật, các nhà
khoa học, các nhà quản lý giáo dục, với sự tham
dự của Chủ tịch Quốc hội, để nghe ý kiến về Dự
án Luật Giáo dục (sửa đổi)
(14/12/2004);
tổ chức Hội nghị tham khảo ý kiến của các nhà
quản lý giáo dục, Hiệu trưởng một số trường phổ
thông của 14 tỉnh, thành phố phía Bắc
(24/01/05);
tổ chức Hội nghị với Hiệu trưởng các trường đại
học dân lập
(22/02/05);
tổ chức hai Hội nghị để nghe ý kiến của đại diện
HĐND, các nhà quản lý giáo dục, giáo viên và phụ
huynh học sinh của 12 tỉnh, thành phố miền
Trung, Tây Nguyên và các tỉnh phía Nam tại thành
phố Huế
(21-22/3/05)
và thành phố Hồ Chí Minh
(23-24/3/05).
Đồng thời, Thường trực Uỷ ban tổ chức các cuộc
làm việc với Ban soạn thảo và đại diện Thường
trực Hội đồng Dân tộc, Uỷ ban Pháp luật, Ban
Công tác lập pháp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
đại diện lãnh đạo Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bộ Lao
động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính để
tiếp thu, chỉnh lý bản dự thảo theo ý kiến đại
biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 6 và tại Hội nghị
đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ
5.
Thường trực Uỷ ban đã phối hợp với Ban soạn thảo
chuẩn bị báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý
dự thảo Luật trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội tại
phiên họp thứ 28 (12/4/05); cùng với các
cơ quan hữu quan của Quốc hội làm việc với Bộ
Giáo dục và Đào tạo tiếp tục hoàn thiện bản dự
thảo Luật để trình Quốc hội. Ngày 14/6/05,
tại kỳ họp thứ 7, Quốc hộ iKhoá XI đã thông qua
toàn văn Luật Giáo dục năm 2005.
d. Về Dự án Luật Thanh niên
Đây là Dự án Luật được dự kiến xây dựng từ Quốc
hội Khoá VIII và đã trải qua nhiều ban soạn
thảo nên, đến năm 2004, bản dự thảo mà Ban Bí
thư Trung ương Đoàn TNCSHCM trình sang Thường
trực Uỷ ban được ghi là bản dự thảo lần thứ 17.
Ngày 23/3/2004, Thường trực Uỷ ban đã tổ chức
Hội nghị tham khảo ý kiến
các chuyên
gia về phạm vi điều chỉnh, định hướng nội dung
Dự án Luật Thanh niên.
Thường trực Uỷ ban đang phối hợp với Uỷ ban Quốc
gia về Thanh niên và Ban Bí thư Trung ương Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh tiếp tục lấy ý kiến của các
chuyên gia và các tổ chức, cá nhân
liên quan; tổ
chức khảo sát thực tế để chuẩn bị dự thảo Luật
đúng tiến độ.
Ngay từ đầu năm 2005, Thường trực Uỷ ban đã tổ
chức hai cuộc Hội thảo “Những vấn đề cơ bản
về Luật thanh niên” ở thành phố Hồ Chí Minh
(12-13/01/05) và Hà Nội (26-27/01/05).
Tại các cuộc Hội thảo này, sau khi nghe đại diện
Trung ương Đoàn TNCSHCM trình bày bản dự thảo
Luật do Trung ương Đoàn khởi thảo, các chuyên
gia về pháp luật và về công tác thanh niên đã
đóng góp nhiều ý kiến cụ thể về đối tượng, phạm
vi điều chỉnh, các chính sách cần thể hiện trong
Dự án Luật và bố cục các chương, điều của bản
dự thảo.
Trên cơ sở tham khảo ý kiến của các chuyên gia,
các nhà quản lý công tác thanh niên, Ban soạn
thảo đã bổ sung, chỉnh lý bản dự thảo Luật. Ngày
01/3/2005, Thường trực Uỷ ban họp thẩm tra sơ bộ
Dự án Luật và ngày 31/3/2005, Thường trực Uỷ ban
đã trình bày báo cáo thẩm tra sơ bộ tại phiên
họp thứ 27 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Ngày
21/4/2005, tại phiên họp toàn thể, Uỷ ban đã
thẩm tra Dự án Luật để chuẩn bị trình Quốc hội
cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7. Từ sau kỳ họp thứ 7
của Quốc hội, Thường trực Uỷ ban đã phối hợp với
Ban soạn thảo và các cơ quan hữu quan chỉnh sửa
bản dự thảo theo ý kiến đại biểu Quốc hội để
trình Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động
chuyên trách, tiếp đó hoàn chỉnh dự thảo và bản
giải trình, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội để
trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội tại phiên họp 32
và trình Quốc hội xem xét. Ngày 28/11/2005,
tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khoá XI đã biểu
quyết thông qua Luật Thanh niên.
d. Về Dự án Luật Điện ảnh
Để chuẩn bị cho việc thẩm tra Dự án Luật Điện
ảnh, ngay từ đầu năm 2005, Thường trực Uỷ ban đã
tổ chức các cuộc khảo sát về hoạt động điện ảnh
tại các thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hà Nội
và các tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long, Thái Nguyên,
Vĩnh Phúc, Cao Bằng, Thanh Hoá, Cà Mau, Bình
Dương; tổ chức hai cuộc hội thảo với các chuyên
gia và quản lý về điện ảnh tại Hà Nội
(30/8/05) và tại thành phố Hồ Chí Minh
(11/10/05). Ngày 17/8/2005, Uỷ ban đã họp
phiên toàn thể để thẩm tra Dự án Luật Điện ảnh
theo Tờ trình số 96/CP-XDPL, ngày 16/8/2005 của
Chính phủ. Tại phiên họp thứ 32 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, đại diện Thường trực Uỷ ban
đã trình bày bản báo cáo thẩm tra số 959
BC/VH-GD-TTN ngày 24/8/2005 của Uỷ ban. Sau khi
có ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thường
trực Uỷ ban đã làm việc với Ban soạn thảo để
hoàn chỉnh Dự án Luật. Ngày 24/10/2005, Uỷ ban
đã họp phiên toàn thể để thẩm tra Dự án Luật
theo Tờ trình số 123 CP/XDPL ngày 26/9/2005 của
Chính phủ trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp
thứ 8.
đ. Đối với các dự án luật khác
Thường trực Uỷ ban đã nghe đại diện Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội báo cáo về tình hình
chuẩn bị xây dựng Dự án Luật Dạy nghề; đại diện
Uỷ ban Thể dục thể thao báo cáo về tiến độ chuẩn
bị xây dựng Dự án Luật Thể dục thể thao; phối
hợp cùng các cơ quan hữu quan của Quốc hội góp
ý, tham gia thẩm tra một số dự án luật do các Uỷ
ban khác chủ trì thẩm tra.
Từ ngày 23 đến ngày 26/02/2005, Uỷ ban đã họp
phiên toàn thể để tham gia ý kiến về các dự án
luật trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ
họp thứ 7.
Từ ngày 11 đến ngày 16/8/2005, Uỷ ban đã họp
phiên toàn thể để tham gia ý kiến về các dự án
luật sẽ trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ
họp thứ 8.
Kết quả tham gia ý kiến của các thành viên Uỷ
ban đối với các dự án luật nói trên đã được
Thường trực Uỷ ban tổng hợp và gửi báo cáo về
Ban công tác lập pháp của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội.
e. Về thẩm tra báo cáo của Chính phủ và xây dựng
dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về giáo dục
Tại kỳ họp thứ 4 của Quốc hội, đại biểu Nguyễn
Đức Dũng (Kon Tum) có thư gửi Uỷ ban thường vụ
Quốc hội đề nghị thành lập Uỷ ban lâm thời để
điều tra về chất lượng giáo dục. Uỷ ban thường
vụ Quốc hội đã chuyển thư nói trên để Uỷ ban
nghiên cứu, đề xuất ý kiến. Ngày 25/11/2003, Uỷ
ban đã họp phiên toàn thể để bàn về vấn đề nói
trên. Qua thảo luận, các thành viên Uỷ ban đã
nhất trí đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội lấy ý
kiến các vị đại biểu Quốc hội về việc giao cho
Chính phủ tổ chức đánh giá về tình hình giáo
dục, trong đó chú trọng đánh giá về chất lượng
giáo dục. Trên cơ sở ý kiến đề xuất của Uỷ ban
và sự nhất trí của đa số các vị đại biểu Quốc
hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã có công văn
yêu cầu Chính phủ chuẩn bị báo cáo và Uỷ ban Văn
hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi
đồng của Quốc hội chuẩn bị thẩm tra. Sau khi
nhận được báo cáo của Chính phủ, trong hai ngày
14-15/9/2004, Uỷ ban đã họp toàn thể Uỷ ban để
thẩm tra và có báo cáo (số 634 BC/VH-GD-TTN ngày
20/9/2005) trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội; tiếp
đó có báo cáo số 654 BC/VH-GD-TTN ngày
11/10/2005 trình Quốc hội.
Ngày 3/12/2004, tại Kỳ họp thứ 6,
với sự xem xét cụ thể các báo cáo của Chính phủ
và của Uỷ ban (trong đó có cả dự thảo Nghị
quyết do Uỷ ban khởi thảo),
Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 37/2004/QH11
về giáo dục.
Đây là một trong những văn bản pháp lý quan
trọng góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về
giáo dục - đào tạo của nước nhà.
2.3.2. Về công tác giám sát
Cũng như các khoá trước, nội dung giám sát chủ
yếu của Uỷ ban là giám sát về tình hình thi hành
pháp luật và tình hình thực hiện các chính sách
của Nhà nước đối với các sự nghiệp văn hoá -
thông tin, giáo dục - đào tạo, thể dục thể thao
và công tác thanh thiếu nhi. Về hình thức giám
sát, Uỷ ban cũng thực hiện các hình thức, các
bước chuẩn bị, thực hiện như các khoá trước đây.
Vả lại, do chưa kết thúc khoá Quốc hội nên việc
tổng kết, đánh giá kết quả hoạt động của Uỷ ban
chưa được thực hiện. Vì vậy, chúng tôi chỉ nêu
một số tình hình tổ chức giám sát tiêu biểu của
Uỷ ban từ đầu nhiệm kỳ đến nay.
a. Giám sát qua việc xem xét báo cáo của các Bộ,
Ngành hữu quan
Tính đến tháng 10/2005, Thường trực Uỷ ban và
toàn thể Uỷ ban đã tổ chức 24 cuộc làm việc để
nghe và thảo luận báo cáo của các Bộ, Ngành hữu
quan. Đa số các cuộc làm việc nằm trong kế hoach
giám sát việc triển khai thực hiện các nghị
quyết của Quốc hội, đặc biệt là về tình hình thi
hành pháp luật, về phân bổ, quản lý và sử dụng
ngân sách, về thực hiện các chính sách đối với
các lĩnh vực văn hoá - thông tin, giáo dục - đào
tạo, bảo vệ, chăm sóc trẻ em, giải quyết việc
làm cho thanh niên...
Một trong những hoạt động giám sát tiêu biểu của
nhiệm kỳ Khoá XI của Uỷ ban là giám sát việc ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật. Ngoài các
hoạt động giám sát thường xuyên hàng năm (chủ
yếu là giao cho chuyên viên rà soát các văn bản
mới ban hành), thực hiện Kế hoạch số
324/UBTVQH11 ngày 02/4/2005 của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội về "Giám sát việc ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Viện Kiểm
sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao",
trong các ngày 16 và 17 tháng 6 năm 2005, Uỷ ban
đã thành lập Đoàn giám sát đến làm việc với đại
diện lãnh đạo và các đơn vị trực thuộc của Bộ
Giáo dục - Đào tạo, Bộ Văn hoá - Thông tin, Uỷ
ban Thể dục thể thao, Uỷ ban Dân số - Gia đình
và Trẻ em để nghe báo cáo về tình hình xây dựng
trình Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm
quyền các văn bản quy phạm pháp luật. Trên cơ sở
nghe báo cáo và tổng hợp, nghiên cứu các văn bản
quy phạm pháp luật của các bộ, uỷ ban nói trên,
ngày 19/7/2005, Uỷ ban đã gửi tới Uỷ ban thường
vụ Quốc hội bản báo cáo số 921 BC/VH-GD-TTN về
kết quả của đợt giám sát. Kết quả hoạt động giám
sát này đã góp phần vào kết quả báo cáo của Uỷ
ban thường vụ Quốc hội tại kỳ họp thứ 8.
b. Tổ chức các đoàn đi giám sát tại các địa
phương
Thường trực Uỷ ban đã tổ chức 13 đoàn đại biểu
Uỷ ban đi giám sát tình hình thực hiện Nghị
quyết của Quốc hội về nhiệm vụ của các năm 2003,
2004, 2005 trên tất cả các lĩnh vực do Uỷ ban
phụ trách tại 22 tỉnh, thành phố (năm 2003: 3
đoàn/9 địa phương, năm 2004: 4 đoàn/8 địa
phương, năm 2005: 5 đoàn/5 địa phương) và
39 đoàn đại biểu Uỷ ban đi khảo sát theo các
lĩnh vực hoặc theo một số nội dung cụ thể tại
các cơ sở giáo dục -
đào tạo, thể
dục thể thao, văn hoá - thông tin thuộc 59 tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương (2003:14
đoàn/22 địa phương, 2004: 15 đoàn/23 địa phương,
2005: 10 đoàn/14 địa phương). Nhờ có kết quả
giám sát, khảo sát theo chuyên đề do Uỷ ban và
Thường trực Uỷ ban thực hiện mà các báo cáo kết
quả thẩm tra của Uỷ ban đối với các dự án luật,
dự thảo nghị quyết, báo cáo kết quả công tác
hàng năm và các báo cáo chuyên đề đã chứa đựng
nhiều cơ sở, số liệu, tư liệu thực tiễn sinh
động, góp phần vào thành tựu chung của Quốc hội.
2.3.3. Các công tác khác
a. Công tác đối ngoại
Thực hiện chương trình hoạt động đối ngoại của
Quốc hội, trong Quốc hội Khoá XI, Uỷ ban đã cử
các đoàn đại biểu Uỷ ban đi thăm và trao đổi
kinh nghiệm với các uỷ ban tương ứng của quốc
hội các nước: Thái - lan, Xinh - ga - po ( cuối
năm 2002); Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc (2003); Pháp,
Ai Cập (2004); Nam Phi (2005). Ngoài ra, trong
khuôn khổ hoạt động của Dự án của Quốc hội Đan
Mạch (DANIDA), một đoàn đại biểu - nòng cốt là
một số thành viên Uỷ ban - đã đi nghiên cứu về
hoạt động xuất bản tại Vương quốc Hà Lan và Cộng
hoà ấn Độ (2004); theo Dự án của Quốc hội Thuỵ
Điển, hai đoàn đại biểu gồm một số đại biểu Quốc
hội và nhà giáo - một đoàn do Chủ nhiệm và một
đoàn do một Phó Chủ nhiệm Uỷ ban dẫn đầu đã đi
nghiên cứu công tác thông tin và giáo dục về
quốc hội trong nhà trường phổ thông tại Thuỵ
Điển, Lát -via (2003) và Thuỵ Điển (2004); theo
Chương trình Khách tham quan quốc tế của
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, một đoàn đại biểu Thường
trực Uỷ ban đã đi nghiên cứu về tình hình giáo
dục và đào tạo tại Hoa Kỳ (2005).
Thường trực Uỷ ban đã trực tiếp hoặc cử người
tham gia nhiều hoạt động đối ngoại của Quốc hội,
như dự một số hội nghị, hội thảo quốc tế, tiếp
các đoàn đại biểu quốc hội các nước, trao đổi
kình nghiệm về công tác chuyên môn với đại diện
một số tổ chức quốc tế... Đặc biệt, Thường trực
Uỷ ban đã nhận được sự phối hợp, tham gia tích
cực của Quỹ Nhi đồng của Liên hợp quốc (UNICEF)
đối với các hoạt động xây dựng pháp luật và thực
hiện các chính sách đối với thanh thiếu nhi.
b. Về công tác dân nguyện
Trong nhiệm kỳ Khoá XI, Thường trực Uỷ ban đã
nhận được 687 lượt đơn thư dân nguyện, khiếu
nại, tố cáo (2003: 201 lượt đơn, 2004: 276 lượt
đơn, 2005: 210 lượt đơn).
Về nội dung, đa số đơn thư của công dân phản ánh
ý kiến, nguyện vọng về vấn đề giải quyết những
khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông; về chế độ,
chính sách đối với giáo viên ở các vùng khó
khăn; tố cáo, khiếu nại về những biểu hiện tiêu
cực trong việc thu chi tài chính ở một số trường
học; về sự xâm hại đối với một số di tích lịch
sử, văn hoá; những yêu cầu của cử tri về cải
chính trên báo chí những thông tin mà cử tri cho
là sai...
Về xử lý đối với đơn thư, căn cứ vào Luật khiếu
nại tố cáo, Thường trực Uỷ ban đã gửi những đơn
thư thuộc thẩm quyền giải quyết của các bộ,
ngành hoặc địa phương để các cơ quan xem xét,
giải quyết , trả lời đương sự và báo cáo kết quả
với Thường trực Uỷ ban. Đối với các đơn thư
thuộc các lĩnh vực do Hội đồng, các Uỷ ban khác
của Quốc hội theo dõi, Thường trực Uỷ ban đã chỉ
đạo Vụ chuyên môn chuyển tới các cơ quan đó theo
qui định của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Trong nhiệm kỳ vừa qua, Thường trực Uỷ ban đã
nhận được khá nhiều công văn trả lời của các bộ,
ngành, địa phương về kết quả xem xét, xử lý. Tuy
nhiên, tỉ lệ đơn thư được trả lời còn thấp,
nhiều đơn thư chưa được giải quyết dứt điểm và
trả lời cho đương sự.
c. Một số công tác khác
Trong quý 3 và quý 4 năm 2003, Thường trực Uỷ
ban đã tổ chức ba cuộc Hội thảo, với các nội
dung “Vấn đề bảo vệ và phát huy di sản văn
hoá trong sự nghiệp đổi mới” (21-22/8/2003),“Những
giải pháp nhằm tăng cường bảo vệ và chăm sóc trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn”
(18-19/9/2003), “Giáo dục nghề nghiệp- thực
trạng và giải pháp” (8-9/10/2003); phối hợp
với Ban Điều hành Dự án VIE/02/008 tổ chức Hội
nghị tập huấn về Tăng cường năng lực thẩm tra
ngân sách nhà nước cho các thành viên Uỷ ban
và một số đại biểu Quốc hội công tác trên các
lĩnh vực giáo dục - đào tạo, văn hoá - thông tin
(5-7/10/2003).
Trong năm 2004 và 2005, Thường trực Uỷ ban đã
phối hợp với UNICEF tổ chức 5 cuộc tập huấn
“Pháp luật quốc gia và quốc tế về quyền trẻ em”
cho các đại biểu Quốc hội và HĐND các tỉnh Nam
Trung bộ và Tây Nguyên, tại thành phố Đà Nẵng
(27-28/12/04); các tỉnh Bắc Trung bộ, tại
thành phố Huế (29-30/12/04); các đại biểu
dân cử các tỉnh phía Bắc, tại Hà Nội
(19-20/8/05), tại Hải Phòng (7-8/10/05)
và tại Cần Thơ (20-21/12/05).
Ngày 26/3/2005, Thường trực Uỷ ban đã phối hợp
với Thường trực Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của
Quốc hội, Chương trình Phát triển của Liên Hợp
quốc tại Việt Nam (UNDP) và Bộ Giáo dục – Đào
tạo tổ chức cuộc Toạ đàm cấp cao về “cơ chế,
chính sách tài chính trong lĩnh vực giáo dục và
đào tạo”. Đại diện lãnh đạo Bộ Giáo dục –
Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Kiểm toán nhà
nước và đại diện HĐND 11 tỉnh, thành phố tham
gia Dự án VIE/02/008 cùng đại diện các cơ quan
hữu quan của Quốc hội đã thảo luận xung quanh
vấn đề cơ chế, chính sách và những vấn đề cần
quan tâm trong việc dự
toán, phân
bổ, quản lý, sử dụng và giám sát về ngân sách
dành cho giáo dục - đào tạo.
Cũng trong năm 2005, Thường trực Uỷ ban phối hợp
với UNICEF tổ chức Hội nghị về "Phòng, chống
tai nạn, thương tích cho trẻ em" khu vực
phía Nam, tại TP. Hồ Chí Minh (23- 24/ 9/05),
khu vực phía Bắc, tại Quảng Ninh
(14-15/12/05).
3. Về một số kiến nghị của uỷ ban
Trước khi kết thúc Khoá IX và Khoá X, Uỷ ban đều
có báo cáo tổng kết nhiệm kỳ, trong đó có sự
đánh giá đầy đủ các mặt hoạt động của Uỷ ban. Về
cơ bản, các nội dung đánh giá đã được thể hiện
tại các phần trên của bài viết này. Dưới đây,
chúng tôi chỉ xin nêu lên một số kiến nghị của
Uỷ ban về một số vấn đề liên quan đến tổ chức và
hoạt động của Uỷ ban nói riêng và của Quốc hội
nói chung.
Trong bản báo cáo tổng kết nhiệm kỳ Khoá IX, Uỷ
ban đề nghị:
- Về cơ cấu đại biểu Uỷ ban, cần có sự nghiên
cứu cân đối giữa đại biểu hoạt động nghiên cứu
về chính sách ở tầm vĩ mô, am hiểu quản lý với
các đại biểu hoạt động chuyên môn và cơ sở, giữa
chuyên ngành và luật pháp. Trong Quy chế hoạt
động của các Uỷ ban của Quốc hội, cần quy định
tiêu chuẩn thành viên Uỷ ban. Vấn đề này cần
được nghiên cứu, ngoài tiêu chuẩn của đại biểu
Quốc hội, cần phải có thêm những tiêu chuẩn như:
Am hiểu về chuyên môn thuộc lĩnh vực của Uỷ ban,
có tinh thần trách nhiệm cao và có điều kiện
hoạt động. Cần quy định rõ trách nhiệm và quyền
lợi của thành viên. Về số lượng, ngoài thường
trực, số thành viên Uỷ ban không quá 21 đại
biểu, số thành viên chuyên trách phải hoạt động
tập trung chứ không ở đoàn đại biểu Quốc hội. Về
Thường trực Uỷ ban, có Chủ nhiệm, ba Phó Chủ
nhiệm phụ trách ba lĩnh vực (văn hoá - thông
tin, giáo dục - đào tạo, thanh thiếu nhi và thể
thao). Về tên gọi của Uỷ ban, nên đổi thành
Uỷ ban Văn hoá và Giáo dục, vì thanh niên,
thiếu niên và nhi đồng là đối tượng của văn hoá
và giáo dục.
- Về tổ chức Quốc hội, nên giữ tiêu chuẩn đại
biểu Quốc hội như quy định của Luật bầu cử đại
biểu Quốc hội. Số lượng đại biểu Quốc hội nên
bầu khoảng 400 đại biểu. Cần thiết phải duy trì
cơ cấu, nhưng hết sức quan tâm và coi trọng chất
lượng đại biểu sao cho có sự kết hợp một cách
hài hoà và hoạt động có hiệu quả. Việc lựa chọn
đại biểu chuyên trách ở các Uỷ ban và các đoàn
đại biểu sao cho thích hợp và đáp ứng được yêu
cầu. Về Uỷ ban thường vụ Quốc hội, số lượng ít
nhất cũng phải bảo đảm tuỳ theo sự phát triển về
tổ chức như Quốc hội Khoá IX, có thể bố trí 15
đến 17 người. Nên có 4 Phó Chủ tịch phụ trách
các lĩnh vực: Kinh tế - ngân sách, văn hoá - xã
hội, pháp luật, an ninh - quốc phòng; về đối
ngoại do Chủ tịch Quốc hội trực tiếp phụ trách,
Phó Chủ tịch tập trung vào công tác chung của
Quốc hội, cố gắng không bố trí kiêm nhiệm chức
danh Chủ nhiệm các Uỷ ban.
- Cần có sự phân công, phân nhiệm cụ thể và kiểm
tra sự phối hợp, điều hành của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội về công tác dân nguyện để đẩy mạnh chất
lượng hoạt động của công tác này.
- Để tăng hiệu quả giải quyết các kiến nghị của
Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, nên
có những quy định về trách nhiệm cụ thể của cơ
quan kiến nghị cũng như cơ quan giải quyết kiến
nghị.
- Căn cứ vào Nghị quyết số 02 NQ-UBTVQH9 ngày
17/10/1992 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, đề
nghị nghiên cứu thành lập tờ báo của Quốc hội -
cơ quan ngôn luận của Quốc hội, diễn đàn của
nhân dân.
Trong bản báo cáo tổng kết nhiệm kỳ Khoá X, nội
dung các đề nghị của Uỷ ban cơ bản cũng như các
kiến nghị nêu trên, chỉ có một vài sự khác biệt,
như: Về số thành viên Uỷ ban, nên giữ con số
trên 30 đại biểu, với tỷ trọng tương xứng với ba
lĩnh vực. Về Thường trực Uỷ ban, ngoài chức danh
Chủ nhiệm Uỷ ban, nên có 4 Phó Chủ nhiệm hoạt
động theo chế độ chuyên trách, trong đó riêng
lĩnh vực giáo dục - đào tạo có một Phó Chủ nhiệm
phụ trách về đào tạo, một Phó Chủ nhiệm phụ
trách về giáo dục phổ thông và mầm non, còn các
lĩnh vực khác vẫn giữ như đề nghị của Khoá
trước. Đối với tên gọi của Uỷ ban, Uỷ ban của
Quốc hội Khoá X cho rằng, các Uỷ ban khác đều
được đắt tên theo lĩnh vực phụ trách mà không
phân định theo đối tượng, vì vậy nên đổi tên
thành Uỷ ban Văn hoá và Giáo dục hoặc
Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục và Thanh Thiếu Nhi,
vì về lĩnh vực mà Uỷ ban phụ trách vẫn bao gồm
văn hoá - thông tin, giáo dục - đào toạ, thể dục
thể thao, thanh niên, thiêu sniên và nhi đồng.
Đối với Quốc hội điểm nổi bật là Uỷ ban đề nghị
Quốc hội tăng cường số đại biểu Quốc hội chuyên
trách, trong đó các đại biểu chuyên trách của
các Uỷ ban, bộ máy giúp việc Quốc hội, các cơ
quan của Quốc hội cũng cần được tăng cường; các
vụ chuyên môn của Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban
phải được tổ chức gọn nhưng có đủ số lượng cần
thiết để thực hiện nhiệm vụ được giao.
Nếu đem so sánh các kiến nghị của Uỷ ban với
tình hình thực tế của Uỷ ban và của Quốc hội
trong Khoá XI của Quốc hội thì rõ ràng là nhiều
nội dung đã được các cơ quan của Quốc hội và
Quốc hội tiếp thu toàn bộ hoặc một phần. Chắc
chắn rằng, sắp tới đây, Uỷ ban của Quốc hội Khoá
XI sẽ dựa trên cơ sở kinh nghiệm tổ chức và hoạt
động thực tiễn của nhiệm kỳ và những yêu cầu mới
của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, hội nhập quốc tế để tổng kết, đánh giá kết
quả hoạt động của Uỷ ban một cách khách quan,
đầy đủ và khoa học.
Trên đây là sự tổng hợp kèm theo sự giải trình
về thực trạng tổ chức và hoạt động của Uỷ ban
Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi
đồng của Quốc hội trong gần 3 khoá Quốc hội -
một giai đoạn ngắn ngủi so với 60 năm Quốc hội
Việt Nam - mà chúng tôi mong muốn góp phần bổ
sung vào hệ thống các tài liệu chung của Quốc
hội nói riêng, của Nhà nước ta nói chung.
|