|
60 NĂM QUỐC HỘI VÀ SỰ HOÀN THIỆN
CHẾ ĐỘ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
TS. Phan Trung Lý
Phó Chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật của Quốc hội
Kể từ ngày 6/1/1946 ngày bầu cử đại biểu
Quốc hội đầu tiên của nước ta đến nay đã 60
năm. 60 năm hình thành và phát triển của
Quốc hội cũng chính là quá trình hoàn thiện
chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội. Cùng với sự
phát triển dân chủ chế độ bầu cử đại biểu
Quốc hội ở nước ta đã từng bước được hoàn
thiện.
Ở nước ta, chế độ bầu cử đã được hành thành
từ những quy định trong các văn bản pháp
luật đầu tiên của nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa. Chế độ bầu cử đó đã được khẳng
định qua các quy định của Hiến pháp, Luật
bầu cử và các văn bản pháp luật khác đã góp
phần quan trọng vào việc xây dựng và củng cố
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân. Qua việc tổ chức thành
công bầu cử đại biểu mười một khóa Quốc hội
cơ chế bầu cử đang ngày càng thực sự trở
thành phương thức hữu hiệu để nhân dân lựa
chọn người đại biểu đại diện cho mình ở cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất.
1. 60 năm Quốc hội và sự hoàn thiện cơ sở lý
luận và pháp lý của chế độ bầu cử
Cơ sở lý luận về bầu cử đại biểu Quốc hội đã
được Bác Hồ đặt nền móng từ rất sớm trên con
đường Người đi tìm mô hình Nhà nước kiểu
mới.
Trên cơ sở học thuyết
Mác – Lênin Bác Hồ đã nêu lên sự cần thiết
của thiết chế Nghị viện (Quốc hội) trong bộ
máy Nhà nước. Trong bản Yêu sách đến Hội
nghị Vecxây năm 1919 Người đã coi hoạt động
nghị viện như là một phương thức hoạt động
quan trọng, việc cử nghị viện là một quyền
chính đáng của nhân dân.
Coi trọng đại biểu của nhân dân, chủ trương
quyền lực thuộc về nhân dân đã trở thành
quan điểm chủ đạo xuyên suốt trong tư tưởng
Hồ Chí Minh. Chủ trương đó được quán triệt
và thực hiện trong suốt quá trình Đảng và
Bác Hồ lãnh đạo cách mạng. Tư tưởng của Bác
về chính quyền của nhân dân, về Quốc hội, về
bầu cử đã được tiếp tục phát triển và thể
hiện rõ trong các Nghị quyết Đại hội Đảng,
trong Chỉ thị, Nghị quyết của Bộ chính trị,
Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành trung
ương Đảng các khóa.
Ngay sau khi cách mạng
tháng 8 thành công một trong những công việc
mà Bác Hồ đề nghị Chính phủ phải tập trung
giải quyết là vấn đề tổ chức tổng tuyển cử
bầu Quốc dân đại hội. Người khẳng định: “
Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi
đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng tốt
cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu
phiếu”.
Theo tinh thần đó Bác Hồ đã ký Sắc lệnh số
14 (8/9/1945) và Sắc lệnh số 51 (17/10/45)
về tổ chức tổng tuyển cử. Và cuộc tổng tuyển
cử đó đã được tiến hành, ngày 6/1/1946, Quốc
hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa đã được nhân dân cả nước bầu ra, và cũng
từ đó, Quốc hội từng bước được củng cố, phát
triển thành một thiết chế là cơ quan đại
biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền
lực Nhà nước cao nhất của nước ta.
Những quy định về bầu cử và các nguyên tắc
bầu cử quy định trong các văn bản đầu tiên
về tổng tuyển cử đã được tiếp tục khẳng định
trong Hiến pháp đầu tiên của nước ta, Hiến
pháp năm 1946 và được phát triển trong các
Hiến pháp tiếp theo, được cụ thể hóa trong
các Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1960,
1964, 1980, 1997 và 2001 và các văn bản pháp
luật khác về bầu cử. Trong Hiến pháp 1946,
lần đầu tiên trong một văn bản pháp luật có
hiệu lực cao nhất đã trang trọng ghi nhận
quyền bầu cử và ứng cử của công dân Việt Nam
không kể trai, gái, giàu, nghèo, dân tộc,
tôn giáo. Việc bầu cử cũng được tuyên bố là
phổ thông đầu phiếu. Hiến pháp 1959 và Hiến
pháp 1980 tiếp tục khẳng định quyền bầu cử,
ứng cử của công dân và các nguyên tắc bầu cử
ở nước ta. Những quy định đó được cụ thể hóa
trong các luật và pháp luật về bầu cử làm cơ
sở pháp lý quan trọng cho các cuộc bầu cử
Đại biểu Quốc hội khóa II, khóa III, khóa
IV, khóa V và khóa VI, khóa VII, khóa VIII.
Đây chính là bước tiến mới với những nội
dung đổi mới quan trọng về bầu cử đã được
thể hiện trong Hiến pháp 1992 và Hiến pháp
1992 được sửa đổi năm 2001 và các Luật bầu
cử đại biểu Quốc hội. Những quy định đó đã
tạo nên cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức
thành công các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội
khóa IX, khóa X và khóa XI.
Nhìn chung, các Hiến pháp và các văn bản
pháp luật về bầu cử ở nước ta qua các thời
kỳ, các Hiến pháp đều khẳng định nguyên tắc
bầu cử bình đẳng, phổ thông, trực tiếp và bỏ
phiếu kín, xác định quyền bầu cử và ứng cử
của công dân làm cơ sở cho việc đổi mới công
tác bầu cử, phát huy quyền dân chủ, sức
mạnh, trí tuệ của nhân dân để giới thiệu
người ứng cử, tự ứng cử và lựa chọn những
người có đủ tiêu chuẩn tham gia Quốc hội.
Trên cơ sở những quy định của Hiến pháp và
các văn bản pháp luật về bầu cử dưới sự lãnh
đạo của Đảng các cuộc bầu cử đại biểu Quốc
hội nước ta đã được tổ chức thắng lợi. Cụ
thể là Quốc hội khóa I (1946 – 1960) với 403
đại biểu, Quốc hội khóa II (1960 – 1964) với
453 đại biểu, Quốc hội khóa III (1964 –
1971) với 455 đại biểu, Quốc hội khóa IV
(1971- 1975) với 420 đại biểu, Quốc hội khóa
V (1975 – 1976) với 424 đại biểu, Quốc hội
khóa VI (1976 – 1981) với 492 đại biểu, Quốc
hội khóa VII (1981 – 1987) với 496 đại biểu,
Quốc hội khóa VIII (1987 – 1992) với 496 đại
biểu, Quốc hội khóa IX (1992 – 1997) với 395
đại biểu, Quốc hội khóa X (1997 – 2002) với
450 đại biểu, Quốc hội khóa XI (2002 – 2007)
với 498 đại biểu.
2. Quy định và hoàn thiện các quy định về
nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội
Bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta được tiến
hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng,
trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đó là tư tưởng
chỉ đạo quan trọng để xây dựng chế độ bầu cử
công khai, dân chủ. Các nguyên tắc bầu cử
thống nhất với nhau, đảm bảo cho cuộc bầu cử
khách quan, thể hiện đúng nguyện vọng của cử
tri khi lựa chọn đại biểu đại diện cho mình.
Đó cũng chính là yêu cầu mà Chủ tịch Hồ Chí
Minh nêu lên khi Người nói về tổng tuyển cử:
“ Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc
dân tự do lựa chọn những người có đức, có
tài để ra gánh vác công việc nhà nước. Trong
cuộc tổng tuyển cử, hễ là những người muốn
lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ
là công dân đều có quyền ra bầu cử… Do tổng
tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc
hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thực sự
là Chính phủ của toàn dân”.
Bầu cử là công việc của mọi người, là sự
kiện chính trị xã hội. Cuộc bầu cử được tiến
hành đều khắp trong cả nước. Nguyên tắc này
đóng vai trò quan trọng bảo đảm để công dân
thực hiện quyền bầu cử, ứng cử của mình.
Yêu cầu bảo đảm sự bình đẳng, khách quan
trong bầu cử được thể hiện trong các quy
định của pháp luật về bầu cử. Công dân được
tạo điều kiện, khả năng bình đẳng với nhau
để tham gia bầu cử. Công dân có đủ điều kiện
quy định của pháp luật thì được ghi tên vào
danh sách cử tri và chỉ một danh sách cử
tri. Với số lượng dân như nhau thì được bầu
số đại biểu bằng nhau. Mỗi người ứng cử chỉ
được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử. Mỗi
cử tri chỉ có một phiếu bầu.
Pháp luật cũng đã có quy định để đồng bào
dân tộc thiểu số và phụ nữ có số đại biểu
thích đáng trong Quốc hội.
Nguyên tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực
tiếp, bỏ phiếu kín đã càng ngày càng được
quy định cụ thể, rõ ràng và được bảo đảm
thực hiện để cử tri trực tiếp lựa chọn người
đủ tín nhiệm vào cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất bằng lá phiếu của mình, không qua
khâu trung gian.
3. Bảo đảm quyền bầu cử, ứng cử của công dân
Ngay trong những văn bản đầu tiên về bầu cử
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nêu yêu cầu
phải tạo điều kiện cho người dân thực hiện
quyền bầu cử, ứng cử của mình. Đã là công
dân Việt Nam thì ai cũng có quyền bầu cử,
ứng cử, không phân biệt gái trai, nòi giống,
giàu nghèo. Quyền bầu cử, ứng cử của công
dân được quy định trong Hiến pháp, trong
luật, được bảo đảm thực hiện trong thực tế
cuộc sống.
Quyền bầu cử là quyền của công dân lựa chọn
bầu người xứng đáng đại diện cho mình ở cơ
quan quyền lực nhà nước. Hiến pháp nước ta
cũng như Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy
định : “ Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam
nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo,
trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư
trú, đủ mười tám tuổi trở lên có quyền ứng
cử, đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền
ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định của
pháp luật”.
Quyền bầu cử bao gồm quyền giới thiệu người
ứng cử (đề cử), quyền tham gia các hoạt động
bầu cử và quyền bỏ phiếu bầu. Trong lịch sử,
ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau, mức độ
thể hiện của các quyền này không hoàn toàn
giống nhau. Nhưng ở bất cứ giai đoạn nào
quyền bầu cử của công dân cũng được bảo đảm.
Luật bầu cử hiện hành quy định về quyền bầu
cử và những trường hợp mà công dân không
được ghi tên vào danh sách cử tri. Theo quy
định này thì người đang bị tước quyền bầu cử
theo bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật, người đang phải chấp
hành hình phạt tù, người đang bị tạm giam và
người mất năng lực hành vi dân sự thì không
được ghi tên vào danh sách cử tri.
Luật bầu cử cũng đã quy định cụ thể những
người không được ứng cử đại biểu Quốc hội,
đó là những người thuộc trường hợp mà theo
quy định của Luật bầu cử là bị tước quyền
bầu cử, người đang bị khởi tố về hình sự,
người đang phải chấp hành bản án, quyết định
hình sự của Tòa án, người đã chấp hành xong
bản án, quyết định hình sự của Tòa án nhưng
chưa được xóa án, người đang chấp hành quyết
định xử lý hành chính về giáo dục tại xã,
phường, thị trấn, tại cơ sở giáo dục, cơ sở
chữa bệnh hoặc đang bị quản chế hành
chính.Việc tổng kết thực tiễn để đưa vào
Luật những quy định này đã thể hiện tính
công khai, minh bạch của pháp luật về bầu
cử, bảo đảm để công dân thực hiện ngày càng
đầy đủ hơn quyền bầu cử, ứng cử của mình.
Việc quy định trong luật và tổ chức thực
hiện quy định về tự ứng cử cũng là một thể
hiện rõ nét chủ trương mở rộng dân chủ trong
bầu cử. Thực ra, tự ứng cử đại biểu Quốc hội
không phải là vấn đề mới ngay từ khi Quốc
hội khóa đầu tiên khi nước nhà mới giành độc
lập, vấn đề này đã được đặt ra và thực hiện
trên thực tế. “Trong cuộc tổng tuyển cử hễ
là người muốn lo việc nước thì đều có quyền
ra ứng cử, hễ là công dân đều có quyền bầu
cử”. Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội các
khóa vừa qua, có nhiều người tự ứng cử được
Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở các tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương lựa chọn,
đưa vào danh sách chính thức những người ứng
cử. Kết quả là khóa X có 3 người; khóa XI có
2 người đã được cử tri tín nhiệm bầu làm đại
biểu Quốc hội. Việc có những người tự ứng cử
trúng cử là rất đáng hoan nghênh thể hiện sự
phát triển một bước của dân chủ trong bầu
cử.
4. Giải quyết ngày càng tốt hơn mối quan hệ
giữa tiêu chuẩn và cơ cấu
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân. Đại biểu Quốc hội là người có đủ
phẩm chất và năng lực để tham gia quyết định
các vấn đề quan trọng của đất nước, là người
đại diện của dân, được nhân dân lựa chọn và
tín nhiệm bầu ra một cách dân chủ.
Để có được những đại biểu như vậy thì vấn đề
tiêu chuẩn và cơ cấu luôn là vấn đề cần được
quan tâm. Tùy theo yêu cầu của mỗi giai đoạn
khác nhau mà xem xét giải quyết quan hệ giữa
tiêu chuẩn và cơ cấu ở các khía cạnh không
giống nhau. Nhưng, nhìn chung trong quá
trình hoàn thiện cơ chế bầu cử chúng ta luôn
đề ra yêu cầu bảo đảm tiêu chuẩn là chính.
Trên cơ sở tiêu chuẩn mà quan tâm đến cơ cấu
một cách hợp lý. Trong Luật bầu cử đại biểu
Quốc hội năm 1997 và Luật tiếp theo tiêu
chuẩn đại biểu Quốc hội đã được quy định
trong Luật. Đại biểu Quốc hội là người trung
thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt;
kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và
biểu hiện tiêu cực trong xã hội; có trình độ
năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu; liên
hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến
của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm; có
điều kiện tham gia hoạt động Quốc hội.
Ở
nước ta, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân.
Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông
qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
Đại biểu Quốc hội phải là người đại diện cho
cử tri ở đơn vị bầu cử, ở địa phương mà mình
được bầu, cử tri ngành mình, giới mình và cử
tri cả nước.
Trong các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội vấn
đề tiêu chuẩn và cơ cấu đã được quan trâm
giải quyết nên chất lượng đại biểu được bảo
đảm. Cùng với trình độ dân trí, trình độ học
vấn của đại biểu Quốc hội các khóa cũng được
nâng lên. Quốc hội khóa V có 35,6% tổng số
đại biểu có trình độ đại học trở lên (trong
đó có 6,1% trên đại học), thì khóa X có 91%
(trong đó có 20% trên đại học), khóa XI có
93,37% (trong đó có 25,30% trên đại học).
5. Hoàn thiện cơ chế bảo đảm hiệp thương,
lựa chọn giới thiệu người ứng cử
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính
trị của chính quyền nhân dân, cầu nối giữa
nhân dân với Đảng và Nhà nước. Một trong
những nhiệm vụ quan trọng của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam là hiệp thương, lựa chọn để
giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc
hội. Vai trò đó đã được ghi nhận trong các
văn bản pháp luật về bầu cử.
-
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 quy
định: “ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức
hiệp thương lựa chọn, giới thiệu nhiều ứng
cử đại biểu Quốc hội”.
-
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội đã dành các
điều quy định về trình tự, thủ tục các bước
tiến hành hiệp thương của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
Để triển khai công tác hiệp thương, giới
thiệu, lựa chọn người ứng cử đại biểu Quốc
hội được dân chủ, đúng thời gian, tiến độ
theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc
hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã xây dựng
quy trình năm bước để thực hiện công tác
này.
Để việc chuẩn bị bầu cử nhất là các bước
hiệp thương giới thiệu người ứng cử được
tiến hành cẩn trọng, chất lượng, pháp luật
về bầu cử đã từng bước quy định việc tăng
thời gian bầu cử theo quy định của Luật bầu
cử đại biểu Quốc hội năm 2001 thì thời gian
công bố ngày bầu cử đại biểu Quốc hội được
tăng từ chậm nhất là 90 ngày lên chậm nhất
là 105 ngày trước ngày bầu cử, để đỡ cập
rập, vội vàng trong các bước chuẩn bị của
quy trình bầu cử đại biểu Quốc hội.
Luật đại biểu Quốc hội năm 1997 quy định có
dự kiến lần thứ nhất, lần thứ hai và lần thứ
ba. Thực chất dự kiến lần thứ 2 và lần thứ 3
là điều chỉnh cơ cấu, thành phần và số lượng
người ứng cử đại biểu Quốc hội của cơ quan,
tổ chức, đơn vị. Để phù hợp với thực tế,
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 2001 đã bổ
sung quy định Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ
dự kiến cơ cấu, thành phần số lượng đại biểu
Quốc hội lần đầu, còn sau đó là điều chỉnh
lần thứ nhất, lần thứ hai trên cơ sở kết quả
Hội nghị hiệp thương lần thứ hai, thứ ba.
Những sửa đổi này xuất phát từ thực tiễn
phục vụ các cuộc bầu cử và cũng chính là
những kiến nghị của đề tài khoa học này
trong quá trình chuẩn bị sửa đổi Luật và đã
được tiếp thu.
6. Hoàn thiện quy định về tuyên truyền vận
động bầu cử
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội càng ngày càng
quy định cụ thể hơn việc tuyên truyền, vận
động bầu cử. Trong Luật bầu cử đại biểu Quốc
hội 1960, 1980, 1992 có một điều thì trong
Luật bầu cử 1997 và hiện hành đã có bốn điều
quy định về tuyên truyền, vận động bầu cử.
Theo quy định của pháp luật thì người được
giới thiệu ứng cử có quyền vận động bầu cử
thông qua việc gặp gỡ, tiếp xúc cử tri do
Mặt trận tổ chức để người được giới thiệu
ứng cử báo cáo với cử tri kế hoạch thực hiện
nhiệm vụ của mình nếu được bầu làm đại biểu
Quốc hội.
Pháp luật cũng đã quy định một số nội dung
khác về tuyên truyền, vận động bầu cử như
người được giới thiệu ứng cử phát biểu trên
các phương tiện thông tin đại chúng ở trung
ương và địa phương. Theo chúng tôi, quy định
như vậy là chặt chễ nhưng chưa tạo ra được
không khí sôi nổi trong vận động bầu cử,
chưa tạo điều kiện để cử tri hiểu rõ người
mà mình chọn để bầu. Cần nghiên cứu để xây
dựng cơ chế tranh cử và vận động tranh cử,
theo đó những người ứng cử được thể hiện đầy
đủ năng lực, trình độ đại diện của mình bao
gồm cả chương trình hành động, kế hoạch thực
hiện và kỹ năng cụ thể thực hiện chương
trình kế hoạch đó. Cũng theo cơ chế đó cử
tri có thể tìm hiểu kỹ hơn cả về nhận thức,
tư tưởng, hành động và khả năng thực tế của
người mà mình sẽ chọn bầu dưới nhiều góc độ
thể hiện khác nhau (qua việc thiết kế chương
trình hành động, kế hoạch thực hiện và khả
năng trình bày ý kiến, kỹ năng hành động của
người đó)
7. Một số kiến nghị
60 năm qua Quốc hội ta ngày càng phát triển,
thực hiện ngày càng đầy đủ hơn chức năng,
nhiệm vụ của mình. Nhìn lại chặng đường hoàn
thiện chế độ bầu cử ta thấy:
- Cơ sở pháp lý của chế độ bầu cử ngày càng
đầy đủ hơn, cụ thể hơn.
- Các cuộc bầu cử ngày càng được tổ chức chu
đáo bảo đảm dân chủ, đúng pháp luật.
- Quyền bầu cử ứng cử của công dân ngày càng
được bảo đảm. Nhân dân tham gia ngày càng
tích cực vào việc bầu cử đại biểu Quốc hội.
- Hiệp thương ba vòng, năm bước đã khẳng
định được vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong việc lựa chọn giới thiệu người ứng
cử đại biểu Quốc hội.
- Việc tuyên truyền vận động bầu cử ngày
càng được tiến hành đa dạng hơn, phong phú
hơn.
Tuy nhiên, cần nghiên cứu một số vấn đề để
tiếp tục hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu
Quốc hội, cụ thể là:
- Cần tổng kết đưa vào Luật quy định về hiệp
thương giới thiệu người ứng cử, về buổi gặp
gỡ tiếp xúc cử tri, tuyên truyền vận động
bầu cử, xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo
trong bầu cử.
- Tạo điều kiện để nhân dân thực hiện đầy đủ
hơn nữa quyền bầu cử, ứng cử của mình, mở
rộng khả năng để công dân tự ứng cử, giải
quyết tốt hơn nữa vấn đề tiêu chuẩn và cơ
cấu để bầu được người đại biểu Quốc hội là
những người vừa tham gia tích cực các hoạt
động của Quốc hội vừa đại diện xứng đáng cho
cử tri ở đơn vị bầu cử, ở địa phương mình
được bầu, cử tri giới, ngành mình và cử tri
cả nước.
- Đổi mới hơn nữa phương thức lãnh đạo của
Đảng đối với bầu cử đề bảo đảm được sự lãnh
đạo của Đảng, khắc phục những biểu hiện
buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng trong bầu cử
cũng như tình trạng một số trường hợp tổ
chức Đảng bao biện làm thay công việc của cơ
quan đoàn thể hoặc của tổ chức bầu cử.
*
* *
Bầu cử đại biểu Quốc hội đã góp phần quan
trọng vào việc hình thành và phát triển Quốc
hội ta nói riêng, nhà nước ta nói chung
trong 60 năm qua. Tiếp tục hoàn thiện chế độ
bầu cử đại biểu Quốc hội có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện nhà
nước ta, nhà nước pháp quyền của dân, do dân
và vì dân./.
Phụ lục:
Thành phần, cơ cấu đại biểu Quốc hội
|
Khoá
Thành
phần cơ cấu (%) |
I |
II |
III |
IV |
V |
VI |
VII |
VII |
IX |
X |
XI |
|
|
403 |
453 |
455 |
420 |
424 |
492 |
496 |
496 |
395 |
450 |
498 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
11% |
15,2 |
224 |
22 |
16,3 |
20,2 |
18,3 |
|
|
|
|
|
10,2 |
19,8 |
21,4 |
21,2 |
20,3 |
18,5 |
21,2 |
|
|
|
|
|
14,3 |
21,5 |
20,7 |
22 |
18,5 |
22,2 |
24,8 |
|
|
|
|
|
35,1 |
|
24,1 |
23 |
28,7 |
24,4 |
20,2 |
|
|
|
|
|
4,4 |
4,0 |
6,4 |
6,6 |
10,9 |
9,9 |
9,9 |
9,11 |
12,67 |
|
|
|
|
|
|
|
1,7 |
1,2 |
1,8 |
|
|
|
|
|
|
|
1,2 |
0,7 |
1,9 |
1,9 |
|
30 |
1,8 |
1,77 |
1,78 |
1,4 |
|
|
|
0,44 |
1,8 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
1,2 |
0,9 |
4,1 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
20,25 |
23,33 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
8,5 |
12,4 |
13,2 |
17,4 |
16,7 |
13,6 |
14,9 |
14,1 |
16,7 |
17,33 |
17,27 |
|
|
2,5 |
10,8 |
13,6 |
29,8 |
32 |
26,8 |
21,8 |
17,7 |
18,5 |
26,22 |
27,31 |
|
|
|
8,8 |
15,6 |
19,5 |
33 |
25,8 |
18,1 |
11,1 |
16,5 |
18,67 |
11,24 |
|
Ngoài Đảng |
43,2 |
17,9 |
19,3 |
24,5 |
27 |
191 |
15,9 |
7,1 |
8,4 |
14,67 |
10,24 |
|
Anh hùng CSTĐ |
|
17,2 |
28,6 |
32,9 |
35,8 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
7,5 |
|
15,5 |
|
|
|
|
|
|
|
(Nguồn: Các báo cáo tổng kết bầu cử của Hội
đồng bầu cử)
|