|
TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC QUYẾT
ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG CỦA ĐẤT NƯỚC
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
GS- TSKH Tào Hữu Phùng
Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội
I- Tăng cường vai trò của Quốc hội - bước tiến
mới trong cải cách tài chính và pháp lý
Trong quá trình cải cách về tài chính và pháp lý đã mang lại cho Quốc hội
quyền hạn rất lớn và trách nhiệm nặng nề trong
việc thực hiện 3 chức năng cơ bản của mình là
chức năng lập pháp, giám sát và quyết định những
vấn đề quan trọng của đất nước. Khi dân chủ được
mở rộng trên nền tảng là xã hội công dân, sự
tham gia ngày càng tăng của người dân vào công
việc quốc gia thì càng đòi hỏi Quốc hội - cơ
quan đại diện cao nhất của nhân dân phải hoạt
động thực chất hơn, hiệu quả hơn trong việc thực
hiện các chức năng cơ bản của mình. Trong những
năm qua, thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước
pháp quyền với hệ thống pháp luật đầy đủ, minh
bạch và công bằng, hệ thống giám sát hiệu quả
thì việc đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động
của Quốc hội trong việc quyết định những vấn đề
quan trọng của đất nước là một nhiệm vụ ưu tiên
của Quốc hội và được đông đảo cử tri quan tâm.
Trong bài tham lụân này, chúng tôi trình bày vai
trò của cơ quan lập pháp trong việc quyết định
những vấn đề quan trọng của đất nước được thể
hiện trước hết và chủ yếu trong lĩnh vực tài
chính và ngân sách nhà nước.
Hiến pháp năm 1992 đã được Quốc hội khoá X sửa đổi, bổ sung năm 2001. Tại
điều 84 của Hiến pháp này đã khẳng định quyền và
trách nhiệm của Quốc hội trong lĩnh vực tài
chính - ngân sách như sau: Ban hành và bãi bỏ
các sắc thuế; quyết định dự toán NSNN, trực tiếp
phân bổ NSTW; phê chuẩn tổng quyết toán NSNN;
quyết định chiến lược và chính sách tài chính
quốc gia; quyết định các công trình quan trọng
quốc gia. Thực hiện quyền quyết định của mình,
năm 1996, Quốc hội khoá IX đã thông qua Luật
NSNN và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1997. Đây là
văn bản pháp lý cao nhất đối với công tác quản
lý tài chính - NSNN, góp phần hoàn thiện thể chế
quản lý kinh tế, phục vụ quá trình đổi mới kinh
tế - xã hội. Vai trò của Quốc hội và các cơ quan
Quốc hội trong việc quyết định những vấn đề quan
trọng của đất nước như lĩnh vực kinh tế - ngân
sách, danh mục các công trình quan trọng quốc
gia được cụ thể hoá trong luật, là một bước
khẳng định vai trò của cơ quan dân cử trong đời
sống chính trị của đất nước. Tuy nhiên, qua 7
năm thực hiện, trước yêu cầu tiếp tục đổi mới
công tác quản lý, phân cấp về tài chính - ngân
sách, nâng cao minh bạch ngân sách và trách
nhiệm giải trình tài chính của các cơ quan tham
gia quy trình ngân sách, cải cách thể chế tiếp
tục được đặt ra để hoàn thiện chức năng của các
cơ quan Nhà nước trong hệ thống chính trị, trong
đó có cơ quan lập pháp.
Cụ thể hoá quy định của Hiến pháp năm 2001 (sửa đổi) về chức năng của
Quốc hội, năm 2002, Quốc hội khoá XI tiếp tục
sửa đổi, bổ sung Luật NSNN năm 1996. Luật NSNN
sửa đổi (năm 2002) có hiệu lực từ năm ngân sách
2004 đã cụ thể hoá thẩm quyền của Quốc hội trong
việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất
nước.
Ví dụ, Điều 15,
Luật NSNN năm 2002 quy định nhiệm vụ quyền hạn
của Quốc hội như sau:
......
Quyết định dự toán NSNN:
a.
Tổng số thu NSNN, bao gồm thu nội địa, thu từ
hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu, thu viện trợ
không hoàn lại;
b.
Tổng số chi NSNN, bao gồm chi NSTW và chi NSĐP,
chi tiết theo các lĩnh vực đầu tư phát triển,
chi thường xuyên, chi trả nợ và viện trợ, chi bổ
sung quỹ dự trữ tài chính, dự phòng ngân sách.
Trong chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên
có mức chi cụ thể cho các lĩnh vực giáo dục và
đào tạo, khoa học và công nghệ;
c.
Mức bội chi NSNN và nguồn bù đắp
Quyết định phân bổ NSTƯ:
a.
Tổng số và mức chi cho từng lĩnh vực
b.
Dự toán chi của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ và cơ quan khác ở Trung
ương theo từng lĩnh vực;
c.
Mức bổ sung từ NSTƯ cho ngân sách từng ĐP, bao
gồm bổ sung cân đối ngân sách và bổ sung có mục
tiêu;
Quyết định các dự án, các công trình quan trọng
quốc gia được đầu tư từ nguồn NSNN
.....
So với Luật NSNN năm 1996, Luật NSNN năm 2002 đã quy định Quốc hội không
những quyết định NSNN theo tổng mức, cơ cấu và
một số lĩnh vực mà quyết định dự toán chi từng
Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
cơ quan khác ở Trung ương, mức bổ sung ngân sách
Trung ương cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương; Quốc hội không chỉ quyết định danh
mục các dự án, công trình quan trọng quốc gia mà
quyết định cụ thể những nội dung của công trình.
Sự tham gia trực tiếp của Quốc hội trong việc
quyết định phân bổ chi tiết ngân sách Trung ương
và số bổ sung cho ngân sách địa phương, quyết
định những công trình quan trọng quốc gia là một
bước cải cách về thể chế nhằm trao cho Quốc hội
thực hiện đúng chức năng của mình - chức năng
thuộc về bản chất của cơ quan đại diện cao nhất
của nhân dân. Sự cải cách đó đã tạo sự phân công
trách nhiệm rõ ràng giữa cơ quan hành pháp và
lập pháp trong hệ thống chính trị, thúc đẩy cơ
quan chuẩn bị dự án trình và cơ quan thẩm tra,
quyết định; cơ quan thực hiện và cơ quan giám
sát phải làm tốt hơn trách nhiệm của mình, góp
phần tạo ra sự chuyển biến tích cực trong quá
trình phân chia quyền hạn và trách nhiệm của mỗi
cơ quan trong quy trình ngân sách.
Qua 2 năm thực hiện Luật NSNN năm 2002 đã cho thấy Quốc hội đã có thực
quyền quyết định về ngân sách Nhà nước nên tính
công khai, minh bạch, công bằng trong phân bổ
NSTW đã có tiến bộ nổi bật, hạn chế được tình
trạng "xin - cho" trong lĩnh vực ngân sách, đã
tạo ra động lực thúc đẩy các ngành, các cấp các
khu vực tích cực khai thác các nguồn thu và chi
tiêu ngân sách tiết kiệm, có hiệu quả. Số tỉnh
tự cân đổi được ngân sách và có nộp về về ngân
sách TW đã tăng 3 lần so với Luật NSNN năm 1996.
Ngoài việc quyết định những vấn đề quan trọng của ngân sách, Quốc hội đã
quyết định chủ trương xây dựng các công trình
quan trọng quốc gia như dự án trồng mới 5 triệu
ha rừng, dự án xây dựng nhà máy lọc dầu Dung
Quất, Khí - Điện - Đạm Cà mau, nhà máy thuỷ điện
Sơn La, quy hoạch sử dụng đất đai trong thời
gian 5 năm, sửa đổi, bổ sung nhiều Luật thuế
quan trọng, đóng góp nguồn thu chủ yếu của NSNN.
II- Thực trạng vai trò của Quốc hội trong việc
quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước
Bên cạnh những kết quả đạt được và tác động tích cực trong việc thực hiện
chức năng quyết định ngân sách Nhà nước, các
chương trình, dự án quan trọng quốc gia, một số
hạn chế về quy trình ngân sách, tổ chức bộ máy
cơ quan lập pháp và công cụ hỗ trợ đã là những
tồn tại và hạn chế trong việc nâng cao vai trò
của Quốc hội trong việc quyết định những vấn đề
quan trọng của đất nước. Biểu hiện như sau:
Một là, thời
gian giành cho hoạt động thẩm tra, thảo luận
ngân sách và quyết định chương trình, dự án quan
trọng quốc gia trong lịch biểu tài chính còn hạn
chế. Theo quy định của Luật NSNN, để các cơ quan
của Quốc hội xem xét, thẩm tra tình hình thực
hiện NSNN năm hiện hành, dự toán NSNN và phương
án phân bổ NSTƯ, các báo cáo này phải gửi tới
HĐND và các Uỷ ban của Quốc hội trước 1/10. Uỷ
ban Kinh tế và Ngân sách chủ trì thẩm tra chậm
nhất là ngày 5/10, tiếp đó các báo cáo phải được
hoàn thiện gửi tới ĐBQH 10 ngày trước ngày khai
mạc kỳ họp Quốc hội. Quy trình trên cho thấy các
cơ quan Quốc hội phải chịu sức ép về thời gian
rất lớn để hoàn thành báo cáo thẩm tra trình ra
Quốc hội. Thời gian khoảng 1 tuần để Uỷ ban Kinh
tế và Ngân sách chủ trì thẩm tra cùng với HĐDT
và các Uỷ ban khác của Quốc hội về các báo cáo
ngân sách là quá ngắn. Điều đó ảnh hưởng đến
chất lượng báo cáo thẩm tra ngân sách và chất
lượng thảo luận, quyết định ngân sách của Quốc
hội. ở nhiều quốc gia, thời gian để Quốc hội và
các Uỷ ban thẩm tra, thảo luận ngân sách từ 2 -
3 tháng, có một số nước trên 4 tháng.
Hai là, Sự
phối hợp giữa Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách với
Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội
trong quá trình thẩm tra, giám sát ngân sách,
thẩm định chương trình, dự án quan trọng quốc
gia còn thiếu hiệu quả. Việc chia sẻ thông tin,
phân tích số liệu giữa các cân đối vĩ mô với chỉ
tiêu chuyên ngành; sự hợp lý, gắn kết giữa chính
sách ngân sách Nhà nước và ngân sách ngành, lĩnh
vực cũng chưa được phối hợp đánh giá một cách
chặt chẽ, gắn kết giữa các Uỷ ban. Nội dung
trình các chương trình, dự án quan trọng quốc
gia tại Quốc hội rất phức tạp, liên quan đến
nhiều lĩnh vực khác nhau, nên sự phối hợp giữa
các Uỷ ban của Quốc hội để có một báo cáo thẩm
tra toàn diện, có chất lượng là rất quan trọng,
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thảo luận và
quyết định của Quốc hội về chương trình, dự án
đó tại phiên họp toàn thể của Quốc hội.
Ba là, chế độ
báo cáo, cung cấp thông tin cho cơ quan Quốc hội
còn nhiều bất cập, sự phối hợp giữa cơ quan hành
pháp và lập pháp về chia sẻ thông tin còn mang
tính hình thức, ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng thảo luận và quyết định ngân sách và những
công trình quan trọng quốc gia của Quốc hội. Để
cơ quan lập pháp có điều kiện thảo luận và quyết
định ngân sách một cách tích cực, có chất lượng
thì những thông tin quản lý cần phải được cung
cấp một cách kịp thời, chính xác và có hệ
thống. Ngoài những thông tin do Chính phủ cung
cấp, Quốc hội cũng cần nhận được những thông tin
từ Kiểm toán Nhà nước và những ý kiến đóng góp
của các tổ chức xã hội. Nguồn thông tin độc lập
sẽ tạo ra cách nhìn nhận, đánh giá của các đại
biểu Quốc hội từ nhiều góc độ, quan điểm khác
nhau.
Bốn là, Bộ
máy của Quốc hội còn nhiều hạn chế về cơ cấu và
tổ chức, thiếu công cụ chuyên môn hỗ trợ có hiệu
quả cho việc quyết định những vấn đề quan trọng
Quốc gia. Một trong những khó khăn khi triển
khai hoạt động thẩm tra, đánh giá về những vấn
đề quan trọng quốc gia là giới hạn về số lượng
các Uỷ ban Quốc hội nên lĩnh vực hoạt động quá
rộng điều đó làm phân tán nguồn nhân lực của Uỷ
ban. Hơn nữa, số đại biểu Quốc hội hoạt động
chuyên trách quá ít, đội ngũ chuyên gia hỗ trợ
các Uỷ ban còn thiếu về số lượng và hạn chế về
kinh nghiệm, kỹ năng, nhất là trong lĩnh vực
kinh tế - ngân sách. Luật kiểm toán Nhà nước có
hiệu lực từ 1/1/2006, theo đó Kiểm toán Nhà nước
là cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành lập,
hoạt động độc lập theo pháp luật là một bước
tiến dài về cải cách thể chế. Để Kiểm toán Nhà
nước trở thành một công cụ hữu hiệu giúp Quốc
hội thực hiện quyền giám sát của mình, cần phải
sớm sắp xếp lại tổ chức và nhân sự của cơ quan
này theo quy định của Luật Kiểm toán Nhà nước. ở
nhiều quốc gia, bộ máy của Quốc hội được tổ chức
thành nhiều Uỷ ban chuyên sâu, các thành viên
đều hoạt động chuyên trách với kinh nghiệm hoạt
động của Quốc hội được kế thừa, tích luỹ qua
nhiều nhiệm kỳ do Quốc hội có tính chuyên nghiệp
cao, ở nước họ, làm Nghị sỹ đã trở thành một
nghề. Cơ quan kiểm toán quốc gia là cơ quan
chuyên môn hỗ trợ Quốc hội rất tích cực thông
qua việc cung cấp thông tin và trình Quốc hội
báo cáo kiểm toán trước và kiểm toán sau đối với
những chương trình, dự án Quốc hội đặc biệt quan
tâm.
Năm là, cơ
chế trách nhiệm trong toàn hệ thống không rõ
ràng, có sự xung đột về lợi ích khi đại biểu
Quốc hội vừa ở vai hành pháp, vừa ở vai lập pháp
hoặc đại diện cho đoàn thể, doanh nghiệp, địa
phương. Nhìn chung, chưa có động lực thực sự để
đại biểu Quốc hội làm tốt chức năng của mình. Sự
đan xen, lẫn lộn giữa trách nhiệm cá nhân và
trách nhiệm tập thể trong quy trình ra quyết
định hiện nay là rào cản cho quy trình xác định
trách nhiệm khi có sai phạm, nhất là những sai
phạm lớn thuộc về chủ trương, chính sách. Quy
định bỏ phiếu tín nhiệm các thành viên Chính phủ
đã được Luật hoá nhưng vẫn còn thiếu những trình
tự, thủ tục cụ thể để quy định này có tính khả
thi. Những yếu tố đó đều ảnh hưởng đến việc
trình, thảo luận và quyết định, triển khai những
vấn đề quan trọng của Quốc hội trong toàn hệ
thống chính trị.
Sáu là, chức
năng giám sát của Quốc hội đối với cơ quan hành
pháp trong việc thực hiện các Quyết định, Nghị
quyết của Quốc hội trong việc ban hành các văn
bản quy phạm pháp luật trong thời gian qua còn
chưa tốt nên đã hạn chế tính hiệu quả, hiệu lực
chức năng giám sát của Quốc hội.
III- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả họat
động của Quốc hội trong việc quyết định các vấn
đề quan trọng của đất nước
Để Quốc hội thực hiện có hiệu quả chức năng lập
hiến, lập pháp và quyết định những vấn đề quan
trọng của đất nước trong lĩnh vực tài chính -
ngân sách, xin kiến nghị một số giải pháp sau:
Một là, cần thay đổi lịch biểu tài chính trong quy trình ngân sách thông qua
việc sửa đổi Luật NSNN để các cơ quan Quốc hội
có thêm thời gian thẩm tra, thảo luận ngân sách
và những vấn đề quan trọng khác. Thời gian bắt
đầu xây dựng dự toán ngân sách tiến hành sớm
hơn, nên bắt đầu từ tháng 2, dự toán ngân sách
Chính phủ trình Quốc hội nên vào khoảng tháng 8
hàng năm.
Quốc hội khoá tới (khoá XII) cần chia nhỏ các Uỷ ban của Quốc hội để tạo
sự chuyên môn hoá cao, đồng thời tăng tỷ lệ Đại
biểu Quốc hội chuyên trách hoạt động trong các
Uỷ ban. Chẳng hạn, Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách
nên tách ít nhất thành hai Uỷ ban là Uỷ ban Kinh
tế và Uỷ ban Tài chính - Ngân sách. Cải cách cơ
cấu của Quốc hội, không nên nặng về cơ cấu cho
đủ các thành phần xã hội mà nên coi trọng chất
lượng Đại biểu Quốc hội, nhất là Đại biểu Quốc
hội chuyên trách. Trong Quốc hội nên có Đại biểu
là những chuyên gia, những cán bộ khoa học đầu
đàn của các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế.
Hai là, Quốc
hội cần thảo luận và quyết định về chính sách
đối với những vấn đề quan trọng quốc gia, gồm cả
chính sách ngân sách trước khi thảo luận những
vấn đề cụ thể. Sự thảo luận về mặt chính sách
ngay từ ban đầu nhằm đảm bảo chính sách đó là
một sự lựa chọn tối ưu, có tính khả thi cao.
Ba là, cần
đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giám sát
của Quốc hội thông qua lựa chọn nội dung và hình
thức giám sát thích hợp, kết hợp chặt chẽ giữa
giám sát của các Uỷ ban của Quốc hội với các
Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp; sử dụng
có hiệu quả các công cụ phục vụ công tác giám
sát của Quốc hội như Kiểm toán Nhà nước, Thanh
tra Chính phủ, Thanh tra tài chính, Thanh tra
chuyên ngành.
Bốn là, cần
nâng cao chất lượng báo cáo thẩm tra các dự án
về kinh tế - ngân sách, các báo cáo thẩm tra các
dự án công trình quan trọng quốc gia kết hợp với
cung cấp cho Đại biểu Quốc hội đầy đủ các thông
tin liên quan cần thiết để giúp Quốc hội có thể
thảo luận, đưa ra những quyết sách đúng đắn, có
hiệu quả cao.
Năm là, cần
đổi mới cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với hoạt
động của Quốc hội để đảm bảo Quốc hội vừa thực
hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, đồng
thời cũng phát huy tính dân chủ, quyền chủ động
trong hoạt động của Quốc hội nhằm tạo điều kiện
để Quốc hội thực hiện có hiệu quả những chức
năng được Hiến pháp và Luật quy định, đặc biệt
là quyền quyết định của Quốc hội đối với những
vấn đề quan trọng của Quốc gia.
|