|
QUỐC HỘI VÀ QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
Trần Bạch Đằng
Năm nay cả nước sôi nổi kỷ niệm 60 năm ngày
ra đời nước Việt Nam mới - nước Việt Nam Dân
chủ cộng hoà, nay là nước Cộng hoà Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam – thành quả của cuộc Cách
mạng Tháng Tám vĩ đại dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Các thiết chế chính trị - xã
hội đầu tiên hợp thành chế độ mới trong đó
có Quốc hội cũng nhân dịp này tổ chức kỷ
niệm ngày thành lập của mình.
Quốc hội Việt Nam, kể từ khoá đầu tiên được
bầu ra trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng
giêng năm 1946 cho đến nay đã kinh qua 11
khoá trong đó có 2 khoá đánh dấu 2 bước
ngoặt của lịch sử Việt Nam hiện đại. Đó là
khoá I (1946) thông qua Hiến pháp đầu tiên,
chính thức hoá về mặt pháp lý nhà nước và
Chính Phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà góp
phần tích cực củng cố chính quyền cách mạng
non trẻ, đương đầu thắng lợi với thù trong
giặc ngoài. Đó là Khoá VI (1976) đánh dấu
thời kỳ đất nước hoàn toàn độc lập và thống
nhất, cả nước bắt tay vào việc phục hồi, xây
dựng và phát triển trong hoà bình theo định
hướng xã hội chủ nghĩa sau đại thắng mùa
Xuân 1975.
Suốt 60 năm tồn tại và phát triển với tư
cách là bộ phận hợp thành của hệ thống chính
trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, xét trên bình diện chính trị, Quốc hội
đã hoàn tất tốt đẹp sứ mạng lịch sử của mình
– góp phần tích cực xây dựng khối đại đoàn
kết toàn dân, củng cố chế độ, động viên toàn
dân xông vào cuộc chiến đấu vũ trang lâu
dài, gian khổ, đầy hy sinh vì độc lập, tự do
thống nhất Tổ quốc và sau thắng lợi, xây
dựng, phát triển đất nước. Nhưng với tư cách
là cơ quan quyền lực tối cao hiến định,
không phải lúc nào Quốc hội cũng thực hiện
được toàn vẹn, đầy đủ và tốt đẹp vai trò,
chức năng của mình. Hoàn cảnh khách quan của
thời chiến khiến Quốc hội không thể hoạt
động bình thường. Đó là một lẽ đầy thuyết
phục. Nhưng trong suốt 30 năm trong hoà
bình, trong một đất nước đã thống nhất, hoàn
toàn động lập, Quốc hội vẫn chưa đạt đến
ngang tầm của vai trò và chức năng thì tìm
lý lẽ ở đâu?
Kỷ niệm 60 năm Quốc hội, tung hô những thành
quả đạt được trong quá khứ là cần thiết
nhưng thiết thực nhất là giành thì giờ cho
Quốc hội hiện tại và tương lai.
* * *
Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp hợp
thành hệ thống cơ quan dân cử thông qua phổ
thông đầu phiếu, là đại diện cho ý chí và
nguyện vọng của nhân dân, là thiết chế nhà
nước chủ yếu thông qua nó, nhân dân thực
hiện quyền làm chủ. Quốc hội và Hội đồng
nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực. Quốc
hội là cơ quan quyền lực tối cao giữ quyền
lập pháp, quyền giám sát tối cao và quyền
quyết định những vấn đề hệ trọng khác của
đất nước.
Nói chung đến nay, vai trò của các cơ quan
quyền lực chưa ngang tầm cần có và phải có,
càng xuống dưới càng lu mờ nếu không muốn
nói là hình thức. Đương nhiên, đi đôi với
tình trạng đó, ý chí và nguyện vọng của nhân
dân khó được phát huy, thậm chí ở nhiều nơi
- nếu không nói là phổ biến - quyền quyết
định cao nhất và cuối cùng có liên quan đến
quản lý nhà nước - tôi nhấn mạnh là quản lý
nhà nước - thực chất là cấp uỷ Đảng, là Ban
Thường vụ cấp uỷ Đảng, tiếp theo đó là các
cơ quan hành pháp. Hiện trạng này là bất
bình thường ở một nước dân chủ pháp quyền
thông thường, càng bất bình thường hơn ở một
nước đã xây dựng và phát triển đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa 30 năm nay. Gần
đây, ở khoá XI đương nhiệm của Quốc hội và
Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và
vài nơi khác đã có ít nhiều dấu hiệu tích
cực trong thể hiện quyền lực và chức năng
pháp định của mình nhưng chưa có thể nói là
đã có sự chuyển biến căn bản về chất.
Để xây dựng Quốc hội và Hội đồng nhân dân
các cấp đúng như vai trò, vị trí và chức
năng hiến định của nó, có nhiều công việc
phải làm kể cả phải đấu tranh với sức ì của
tư duy cũ, của kiểu làm cũ. Ở đây, trong
phạm vi hạn hẹp của bài nói, không thể đề
cập đến mọi việc - dù muốn cũng không thể -
chỉ xin nêu lên vài suy nghĩ:
Một là,
trước hết cần đổi mới tư duy và phương thức
lãnh đạo của Đảng.
Đảng là lực lượng chính trị trung tâm giữ
vai trò lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Thành quả đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng
trong cuộc đấu tranh lâu dài vì độc lập, tự
do, thống nhất tổ quốc đã khẳng định vai trò
đó. Đảng là Đảng của giai cấp, đồng thời
được dân tộc xem như Đảng của mình. Trong
điều kiện chiến tranh, bên cạnh vai trò lãnh
đạo chính trị, vai trò của người chính uỷ,
trên thực tiễn, Đảng còn là người tổ chức và
chỉ huy trực tiếp, người ra mệnh lệnh, ra
quyết định cuối cùng trên mọi lĩnh vực. Mọi
tổ chức chính trị - xã hội - kinh tế - văn
hoá - quân sự là công cụ của Đảng theo đúng
nghĩa bóng và nghĩa đen.
Hoàn cảnh hiện nay đã khác trước. Sau đại
thắng mùa Xuân 1975, đất nước đã hoàn toàn
thống nhất, độc lập tự do, hoà bình và đang
trong quá trình xây dựng theo định hướng xã
hội chủ nghĩa tức đã ở trong trạng thái phát
triển bình thường. Đổi mới tư duy và phương
thức lãnh đạo phù hợp với hoàn cảnh mới là
đòi hỏi cấp thiết, là điều kiện tiên quyết
và tất yếu cho cách mạng tiếp tục đi lên,
củng cố chế độ và cho chính cả vai trò lãnh
đạo của Đảng.
Cho đến nay, về cơ bản, tư duy và phương
thức lãnh đạo của Đảng vẫn như thời chiến
cộng thêm vị trí của một Đảng cầm quyền
khiến Đảng trở thành siêu quyền lực, một
loại hình của siêu chính quyền. Các vụ việc
ở Hà Giang, ở Đồ Sơn, Hải Phòng, các vụ
chiếm dụng đất công ở Tây Ninh, hồ Trị An và
rất nhiều nơi khác…. đều có dính dáng đến
cấp uỷ Đảng, thậm chí cả bằng văn bản ra
mệnh lệnh chính thức hoặc đứng phía sau các
vụ việc đó, đã nói lên điều đó. Thật ra có
thể mở dấu ngoặc để kể vài vụ việc, để thấy
rõ vai trò của Đảng không còn dấu vết nào ở
Bình Thuận với vụ án lâm tặc của Hai Tri.
Nhưng dù sao, một vài hiện tượng trái ngược
đó cũng không làm thay đổi vấn đề đang được
đề cập thậm chí còn là bằng chứng phản diện
cho sự bất lực, vô hiệu lực của chính quyền,
của cơ quan quyền lực là Hội đồng nhân dân
các cấp ở địa phương, của cả Đoàn đại biểu
Quốc hội.
Đảng là của giai cấp đồng thời được dân tộc
xem là Đảng của mình nhưng bất luận thế nào
Đảng chỉ là một bộ phận của dân tộc, không
phải là dân tộc. Đảng cầm quyền nhưng không
phải là chính quyền, làm chức năng chính
quyền. Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam là của dân, do dân, vì dân. Các
thiết chế hiến định – có thể còn khiếm
khuyết – cũng đủ để nhân dân thông qua đó
thực hiện quyền làm chủ của mình trong đó có
Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp – cơ
quan quyền lực được nhân dân uỷ quyền qua lá
phiếu của mình nếu biết phát huy nó.
Vai trò lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam
đã được khẳng định qua cuộc đấu tranh lâu
dài, vai trò lãnh đạo của Đảng đã được khẳng
định trong Hiến pháp như một nhân tố quyết
định hàng đầu cho thắng lợi của cách mạng
Việt Nam, đảm bảo vững chắc cho sự bền vững
của chế độ, cho tương lai của đất nước, dân
tộc. Người ta nói, người lãnh đạo giỏi có
thể “bất chiến tự nhiên thành” nhưng xét cho
cùng “bất chiến” tức là “chiến” thể hiện mối
quan hệ hữu cơ giữa sách lược và chiến lược.
Vai trò lãnh đạo của Đảng không phải là
“thiên định” mà phải đấu tranh giành lấy,
giữ lấy. Tuy nhiên, Đảng chỉ là một bộ phận
của dân tộc, thậm chí bộ phận rất nhỏ, một
bộ phận của giai cấp không thể tự mình giành
thắng lợi trong cuộc đấu tranh đó mà phải
lôi cuốn toàn thể dân tộc – có ý thức và
thực sự có quyền làm chủ đất nước, làm chủ
số phận của mình, vì lợi ích của mình. Đảng
lãnh đạo đấu tranh vì lợi ích dân tộc nhưng
không thể tự cho mình vai trò đại diện cho
toàn dân tộc. Chỉ có Nhà nước CHXHCN Việt
Nam được nhân dân uỷ quyền mới có quyền đại
diện cho dân tộc.
Nêu lên vấn đề đổi mới tư duy và phương thức
lãnh đạo của Đảng – đương nhiên bao hàm cả
những cái mới do thực tiễn đòi hỏi của thời
hiện tại và những cái cũ - thuộc về nguyên
lý, cũ mà vẫn mới nhưng bị bỏ qua, cố tình
hay quên đi - Tôi muốn nhấn mạnh hai vấn đề
cơ bản: cần chính đốn lại Đảng như di chúc
Bác Hồ đã dạy và cần tôn trọng và phát huy
quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Các
thiết chế quyền lực của nhân dân, trong đó
Quốc hội có quyền lực tối cao, phải được tôn
trọng và phát huy. Đảng có luật của Đảng,
Nhà nước có luật của Nhà nước, không thể núp
bóng của Đảng như Bộ trưởng GTVT trong phiên
họp của Quốc hội mới đây - thực tế là hạ
thấp quyền của Quốc hội, đặt Đảng ở vị trí
siêu quyền lực.
Hai là,
cần đổi mới tư duy và phương thức kết cấu
thành phần Quốc hội (HĐND các cấp).
Chọn người có tài, có đức - đạo đức cá nhân
và đạo đức chính trị - trong mọi tầng lớp
nhân dân để cử vào Quốc hội (HĐND) là những
điều kiện hàng đầu để Quốc hội (HĐND) đủ sức
thực hiện quyền năng hiến định và trở thành
biểu tượng thực sự của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, là một trong những nhân tố chủ
yếu đảm bảo vai trò lãnh đạo, địa vị cầm
quyền của Đảng.
Người có tài, có đức được nhân dân tín nhiệm
có thể là Đảng viên hay người ngoài Đảng.
Trong Quốc hội hiện nay có khoảng 80% đại
biểu là Đảng viên. Nới rộng ra một chút, từ
Quốc hội, Chính phủ được hình thành với 100%
nhân sự là Đảng viên. Như vậy, có thể suy ra
rằng ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam hiện nay, hầu hết nếu không nói là chỉ
có Đảng viên mới có tài, có đức và được nhân
dân tín nhiệm. Đảng viên cũng là công dân.
Đảng viên -qua thử thách, giáo dục và rèn
luyện - chắc chắn không ít người có tài, có
đức, để giữ trọng trách của Nhà nước nhưng
chắc chắn cũng còn không ít người ngoài Đảng
như thế được nhân dân tín nhiệm.
Những con số nói trên là điều đáng suy nghĩ.
Những cái đáng suy nghĩ nhất là liệu hiện
trạng đó có nói lên tính biệt phái, đối
nghịch với tính dân chủ của chế độ, với việc
củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, với việc
tận dụng và phát huy tài năng và trí tuệ của
toàn dân xây dựng đất nước.
Vì vậy, cần đổi mới tư duy và phương thức
kết cấu thành phần đại biểu Quốc hội (HĐND)
và mở rộng ra cho cả nhân sự của các thiết
chế Nhà nước.
Ba là,
cần nghiên cứu lộ trình sớm chuyển sinh hoạt
định kỳ của Quốc hội có tính “nghiệp dư”, cứ
“đến hẹn lại lên” hiện nay thành Quốc hội
chuyên nghiệp.
Hiện nay hầu hết đại biểu Quốc hội là quan
chức lãnh đạo cơ quan Quân Dân chính Đảng từ
Trung ương đến địa phương, là các nhân vật
lãnh đạo các tổ chức sản xuất, kinh doanh và
sự nghiệp của Nhà nước. Quyền lợi kinh tế và
tương lai sự nghiệp của đại biểu Quốc hội
gắn liền với cơ quan, đơn vị, địa phương trả
lương. Và đương nhiên các đại biểu Quốc hội
không thể dành thời gian, vật chất, sức lực
và trí tuệ chủ yếu cho nó. Đã thế, thời gian
họp Quốc hội hàng năm Xuân thu nhị kỳ tổng
cộng chỉ hai tháng (chỉ vài ngày mỗi quý ở
Hội đồng nhân dân). Chúng ta đã chứng kiến
những cuộc thảo luận thiếu chiều sâu, những
thái độ tránh né hoặc im lặng là vàng của
không ít đại biểu khi có việc đụng chạm đến
địa phương mình, ngành mình, đến cấp lãnh
đạo của mình dù việc đó rõ ràng là vi phạm
pháp luật, có hại đến lợi ích chính đáng của
nhân dân mà mình được bầu lên bằng lá phiếu
của họ. Có thể là do bệnh quan liêu và cũng
có thể là sợ mất ghế. Như vậy liệu Quốc hội
(HĐND) có thể làm tròn chức năng của mình
hay không trong điều kiện như hiện nay – làm
đại biểu Quốc hội bằng tay trái và vì lợi
ích của bản thân, vì cục bộ địa phương hay
không.
Vì vậy, cần sớm chuyển hoạt động Quốc hội
thành chuyên nghiệp, thường trực, tách đại
biểu Quốc hội ra khỏi chức năng quản lý Nhà
nước. Nếu muốn xây dựng một Nhà nước thực sự
dân chủ pháp quyền. Việc chuyển đổi sẽ rất
phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian và công
sức vì vậy cần có lộ trình được xác định.
Nhưng trước hết đòi hỏi phải đổi mới tư duy.
Bốn là,
cần kiện toàn tổ chức Quốc hội. Quốc hội là
cơ quan quyền lực tối cao của đất nước và
như bất cứ ở nước nào theo thể chế nghị
viện, trình độ và tài năng của đại biểu Quốc
hội, nghị sỹ không đồng đều, kiến thức của
đại biểu Quốc hội, nghị sỹ không thể bao
quát được tất cả mọi vấn đề, mọi lĩnh vực. Ở
nước ta dù “nghiệp dư” như hiện nay hay
“chuyên nghiệp” nếu được thiết lập cũng
không tránh khỏi thực tế này.
Vì vậy, kiện toàn tổ chức Quốc hội thường
xuyên đặt ra, trong đó trước hết phải kiện
toàn các Ủy ban của Quốc hội đủ sức, đủ
trình độ, năng lực và quyền năng để làm tham
mưu cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Quốc
hội.
12.2005. |