Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UỶ BAN KHOA HỌC,

CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA QUỐC HỘI

(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển"

Hà Nội, 23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005) 

TSKH. Trần Hà Anh

Đại biểu Quốc hội Khoá IX và Khoá X, Thành viên Uỷ ban KHCNMT Khoá IX

Phó chủ nhiệm Uỷ ban KHCNMT Khoá X

 

Mở đầu

Trong khuôn khổ kỷ niệm 60 năm thành lập Quốc hội Việt nam, bài này  đề cập đến sự hình thành và phát triển của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường từ khi Uỷ ban được thành lập với tư cách là một Uỷ ban thường trực của Quốc hội, nêu nhận xét và đề xuất một số biện pháp đổi mới cần thiết để hiệu quả hoạt động của Uỷ ban ngày càng được nâng cao.

Khi xét đến vấn đề phát triển của Uỷ ban, chúng ta căn cứ vào bối cảnh chính trị của đất nước trong từng thời kỳ và nhiệm vụ đặt ra với khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường. Để thấy được kết quả tổ chức và hoạt động của Uỷ ban qua các nhiệm kỳ Quốc hội, chúng ta sẽ tham khảo các báo cáo tổng kết nhiệm kỳ hoạt động của Uỷ ban và xem xét các kết quả đó trên quan điểm lịch sử và quan điểm phát triển.

Một vấn đề cần nhắc lại khi xem xét vấn đề này là khung cảnh hoạt động của Uỷ ban từ sau khi được thành lập đến nay. Từ những năm đầu của thập kỷ 80 (thế kỷ XX) đến nay, đất nước ta không ngừng chuyển đổi từ chế độ kinh tế bao cấp sau chiến tranh, đã đi vào thực hiện chính sách đổi mới, xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn chỉnh, và hiện nay đang phấn đấu thực hiện quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện nhiều nước trên thế giới khẩn trương xây dựng nền kinh tế tri thức. Quá trình chuyển đổi đó ngày càng đòi hỏi cao hơn đối với nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ và nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên và môi trường để bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

 

I.              Về sự hình thành của Uỷ ban

Từ khi Quốc hội Khoá I được thành lập vào đầu năm 1946, đất nước ta phải trải qua những thời kỳ chiến tranh lâu dài để bảo vệ và giải phóng một phần đất nước, cho nên trong những khoá đầu tiên, Quốc hội chưa chủ trương thành lập một Uỷ ban thường trực chuyên trách về các vấn đề khoa học, công nghệ và môi trường. Trong nhiệm kỳ Khoá VI, Quốc hội tiến hành sửa đổi Hiến pháp và đã ban hành Hiến pháp 1980 [1] cùng với Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 [4].

Hiến pháp 1980 tại Điều 92 đã quy định như sau:

“Quốc hội thành lập các uỷ ban thường trực của Quốc hội.

Các uỷ ban thường trực nghiên cứu, thẩm tra những dự án luật, dự án pháp lệnh và dự án khác hoặc những báo cáo mà Quốc hội và Hội đồng Nhà nước giao cho; kiến nghị với Quốc hội và Hội đồng Nhà nước những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của uỷ ban; giúp Quốc hội và Hội đồng Nhà nước thực hiện quyền giám sát. (…)”

Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 quy định tại Điều 45 việc thành lập các uỷ ban thường trực để giúp Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, trong đó có Uỷ ban khoa học và kỹ thuật cùng 6 Uỷ ban khác.

Thực hiện các quy định nói trên, Uỷ ban khoa học và Kỹ thuật là uỷ ban thường trực được thành lập lần đầu tại Khoá VII, và có thể xem là tiền thân của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường ngày nay. Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật vẫn tiếp tục tồn tại trong Khoá VIII.

Tại Khoá VIII, Quốc hội tiến hành sửa đổi Hiến pháp và ban hành Hiến pháp 1992 [2] sau đó ban hành Luật tổ chức Quốc hội mới [5]. Tại Điều 95, Hiến pháp 1992 quy định:

“Quốc hội bầu các Uỷ ban của Quốc hội.

Các Uỷ ban của Quốc hội nghiên cứu, thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và dự án khác, những báo cáo được Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao; trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Uỷ ban.

Mỗi Uỷ ban có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách.”

Luật tổ chức Quốc hội ban hành năm 1992 đã quy định tại Điều 21 việc  thành lập các Uỷ ban của Quốc hội gồm Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường và 6 uỷ ban khác.

Tại Khoá X, Quốc hội tiến hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992 và cũng đã ban hành Luật tổ chức Quốc hội mới vào năm 2002. Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 [3] đã giữ nguyên Điều 95 của Hiến pháp 1992. Luật tổ chức Quốc hội ban hành năm 2001 [6] đã quy định tại Điều 22 việc Quốc hội thành lập Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội gồm Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường và 6 Uỷ ban khác.

Như vậy, Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường với tên gọi đó đã được thành lập lần đầu tại Khoá IX và vẫn tiếp tục giữ tên gọi đó đến ngày nay (Khoá XI).

 

II.            Về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban theo các nhiệm kỳ Quốc hội

II.1. Các quy định về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban

Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 đã quy định chung về tổ chức và hoạt động của các uỷ ban thường trực của Quốc hội.

Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 và năm 2001 ngoài những quy định chung về tổ chức và hoạt động của các uỷ ban của Quốc hội, còn quy đinh cụ thể về nhiệm vụ và quyền hạn của từng uỷ ban của Quốc hội.

II.1.1. Về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật (Khoá VII và Khoá VIII)

Như tất cả các Uỷ ban thường trực của Quốc hội, tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật được Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 quy định trong các Điều 46 – 48;  50 – 55.

Trong các quy định nói trên, đáng chú ý nhất là về giám sát, tại Điều 47 đã ghi Uỷ ban có nhiệm vụ “Giúp Quốc hội và Hội đồng Nhà nước thực hiện quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của Hội đồng bộ trưởng, Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Hội đồng nhân dân các cấp.”  Như vậy, Uỷ ban thường trực chỉ có vai trò giúp Quốc hội, Hội đồng Nhà nước thực hiện quyền giám sát chứ không có quyền giám sát của riêng mình. Nội dung là giúp giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, và hoạt động của một số đối tượng trong đó có Hội đồng nhân dân các cấp.

II.1.2. Về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Khoá IX, Khoá X và Khoá XI)

a) Tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khoá IX và Khoá X

Như của Hội đồng dân tộc và  các Uỷ ban khác của Quốc hội, tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khoá IX và Khoá X được Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 quy định chung trong các Điều 19, 30 – 34.

So với Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981, có thể nêu một số nhận xét về Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 như sau:

- Luật không quy định về cơ cấu thành phần của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban.

- Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội có nhiệm vụ thực hiện quyền giám sát và kiến nghị những vấn đề trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chứ không chỉ giúp Quốc hội (và Hội đồng Nhà nước) thực hiện quyền giám sát. Luật không quy định rõ đối tượng giám sát của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, nhưng căn cứ vào các Điều 31, 32 và 33, có thể hiểu đối tượng giám sát ít nhất phải gồm những tổ chức, cá nhân nêu trong các Điều đó: tổ chức, cá nhân được yêu cầu cung cấp tài liệu hoặc đến trình bày những vấn đề mà Hội đồng hoặc Uỷ ban xem xét, thẩm tra (các thành viên chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và những viên chức nhà nước hữu quan), các cơ quan, tổ chức hữu quan nơi Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội cử các thành viên của mình đến điều tra, xem xét về vấn đề mà Hội đồng hoặc Uỷ ban quan tâm, và các đối tượng được kiến nghị về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng, Uỷ ban (Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương). Do vậy, việc Hội đồng và các Uỷ ban của Quốc hội khoá IX, khoá X cử đoàn đi giám sát ở địa phương để giám sát hoạt động của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan hữu quan ở địa phương, theo Luật tổ chức Quốc hội 1991 là hợp pháp.

- Luật đã quy định rõ những căn cứ để Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban  quyết định chương trình hoạt động của mình.

- Luật đã dành nguyên một điều (Điều 33) để quy đinh quyền kiến nghị của Hội đồng và các Uỷ ban về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng, Uỷ ban; trách nhiệm của những người được kiến nghị và những chế tài tương ứng.

Luật tổ chức Quốc hội đã dành riêng một điều (Điều 28) cho việc quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Điều 28 đã căn cứ vào Điều 95 của Hiến pháp về nhiệm vụ và quyền hạn của các Uỷ ban của Quốc hội và cụ thể hoá Điều 19 của Luật tổ chức Quốc hội cho trường hợp của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Điều 28 đã làm rõ phạm vi trách nhiệm của Uỷ ban.

b) Tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường  Khoá XI

Như Hội đồng dân tộc và  các Uỷ ban khác của Quốc hội, tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khoá XI được Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 quy định chung trong các Điều 21, 25, 34 – 42.

So với Luật tổ chức Quốc hội năm 1992, có thể đưa ra một số nhận xét sau đây về Luật tổ chức Quốc hội năm 2001:

-  Luật đã làm rõ nguyên tắc làm việc và quyết định của Hội đồng, các Uỷ ban của Quốc hội; quy định về nhiệm kỳ của Hội đồng và Uỷ ban theo nhiệm kỳ Quốc hội; quy định Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

- Luật quy định về cơ cấu thành phần Uỷ ban của Quốc hội; số Phó Chủ nhiệm và số Uỷ viên Uỷ ban do Quốc hội quyết định; phương thức Quốc hội bầu các thành viên Uỷ ban, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định số thành viên hoạt động chuyên trách; về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ nhiệm Uỷ ban; nhiệm vụ và quyền hạn của Phó Chủ nhiệm Uỷ ban; chế độ uỷ nhiệm khi Chủ nhiệm Uỷ ban vắng mặt.

- Luật quy định Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm tham gia với Uỷ ban kinh tế và ngân sách thẩm tra báo cáo của Chính phủ về kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương, tổng quyết toán ngân sách nhà nước; tham gia với Uỷ ban pháp luật thẩm tra đề án về thành lập, bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ, thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

- Luật quy định Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm tiếp công dân, tiếp nhận, nghiên cứu và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong lĩnh vực Hội đồng dân tộc, Uỷ ban phụ trách.

- Luật quy định về vấn đề thực hiện quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế theo sự chỉ đạo của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và với sự phối hợp với Uỷ ban đối ngoại.

- Luật quy định về quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan hữu quan xem xét và theo thẩm quyền đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ những văn bản trái pháp luật, chấm dứt hành vi vi phạm, xử lý người vi phạm; trách nhiệm và thời hạn thông báo về việc giải quyết của cá nhân, cơ quan được yêu cầu; quyền kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

- Luật cũng đã quy định Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội có quyền kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Riêng Điều 32 được Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 dành cho việc quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Điều 32 căn cứ vào Điều 95 của Hiến pháp và đã cụ thể hoá Điều 21 của Luật tổ chức Quốc hội cho trường hợp của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Điều 32 đã làm rõ phạm vi trách nhiệm của Uỷ ban. Một nội dung mới trong nhiệm vụ giám sát của Uỷ ban là giám sát văn bản quy phạm pháp luật của một số cơ quan nhà nước (Khoản 3 Điều 32), thuộc lĩnh vực do Uỷ ban phụ trách.

Năm 2003, Quốc hội Khoá XI tại kỳ họp thứ 3 đã ban hành Luật hoạt động giám sát của Quốc hội “để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, góp phần bảo đảm cho Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất.” Trong Điều 3 của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội [8] đã quy định về trách nhiệm của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội trong việc thực hiện quyền giám sát.

Ở khoản 1, điểm c), Điều 3 quy định trách nhiệm giám sát của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, gồm giám sát hoạt động của một số cơ quan ở trung ương, giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Hội đồng, Uỷ ban phụ trách, và giúp Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của các cơ quan này. Với quy định ở Điều 3, Uỷ ban giám sát hoạt động của những đối tượng ở trung ương, và giúp thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, đối với một số đối tượng ở trung ương và ở địa phương là các Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Như vậy, giữa Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 và Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 còn một số quy định chưa thống nhất về quyền giám sát của Hội đồng và các Uỷ ban của Quốc hội. Sự thiếu thống nhất này có thể gây khó khăn cho Hội đồng và các Uỷ ban của Quốc hội trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giám sát.

II.2. Về kết quả đạt được qua các nhiệm kỳ

II.2.1. Về kết quả tổ chức Uỷ ban

a) Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Khoá VII (1981 - 1987)

Theo Biên bản bầu Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Khoá VII và Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ hoạt động Uỷ ban [10]:

Uỷ ban Khoa học Kỹ thuât Khoá VII gồm 26 vị, bao gồm Chủ nhiệm, 3 Phó Chủ nhiệm Uỷ ban, 2 Thư ký Uỷ ban và 20 uỷ viên trong đó có 3 uỷ viên nữ. Tổ chức Uỷ ban bao gồm 3 tiểu ban theo các lĩnh vực: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học kỹ thuật.

Uỷ ban đã tập trung được nhiều cán bộ có năng lực và uy tín trong giới khoa học và kỹ thuật. Tuy nhiên, Uỷ ban còn thiếu nhiều thành phần: số thành viên về khoa học tự nhiên vừa phải, về khoa học xã hội quá ít, về khoa học kỹ thuật nhiều nhất nhưng nhiều đồng chí giữ chức vụ lãnh đạo chính quyền, ít có điều kiện về thời gian để tham gia công tác Uỷ ban.

Phần lớn các thành viên trong Uỷ ban đều có tinh thần xây dựng, đóng góp vào hoạt động của Uỷ ban. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng các thành viên Uỷ ban hoạt động không đều. Những điều hạn chế trên đây còn có nguyên nhân là các đồng chí thường trực Uỷ ban đều kiêm chức, quá bận rộn với công việc của mình, ít có thời gian theo dõi công việc thực hiện chương trình của Uỷ ban một cách thường xuyên.

Uỷ ban đánh giá việc lập ra 3 tiểu ban không có tác dụng. Trong nhiệm kỳ tới, Uỷ ban đề nghị nên bỏ tổ chức tiểu ban và chỉ cần lập nhóm chuyên đề khi cần thiết.

b) Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Khoá VIII (1987 - 1992)

Theo Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ hoạt động Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Khoá VIII  [10]:

Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật được Quốc hội lập ra gồm 25 thành viên, trong đó có 24 nam, 1 nữ, là những đại biểu có năng lực và uy tín trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật, lĩnh vực quản lý của nhiều ngành kinh tế của trung ương và của cơ sở. Về trình độ, có 13 thành viên (chiếm 52%)  trình độ trên đại học (tiến sĩ, phó tiến sĩ), trong đó có 9 người là giáo sư và phó giáo sư, 12 thành viên khác có trình độ đại học thuộc nhiều ngành kinh tế, kỹ thuật và xã hội.

Thành viên có chuyên môn sâu về khoa học xã hội, khoa học quản lý quá mỏng; thành viên chuyên sâu về khoa học - kỹ thuật tuy nhiều, nhưng lại giữ chức vụ chủ chốt của địa phương, của ngành, của cơ sở nên khó có điều kiện về thời gian để tham gia công tác của Uỷ ban, nhất là những công tác đột xuất; Địa bàn xa cách, đi lại khó khăn, kinh phí cho hoạt động lại hạn hẹp nên ít có dịp Uỷ ban họp được đông đủ, ngoài các cuộc họp được tổ chức kết hợp trong kỳ họp Quốc hội.

Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật của Quốc hội không có thành viên nào là đại biểu hoạt động chuyên trách. Song, Thường trực Uỷ ban trong nhiệm kỳ qua đã có nhiều cố gắng để duy trì hoạt động đều và đã làm tốt nhiệm vụ được giao, cũng như các chương trình hoạt động hàng năm của Uỷ ban. Các thành viên của Uỷ ban nói chung đều  có tinh thần trách nhiệm và xây dựng cao để đóng góp vào hoạt động của Uỷ ban, cố gắng thu xếp và dành thời gian để tham gia các đoàn công tác giám sát tại các địa phương, đặc biệt là những chuyến đi dài ngày.

c) Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khoá IX (1992 - 1997)

Theo Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ hoạt động Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khoá IX [10:

Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Khoá IX gồm 26 thành viên, trong đó có 25 nam và 1 nữ, là những đại biểu Quốc hội có trình độ và uy tín trong lĩnh vực hoạt động khoa học, công nghệ và lĩnh vực quản lý của nhiều ngành ở trung ương cũng như ở địa phương. Có 15 người là tiến sĩ, phó tiến sĩ, trong đó có 10 người là giáo sư, phó giáo sư, 16 thành viên khác có trình độ đại học thuộc nhiều ngành kinh tế, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, tuy nhiên ở lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn còn ít (2 người).

Thường trực Uỷ ban có 7 người, Chủ nhiệm và Phó chủ nhiệm hoạt động chuyên trách, 2 Uỷ viên thường trực ở phía Nam, còn lại là kiêm nhiệm. Thường trực Uỷ ban họp mỗi tháng một lần để triển khai các hoạt động theo chương trình của Uỷ ban hoặc giải quyết những công việc đột xuất có liên quan đến các lĩnh vực thuộc trách nhiệm của Uỷ ban.

Hầu hết các thành viên của Uỷ ban hoạt động kiêm nhiệm, quỹ thời gian dành cho công việc của Quốc hội là rất hạn hẹp, song Thường trực Uỷ ban và mọi thành viên trong nhiệm kỳ đã cố gắng duy trì hoạt động đều và đã làm tốt nhiệm vụ của Quốc hội giao cũng như các chương trình hoạt động hàng năm của Uỷ ban. Tuy nhiên còn một số ít thành viên của Uỷ ban vì những lý do công tác nên chưa tham gia đều và đầy đủ các hoạt động của Uỷ ban.

Thường trực Uỷ ban đã thành lập 4 tiểu ban để phụ trách và theo dõi các phần công việc theo lĩnh vực: Tiểu ban khoa học tự nhiên, tài nguyên và môi trường; Tiểu ban khoa học xã hội – khoa học quản lý; Tiểu ban công nghiệp; Tiểu ban nông nghiệp.

Lãnh đạo Uỷ ban, Thường trực Uỷ ban tuy đã có cố gắng tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ ngày càng tốt hơn nhưng vẫn còn nhiều mặt chưa kịp thời, chưa phát huy được năng lực của tất cả thành viên Uỷ ban.

d) Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khoá X (1997 - 2002)

Theo Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ hoạt động Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khoá X [11]:

Quốc hội khoá X đã bầu Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường gồm 28 thành viên, bao gồm đại biểu hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, khoa học, công nghệ, quản lý hành chính, quản lý kinh doanh, đại biểu do trung ương giới thiệu và đại biểu do địa phương giới thiệu ứng cử ở các vùng, miền trong cả nước. 

Uỷ ban có 4 thành viên nữ. Các thành viên Uỷ ban đều có trình độ đại học hoặc trên đại học, trong đó 18 thành viên có học vị trên đại học, 10 thành viên là giáo sư, phó giáo sư, 10 thành viên là kỹ sư, cử nhân, 13 thành viên công tác tại địa phương, trong đó 8 thành viên giữ các chức vụ chủ chốt.

So với các khoá trước, Uỷ ban đã được tăng thêm các thành viên có chuyên sâu về khoa học công nghệ, về khoa học xã hội và quản lý. Trong số 28 thành viên Uỷ ban, có 3 vị hoạt động chuyên trách, 25 thành viên khác hoạt động kiêm nhiệm, giữ trọng trách ở các cơ quan.

Thường trực Uỷ ban có 6 vị, gồm Chủ nhiệm (Phó Chủ tịch Quốc hội, kiêm chủ nhiệm Uỷ ban), 2 Phó Chủ nhiệm chuyên trách, 1 Phó Chủ nhiệm kiêm nhiệm và 2 Uỷ viên thường trực (kiêm nhiệm). Mỗi Phó Chủ nhiệm Uỷ ban được phân công phụ trách một lĩnh vực nhưng cũng có thể thay nhau đảm nhiệm công việc.

Về tổ chức, Uỷ ban đã thành lập 4 Tiểu ban chuyên môn: Tiểu ban khoa học tự nhiên, Tiểu ban khoa học kỹ thuật và công nghệ, Tiểu ban môi trường, Tiểu ban khoa học xã hội và quản lý.  Thực tế hoạt động cho thấy việc thành lập 4 tiểu ban là một định hướng đúng trong tổ chức hoạt động của Uỷ ban, song nhìn chung, Uỷ ban chưa phát huy được việc phân công này, mặt khác cũng chưa xây dựng được các quy chế hoạt động riêng để tạo điều kiện hoạt động cho các tiểu ban.

Với tổ chức và cơ cấu Uỷ ban như trên, Uỷ ban cơ bản đảm nhiệm được vai trò, nhiệm vụ của mình trong các lĩnh vực về khoa học, công nghệ và môi trường. Tuy đã có cố gắng tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ ngày càng tốt hơn nhưng việc thực hiện một số nhiệm vụ nhất là trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, công nghệ cao  còn hạn chế. Việc chỉ đạo, điều hành công việc vẫn còn nhiều mặt chưa kịp thời, chưa phát huy được năng lực của tất cả thành viên, chưa có mạng lưới cộng tác viên rộng, nhiều công việc còn tiến hành bị động hoặc cập rập, thiếu chuyên viên có năng lực, thiếu thời gian chuẩn bị.

đ) Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khoá XI

Theo Biên bản bầu Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khoá XI, Uỷ ban gồm Chủ nhiệm (Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban), 3 Phó Chủ nhiệm chuyên trách, 2 Uỷ viên thường trực (chuyên trách) và 30 Uỷ viên.

Thường trực Uỷ ban gồm 6 người đều là đại biểu Quốc hội chuyên trách. Một số trong các Uỷ viên Uỷ ban cũng là đại biểu chuyên trách tại các địa phương, cho nên so với Uỷ ban các khoá trước, điều kiện hoạt động của Uỷ ban Khoá XI là thuận lợi hơn một cách đáng kể.

II.2.2. Về kết quả hoạt động của Uỷ ban

a) Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Khoá VII (1981 - 1987)

Theo Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ hoạt động Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật   Khoá VII [10]:

Về công tác lập pháp, Uỷ ban có đề xuất yêu cầu xây dựng một số pháp lệnh trong 5 năm, nhưng đề xuất này không được chấp thuận vì Nhà nước  phải tập trung vào những vấn đề cấp bách hơn. Uỷ ban đã thúc đẩy và hỗ trợ soạn thảo “Pháp lệnh tài nguyên khoáng sản”; pháp lệnh này chưa hoàn thành dứt điểm trong nhiệm kỳ Khoá VII. Uỷ ban cũng đã nghiên cứu góp ý kiến bước đầu về nội dung đối với dự thảo “Pháp lệnh tài nguyên nước” (ở mức sơ thảo).

Về công tác giám sát, Uỷ ban đã chọn 2 nội dung chính: trong 2 năm 1983 và 1986, xem xét về tổ chức, nội dung hoạt động của hệ thống nghiên cứu khoa học và kỹ thuật; các năm còn lại, Uỷ ban đã xem xét việc ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật trong một số lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, năng lượng, hàng tiêu dùng và xuất khẩu. Việc lựa chọn những chuyên đề giám sát đã nhằm vào những vướng mắc lớn trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật cũng như những yêu cầu trọng điểm hiện nay của nền kinh tế quốc dân.

Uỷ ban được Hội đồng Nhà nước giao nhiệm vụ xem xét và báo cáo về việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đối với các ngành lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu (năm 1985 và 1986). Uỷ ban đã tiến hành xem xét và trình báo cáo lên Hội đồng Nhà nước.

Về hiệu quả hoạt động của Uỷ ban, các đoàn công tác đã góp phần giải quyết được một số việc cụ thể và tăng cường mối liên hệ của Quốc hội với địa phương, các cơ sở sản xuất, nghiên cứu và đông đảo lực lượng cán bộ khoa học và kỹ thuật. Những nhận định đánh giá của Uỷ ban đã góp phần lưu ý Quốc hội, Chính phủ, các ngành và địa phương về nhiều vấn đề quan trọng đối với đất nước.

Lãnh đạo Quốc hội đã nhiều lần có ý kiến đánh giá tốt những bản báo cáo của Uỷ ban, chỉ thị gửi báo cáo tới Hội đồng bộ trưởng và các cơ quan hữu quan. Một số vị lãnh đạo Bộ, tỉnh cũng đã có công văn phúc đáp hoặc trực tiếp gặp các thành viên Uỷ ban trao đổi ý kiến về các bản báo cáo và thuyết trình. Tuy nhiên hiệu quả của những bản báo cáo và thuyết trình còn rất hạn chế.

b) Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Khoá VIII (1987 - 1992)

Theo Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ hoạt động Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật   Khoá VIII  [10]:

Về công tác lập pháp, Uỷ ban đã chủ trì thẩm tra và đã được Quốc hội, Hội đồng Nhà nước thông qua Luật bảo vệ và phát triển rừng và 5 pháp lệnh: Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản; Tài nguyên khoáng sản; Đê điều; Đo lường; Chất lượng hàng hoá. Uỷ ban đã họp để xem xét, thẩm tra và đã có báo cáo thẩm tra trình Hội đồng Nhà nước xem xét cho ý kiến về 3 dự thảo pháp lệnh: Thú y; Bảo vệ thực vật; Phòng chống lụt bão. Các dự án do Uỷ ban chủ trì đang ở bước dự thảo gồm 4 luật: Bảo vệ môi trường; Nước; Mỏ Việt Nam; Hoạt động và phát triển công nghệ (ở dạng đề cương chi tiết); và 3 pháp lệnh: Bảo hộ quyền lợi người tiêu dùng; Bảo vệ công trình và an toàn giao thông; Bảo vệ và khai thác các công trình thuỷ lợi.

Về công tác giám sát, trong những năm 1987 - 1989 trọng tâm công tác giám sát của Uỷ ban là bám sát các mục tiêu của ba chương trình kinh tế lớn do Đại hội VI của Đảng đề ra, và Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị về khoa học kỹ thuật mà xem xét việc ứng dụng khoa học và kỹ thuật trong các lĩnh vực nông – lâm  – ngư nghiệp, năng lượng, công nghiệp nhẹ và sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu. Các năm còn lại Uỷ ban đã xem xét vấn đề đổi mới thiết bị và công nghệ để đáp ứng với cơ chế kinh tế mới ở các ngành kinh tế then chốt. Việc lựa chọn những chuyên đề giám sát đã nhằm vào những vương mắc lớn trong lĩnh vực khoa học và công nghệ cũng như những yêu cầu của thực tế đòi hỏi.

Về hiệu quả hoạt động của Uỷ ban:

- Mặc dầu trong Uỷ ban không thành viên nào có nghiệp vụ chuyên ngành về pháp luật, nhưng do biết huy động trí tuệ của các thành viên, biết khai thác, thu thập ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý, của đội ngũ chuyên viên giúp việc, cho nên các luật, pháp lệnh được Quốc hội và Hội đồng Nhà nước thông qua đã đạt chất lượng tốt, đúng tiến độ quy định, khả thi được trong cuộc sống.

- Trong các báo cáo gửi Hội đồng Nhà nước và các thuyết trình của Uỷ ban trước Quốc hội, Uỷ ban đã đánh giá khách quan những thành tựu đạt được do việc đưa kết quả nghiên cứu khoa học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống (thuyết trình năm 1989), mặt khác đã phân tích những sai sót do các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, do công dân vi phạm luật pháp, do thể chế nhà nước gây ra. Với thái độ nghiêm túc và khách quan, Uỷ ban đã lưu ý Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng về một số tình trạng nghiêm trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở khoa học.

c) Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khoá IX (1992 - 1997)

Theo Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ hoạt động Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khoá IX [10:

Về công tác lập pháp, Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã được giao chủ trì thẩm tra và phối hợp với các cơ quan khác của Quốc hội thẩm tra các văn bản pháp luật có liên quan đến lĩnh vực khoa học, công nghệ và môi trường. Trong 5 năm qua, Uỷ ban đã chủ trì thẩm tra và chuẩn bị để giúp Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua 2 luật: 1. Luật Bảo vệ môi trường (1993); 2. Luật Khoáng sản (1996); và 7 pháp lệnh: 1. Thú y; 2. Bảo vệ và kiểm dịch thực vật; 3. Phòng, chống lụt, bão; 4. Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi; 5. Bảo vệ công trình giao thông; 6. Khai thác và bảo vệ công trình khí tương thuỷ văn;   7. An toàn và kiểm soát bức xạ. Ngoài ra Uỷ ban cũng đã chủ động tham gia ý kiến vào những phần có liên quan đến khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường của các dự thảo văn bản pháp luật. Đối với các dự án luật được giao trách nhiệm chủ trì thẩm tra để thông qua vào các nhiệm kỳ sau, Uỷ ban đã tổ chức Hội thảo lấy ý kiến của các chuyên gia như dự thảo Luật Khoa học và công nghệ, Luật Xây dựng. Thường trực Uỷ ban cũng đã cử chuyên viên theo dõi và tham gia việc xây dựng các Luật này theo đề nghị của các Ban soạn thảo.

Về công tác giám sát, Uỷ ban tổ chức giám sát các bộ, ngành theo những nội dung cụ thể có liên quan, giám sát các địa phương trong lĩnh vực thuộc nhiệm vụ của Uỷ ban. Công tác giám sát các địa phương đã chiếm một phần thời gian đáng kể trong hoạt động của Uỷ ban.

- Trong từng thời kỳ, Uỷ ban đã chú trọng đề ra các phương hướng giám sát, bám theo các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà nghị quyết của Đảng và các nghị quyết của Quốc hội đã đề ra như giám sát theo chuyên đề, theo đặc điểm địa lý, kinh tế, qua đó góp ý kiến cho việc định hướng phát triển nền khoa học, công nghệ hiện nay cũng như đưa ra các kiến nghị thiết thực đối với địa phương và các cấp, các ngành có trách nhiệm.

- Uỷ ban đã giám sát việc thực hiện các Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Bảo vệ môi trường, các Pháp lệnh Đo lường, Chất lượng hàng hoá, Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Bảo vệ và kiểm dịch thực vật,  Thú y… tại các cơ quan trung ương (Bộ, ngành) cũng như tại các địa phương. Nhìn chung việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật thường rất chậm và không đồng bộ nên còn gây  trở ngại cho việc thi hành pháp luật tại địa phương. Bên cạnh đó, việc phổ biến tuyên truyền pháp luật còn yếu, điều kiện vật chất để thực hiện chưa đầy đủ, một số cơ quan nhà nước còn buông lỏng quản lý nên việc thực hiện các văn bản pháp luật chưa triệt để, hiệu quả thiết thực chưa cao.

- Uỷ ban nhận thấy trên các lĩnh vực hoạt động khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường đã có những chuyển biến tích cực, tiến bộ. Tuy nhiên Uỷ ban cho rằng cần nhìn rõ những vấn đề còn yếu và chưa có những kết quả mong đợi để tìm ra cách giải quyết.

Về hiệu quả hoạt động của Uỷ ban:

- Trong nhiệm kỳ vừa qua, Uỷ ban đã hoàn thành nhiệm vụ lập pháp được Quốc hội giao. Nhìn chung việc thẩm tra của Uỷ ban được tiến hành kỹ càng, thận trọng, có trách nhiệm và đúng quy trình lập pháp. Các văn bản pháp luật mà Uỷ ban chủ trì thẩm tra cho đến nay chưa thấy có gì sai sót hoặc sơ hở so với đường lối chung của Đảng và Nhà nước. Ý kiến thẩm tra đúng mức, rõ ràng, nêu đầy đủ các vấn đề cần thảo luận được Quốc hội xem xét và các Ban soạn thảo nghiên cứu, tiếp thụ. Tuy nhiên việc thẩm tra các dự án Luật, pháp lệnh còn ít thời gian, nhiều khi bị động vì cơ quan soạn thảo chuyển tài liệu quá gấp hoặc chương trình họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khẩn trương.

- Các hình thức giám sát từ các cơ quan trung ương đến cơ sở của Uỷ ban nói chung là đa dạng, thích hợp với mục tiêu đề ra và đã đạt được một số kết quả nhất định.  Tuy nhiên so với hiệu quả làm luật thì hiệu quả giám sát có phần kém hơn. Ý kiến giám sát của Uỷ ban đối với các cơ quan, ban ngành ít được hồi âm. Một trong những nguyên nhân là do chưa có quy chế giám sát của các cơ quan Quốc hội, của đại biểu Quốc hội đối với các cơ quan hành pháp, tư pháp. Mặt khác, một số cơ quan và địa phương còn chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, vị trí của các cơ quan của Quốc hội. Về mặt chủ quan, trong một số trường hợp Uỷ ban còn chưa tích cực theo dõi, kiểm tra việc giải quyết các kiến nghị của Uỷ ban.

d) Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khoá X (1997 - 2002)

Theo Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ hoạt động Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khoá X [11]:

Về công tác lập pháp,

-  Uỷ ban đã chủ trì thẩm tra, giúp Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua 2 luật, là Luật Tài nguyên nước và Luật Khoa học và công nghệ, và 8 pháp lệnh, là Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Pháp lệnh Đo lường (sửa đổi), Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá (sửa đổi), Pháp lệnh Thủ đo Hà Nội, Pháp lệnh Đê điều (sửa đổi), Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lênh Phóng, chống lụt, bão, Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi (sửa đổi), Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vất (sửa đổi).

- Một trong những văn bản pháp luật quan trọng mà Uỷ ban đã chủ trì thẩm tra là Nghị quyết về tiêu chuẩn các công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư. Nhiệm kỳ qua, Uỷ ban đã chủ trì thẩm tra: Nghị quyết về Tiêu chuẩn các công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư, Nghị quyết về dự án Khí - Điện - Đạm tại Bà Rịa – Vũng Tàu, Nghị quyết về dự án Nhà máy lọc dầu số 1Dung Quất, Nghị quyết về dự án Trồng mới 5 triệu ha rừng, Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án Nhà máy thuỷ điện Sơn La.

- Uỷ ban cũng đã chủ động phối hợp với các Uỷ ban khác của Quốc hội trong việc thẩm tra các vấn đề thuộc lĩnh vực chuyên môn có liên quan trong các văn bản pháp luật khác, ví dụ như Luật Phòng cháy, chữa cháy, Luật giao thông đường bộ. Đặc biệt, vì giáo dục và nghiên cứu khoa học có quan hệ chặt chẽ, trong việc xây dựng Luật Giáo dục, Uỷ ban đã chủ động tổ chức Hội thảo ở 2 miền, lấy ý kiến của các nhà khoa học để có những góp ý thiết thực cho luật này. Uỷ ban đã có những cố gắng lớn trong việc thúc đẩy ban soạn thảo đưa một số điều luật về bảo vệ môi trường và các tội phạm máy tính vào Bộ luật Hình sự.

Về công tác giám sát:

- Uỷ ban đã tổ chức các loại hình giám sát sau đây: Giám sát thường xuyên về việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, các văn bản pháp luật trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và môi trường tại các địa phương; Giám sát việc thực hiện, triển khai các hoạt động khoa học, công nghệ của các bộ, ngành, các viện, trường theo các kế hoạch đã được Quốc hội thông qua; Giám sát các vụ việc xuất hiện đột xuất về khoa học, công nghệ và môi trường; Giám sát theo chuyên đề trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và môi trường có ý nghĩa quan trọng.

- Đối với hình thức giám sát thường xuyên: Uỷ ban đã tổ chức giám sát tại 40 địa phương. Để tổ chức giám sát, Uỷ ban đã lên kế hoạch lập các đoàn giám sát và mời các thành viên, chuyên gia hoặc đại diện các Bộ cung tham gia. Tại các địa phương, đoàn đều có buổi làm việc với Thường trực HĐND, UBND, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại diện các Sở, ban, ngành có liên quan, nghe báo cáo, đi thực tế cơ sở trong địa bàn. Cuối đợt giám sát, đoàn đã thảo luận, trao đổi với lãnh đạo địa phương để có kết luận chung của đợt giám sát. Qua các đợt công tác đoàn đã ghi nhận các kiến nghị, đề xuất của địa phương, có nhận xét, đóng góp cho công tác thực hiện triển khai, góp phần cùng địa phương đề ra các hướng khắc phục. Sau mỗi đợt giám sát, các kiến nghị đã được gửi đến các cơ quan hữu quan của Chính phủ xem xét, giải quyết. Đối với những vấn đề bức xúc, Thường trực Uỷ ban đã chủ động phối hợp với các cơ quan của Chính phủ bàn biện pháp khắc phục, giải quyết. Một số việc đã được xem xét và giải quyết kịp thời.

- Hàng năm Uỷ ban đều tổ chức giám sát việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về các công trình quan trọng quốc gia, qua đó có báo cáo gửi Quốc hội. Nhìn chung, các công trình này đều triển khai chậm và thực hiện không đúng theo tiến độ đã trình Quốc hội (như Dự án Khí - Điện - Đạm, Nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất), nội dung, mục đích một số công trình cũng thay đổi (như Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng). Qua giám sát, đã thấy việc thực hiện Nghị quyết về tiêu chuẩn các công trình quan trọng quốc gia còn chưa được chấp hành nghiêm chỉnh, có công trình còn bị chia nhỏ quy mô thành nhiều dự án, để tránh các tiêu chuẩn phải trình Quốc hội xem xét, quyết định (dự án đường Hồ Chí Minh). Việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và giải trình nguồn vốn đầu tư còn chưa được tiến hành đầy đủ, đúng thủ tục, trong khi công trình đã được triển khai.

- Đối với hình thức giám sát việc thực hiện, triển khai các hoạt động khoa học, công nghệ của các bộ, ngành, viện, trường, Uỷ ban đã tổ chức hơn 50 cuộc giám sát cũng như mời đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành đến báo cáo hoặc thông qua giám sát bằng văn bản. Nội dung giám sát tập trung vào các vấn đề: quản lý và sử dụng vốn đầu tư cho nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ; vốn đầu tư phát triển cho khoa học, công nghệ, hiệu quả và ứng dụng kết quả của các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống ở địa phương.

- Đối với hình thức giám sát các vụ, việc xuất hiện đột xuất, căn cứ vào tình hình bức xúc, Thường trực Uỷ ban cũng đã tổ chức các buổi làm việc hoặc bằng hình thức gửi văn bản để giám sát các vụ, việc cụ thể, phát sinh.

- Đối với hình thức giám sát chuyên đề, Uỷ ban đã tổ chức giám sát về: Bảo vệ môi trường và xử lý chất thải trong các khu công nghiệp, Bảo vệ môi trường ở làng nghề, Khắc phục việc sử dụng quá mức túi chất dẻo gây khó khăn cho việc xử lý chất thải đô thị, Bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, Quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, Ứng dụng khoa học, công nghệ trong nuôi trồng, đánh bắt thuỷ, hải sản phục vụ chương trình xuất khẩu thuỷ sản  đến năm 2005.

Về hiệu quả hoạt động của Uỷ ban:

- Uỷ ban đã hoàn thành chương trình xây dựng pháp luật được giao trong nhiệm kỳ. Việc thẩm tra các văn bản pháp luật được tiến hành cẩn thận, công phu, đúng quy định pháp luật.

- Hầu hết các báo cáo thẩm tra các dự thảo Nghị quyết về công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội thông qua đã được các đại biểu Quốc hội đánh giá tốt (đặc biệt báo cáo thẩm tra dự án Nhà máy thuỷ điện Sơn La đã được đánh giá cao). Tuy nhiên, quá trình  thực hiện việc thẩm tra cũng đã có một số vấn đề bất cập như: trình tự, thủ tục trình Quốc hội còn cập rập, thời gian để triển khai công tác thẩm tra do vậy còn rất ít, làm cho việc thẩm tra của Uỷ ban bị động. Việc phân công thẩm tra giữa các cơ quan của Quốc hội cũng cần được cải tiến hợp lý hơn và có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa để huy động được trí tuệ tập thể trong việc thẩm tra các công trình này, tránh tình trạng một số công trình khi thực hiện gặp các vấn đề khó khăn chưa lường trước, gây kéo dài thời gian.

- Qua thực hiện công tác giám sát ở các địa phương, Uỷ ban đã hoàn thành một khối lượng công việc lớn và phức tạp, về cơ bản hoàn thành chương trình đề ra, từng bước nâng cao được chất lượng và hiệu quả giám sát. Nội dung giám sát đã bao gồm các hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường, có chú trọng các vấn đề bức xúc nảy sinh. Thường trực Uỷ ban đã có một số buổi làm việc với Phó Thủ tướng hoặc đại diện Chính phủ, các bộ, ngành để bàn biện pháp tháo gỡ và nêu các vấn đề còn vướng mắc. Tại các buổi làm việc, đại diện Chính phủ, các bộ, ngành hoan nghênh và mong muốn định kỳ thường xuyên được phối hợp với các cơ quan của Quốc hội xem xét, giải quyết từng vấn đề cụ thể.

- Công tác giám sát các Bộ, ngành đã được Uỷ ban đẩy mạnh thực hiện trong nhiệm kỳ này, tuy nhiên Uỷ ban cũng chưa giám sát được hết tất cả các Bộ, ngành về các lĩnh vực có liên quan. Qua các buổi làm việc này, các đoàn giám sát cũng đã đưa ra các hướng giải quyết cụ thể cho từng loại công việc như việc quản lý ngân sách, cơ chế xét duyệt đề tài, vốn ở các bộ, ngành, giúp các bộ, ngành thống nhất quản lý, chỉ đạo, giảm bớt chồng chéo bất hợp lý. Tuy nhiên kết quả đạt được cũng còn hạn chế, một số kiến nghị còn chưa được Chính phủ và các Bộ giải quyết hoặc trả lời, do vậy hiệu quả giám sát chưa cao.

đ) Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Khoá XI (2002 – 2007)

Trong nhiệm kỳ này, Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đang phải gánh vác một khối lượng công việc nặng nề về công tác lập pháp, đặc biệt để phục vụ cho nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và cho nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá như các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ, công nghệ thông tin và truyền thông.

Uỷ ban cũng đã đẩy mạnh công tác giám sát hoạt động của các cơ quan trung ương và tại các địa phương, về việc tuân thủ pháp luật và nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong các lĩnh vực do Uỷ ban phụ trách.

Tuy nhiên, về nhiệm vụ giám sát văn bản quy phạm pháp luật thì Uỷ ban chưa thực hiện được nhiều.

 

III.          Một số nhận xét và kiến nghị

- Qua việc xem xét báo cáo tổng kết nhiệm kỳ hoạt động của Uỷ ban trong các thời kỳ nối tiếp, có thể thấy để đáp ứng yêu cầu đặt ra ngày càng cao đối với khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường, Uỷ ban đã phải phấn đấu rất nhiều và đã có tiến bộ đáng kể về mọi mặt. Uỷ ban đã có tiến bộ, không những trong sự tiến bộ chung của Quốc hội mà còn phải có những tiến bộ vượt bậc để góp phần bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững. Càng ngày chúng ta càng thấy rõ, nhiều nước trên thế giới đang phát triển nhanh như vũ bão chính là nhờ biết phát huy tiến bộ của khoa học và công nghệ. Sự nhận thức về vai trò, vị trí cần thiết của khoa học và công nghệ đối với công cuộc phát triển của đất nước càng rõ, thì yêu cầu đòi hỏi đối với khoa học và công nghệ càng cao. Và Quốc hội chắc chắn cũng sẽ đòi hỏi ngày càng nhiều đối với tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Sự đòi hỏi của Quốc hội đối với các Uỷ ban liên tiếp từ khoá VII đến Khoá X, cũng như đối với Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khoá XI kể từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã minh chứng điều đó.

- Về tổ chức, Báo cáo các Uỷ ban nối tiếp cho thấy Uỷ ban có yêu cầu rất cao về trình độ chuyên môn của các thành viên và bao quát về cơ cấu ngành nghề chuyên môn; mặt khác, trong một số nhiệm kỳ Uỷ ban có nhiều thành viên có chuyên môn trong lĩnh vực khoa học - kỹ thuật nhưng những thành viên này phải kiêm nhiệm ở địa phương hoặc cơ sở nên mức độ đóng góp vào công việc của Uỷ ban lại rất hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến khả năng huy động nhân lực của Uỷ ban, đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng công tác của thành viên, đặc biệt trong công tác giám sát. Do vậy, một phương hướng giải quyết hợp lý nhất là ngoài việc đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn, là một đòi hỏi khá gay gắt của Uỷ ban, thì cần hướng tới việc giảm bớt số thành viên kiêm nhiệm trong Uỷ ban. Mặt khác, dù cơ cấu ngành nghề chuyên môn có bao quát đến mức nào thì cũng khó đầy đủ, cho nên Uỷ ban cần có khả năng huy động rộng rãi lực lượng các chuyên gia cần thiết để giúp Uỷ ban xem xét các vấn đề chuyên môn được giao. Mặt khác, việc tăng cường năng lực công tác của Vụ chuyên môn giúp việc cho Uỷ ban cũng là cần thiết.

- Về hoạt động lập pháp, Báo cáo của các Uỷ ban nối tiếp cho thấy Uỷ ban đã hoàn thành tốt công tác lập pháp, đặc biệt đã đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh để trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội/ Hội đồng nhà nước thông qua, khoá sau nhiều hơn khoá trước. Năm 1996 Quốc hội khoá IX đã thông qua Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật “để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng pháp luật, kịp thời thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng, đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Đến năm 2002, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Các cơ quan của Quốc hội của Khoá IX (trong một phần nhiệm kỳ) và nhất là Khoá X (trong toàn bộ nhiệm kỳ) đã căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 [7] để thực hiện công việc thẩm tra các văn bản quy phạm pháp luật. Các cơ quan của Quốc hội Khoá XI chủ yếu dựa vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002 [9] để tiến hành công việc thẩm tra. Tuy nhiên, dưới sự thúc ép của nhiệm vụ xây dựng luật pháp, một số đại biểu Quốc hội trong khoá XI đã kiến nghị nên tinh giản thêm quy trình xây dựng và thông qua luật pháp; mặt khác Quốc hội Khoá XI cũng đã đưa vào quy trình xây dựng luật pháp các phiên họp của đại biểu chuyên trách mở rộng để góp ý cho các bản dự thảo. Với những yếu tố mới đó, vấn đề xem xét sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật có thể cần được đặt ra, mặc dù lần sửa đổi, bổ sung cuối cùng mới chỉ cách nay 3 năm.

- Từ Khoá X, Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường còn gánh vác nhiệm vụ thẩm tra dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về Tiêu chuẩn các Công trình quan trong quốc gia mà Chính phủ phải trình để Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư, và đã thẩm tra 4 dự án Công trình quan trọng quốc gia. Việc thẩm tra các dự án Công trình quan trọng quốc gia đã có tác dụng tích cực đối với chất lượng các bản Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư các Công trình quan trong quốc gia, vì nhờ đó Quốc hội đã có những lưu ý xác đáng với Chính phủ để bảo đảm tính khả thi của công trình. Tuy nhiên, qua quá trình theo dõi việc tiến hành xây dựng các công trình lớn của Chính phủ, có thể thấy sự cần thiết sửa đổi Nghị quyết về về Tiêu chuẩn các Công trình quan trọng quốc gia để bổ sung các quy định về sự phối hợp giữa Chính phủ và Quốc hội để các cơ quan của Quốc hội có điều kiện thực hiện công tác thẩm tra một cách đầy đủ và chất lượng hơn. Mặt khác, Nghị quyết này cần có những quy định để tránh tình trạng phân nhỏ các Công trình quan trọng để tránh các tiêu chuẩn, nhờ đó không phải trình Quốc hội xem xét thông qua chủ trương đầu tư một cách tổng thể.

- Về nhiệm vụ giám sát, Báo cáo của các Uỷ ban nối tiếp cho thấy trong một thời gian dài, tuy các Uỷ ban đã có nhiều cố gắng, nhưng tính hiệu quả của công việc giám sát của Uỷ ban chưa cao.

Công tác giám sát đã giúp Uỷ ban nắm rõ thực tế của hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ở nước ta, cũng như của công tác quản lý khoa học, công nghệ và môi trường. Từ việc nắm rõ thực tế đó, các Uỷ ban đã có những kiến nghị ở mọi cấp để góp phần phát huy những thành tựu và khắc phục những thiếu sót, nhược điểm.

Đặc biệt, Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Khoá X, kế thừa nhận xét của Uỷ ban các khoá trước, đã kiên trì kiến nghị để Quốc hội quyết định thực hiện một lộ trình chi ngân sách cho hoạt động khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường đạt mức 2% ngân sách nhà nước hằng năm, và bảo đảm tỷ lệ này tăng dần theo thời gian. Ngoài ra, trong khuôn khổ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần quan tâm đến việc xây dựng và không ngừng mở rộng thị trường khoa học và công nghệ, khuyến khích các doanh nghiệp, các nhà sản xuất đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ để cải thiện chất lượng và tính cạnh của sản phẩm và dịch vụ của mình.

Một trong những nhận xét quan trọng và kéo dài nhiều khoá của Uỷ ban, là hệ thống quản lý khoa học, công nghệ và môi trường chưa tồn tại ở cơ sở. Bắt đầu từ khoá XI, với sự tách riêng nhiệm vụ quản lý môi trường sang Bộ Tài nguyên và Môi trường, hệ thống quản lý tài nguyên và môi trường có sự cải thiện nhờ thừa hưởng bộ máy quản lý địa chính trước đây, nhưng hệ thống quản lý khoa học và công nghệ thì chưa thay đổi gì nhiều ở cơ sở. Trong nhiều năm, việc quản lý của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển ở địa phương vẫn chưa thật sát sao. Việc cải thiện công tác quản lý của Bộ ở phạm vi địa phương là một công việc cần được xem trọng.

Quá trình giám sát của Uỷ ban cho thấy việc chuẩn bị cho các thành viên đoàn giám sát là điều hết sức cần thiết để phát huy năng lực của các thành viên. Việc huy động các chuyên gia thuộc lĩnh vực liên quan đến nội dung giám sát là rất cần thiết. Đoàn giám sát cần phối hợp với Đoàn đại biểu Quốc hội và cơ quan chuyên trách của Hội đồng nhân dân khi tiến hành công việc giám sát tại địa phương. Đoàn giám sát cần dành thời gian trao đổi với các đối tượng giám sát trước khi kết thúc công việc giám sát, để làm rõ những nội dung kiến nghị và những nhận xét của đoàn. Đoàn giám sát có thể gửi cho đối tượng giám sát các bản báo cáo kết quả giám sát, nhưng nên phân biệt bản báo cáo này mang tính tham khảo với các kiến nghị và nhận xét thuộc thẩm quyền của Uỷ ban, mà đối tượng giám sát có trách nhiệm giải quyết và phản hồi theo luật định.

Luật hoạt động giám sát của Quốc hội ban hành năm 2003 là một công cụ hữu hiệu để nâng cao hiệu quả giám sát, với điều kiện là các chủ thể giám sát phải đeo bám vào các vấn đề giám sát và yêu cầu các đối tượng giám sát phải giải quyết các kiến nghị của mình theo luật định. Sau hơn 2 năm rưỡi Luật này có hiệu lực, có thể đã đến lúc Quốc hội tổ chức giám sát việc thực hiện Luật để phát hiện và phân tích những vấn đề gặp phải khi áp dụng các quy định của Luật.

Để kết luận, chúng tôi thấy qua xem xét về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường từ thời kỳ tổ chức tiền thân là Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật khoá VII đến nay, Uỷ ban đã có nhiều tiến bộ và trưởng thành lên cùng với Quốc hội, theo đà phát triển chung của đất nước. Ngày nay, đất nước ta thực hiện đường lối đổi mới, đang xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từng bước xây dựng nền kinh tế tri thức, đang chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đang phấn đấu phát triển nhanh và bền vững, thì vai trò của khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường ngày càng được coi trọng, và trách nhiệm của các ngành khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường ngày càng nặng nề đối với sự phát triển của đất nước. Do đó, vai trò, vị trí của Uỷ ban ngày càng quan trọng và trách nhiệm của Uỷ ban đối với Quốc hội cũng ngày càng nặng nề hơn.

Tài liệu tham khảo:

[1]  Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam - 1980

[2]  Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, NXB Pháp lý – NXB Sự thật, Hà Nội - 1992

[3]  Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, đã được sửa đổi bổ sung năm 2001, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002

[4]  Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước - 1981

[5]  Luật tổ chức Quốc hội, NXB Pháp lý - 1992

[6]  Luật tổ chức Quốc hội, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002

[7]  Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996

[8]  Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2003

[9]  Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2003

[10]  Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (1981 – 1997), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997

[11]  Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (1997 – 2002), Hà Nội 2002

  

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện