Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển"

Hà Nội, 23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)

 

Trần Thế Vượng

Phó Chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật của Quốc hội

 

1.             Đặt vấn đề

1.1  nhiều nước trên thế giới, nói đến hoạt động tư pháp là nói đến hoạt động xét xử của toà án cũng như nói đến cơ quan tư pháp  là nói đến toà án. Còn ở nước ta, khái niệm “hoạt động tư pháp” luôn có những thay đổi theo các giai đoạn lịch sử, gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nếu theo tinh thần của Hiến pháp năm 1946, với quy định về cơ quan tư pháp là toà án[1] thì, hoạt động tư pháp thuần tuý được hiểu ch? là hoạt động xét xử của toà án. Từ Hiến pháp năm 1959 trở đi, khái niệm “hoạt động tư pháp” từng bước được mở rộng và đến nay đã gồm nhiều hoạt động khác nhau, như: khởi tố, truy tố, điều tra,  xét xử, thi hành án...Bên cạnh đó, còn có khái niệm “hoạt động bổ trợ tư pháp” để chỉ các hoạt động của các tổ chức được nhà nước thành lập hoặc thừa nhận nhằm giúp cho các cơ quan tư pháp thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án..., như một số hoạt động giám định tư pháp, luật sư....

Các hoạt động tư pháp hiện nay được thực hiện bởi nhiều chủ thể, như: Toà án; Viện kiểm sát; Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an,  Bộ Quốc phòng; các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Toà án như  cơ quan Công an, các cơ quan thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú, làm việc...Chưa kể, còn có những cơ quan khác cũng được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, như: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển...Các hoạt động tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ các quyền tự do, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của công dân...

1.2. Trên thế giới, nói đến tư pháp là nói đến một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập rất cao trong mối quan hệ với lập pháp và hành pháp. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là lĩnh vực tư pháp độc lập một cách tuyệt đối với các lĩnh vực lập pháp và hành pháp. Xét về phương diện phân công (hay phân chia) và thực hiện quyền lực ở mỗi quốc gia, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp đều có quan hệ và ảnh hưởng qua lại với nhau trong hoạt động. Mức độ của sự ảnh hưởng này tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như: bản chất nhà nước; các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước; các yếu tố  văn hoá pháp lý và dân chủ; điều kiện thực tế của mỗi nước...

1.3  Ở  nước ta, từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1945) đến nay, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm  tới việc xây dựng mối quan hệ hài hoà, gắn kết giữa các cơ quan nhà nước, giữa các lĩnh vực hoạt động nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng hướng tới một mục tiêu chung,  trên cơ sở các nguyên tắc nền tảng: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” như  Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi) khẳng định[2].  Chính vì lẽ đó, giữa Quốc hội với các cơ quan trong bộ máy nhà nước luôn có quan hệ khăng khít và ảnh hưởng qua lại. Đồng thời, từ  Hiến pháp năm 1946 đã xác định “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất[3] và các Hiến pháp sau đó đều xác định Quốc hội là “cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”[4] nên, trong các mối quan hệ  giữa các cơ quan nhà nước, Quốc hội có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng, chi phối  rất lớn đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, trong đó có tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp.

2.             Khái quát vai trò Quốc hội  đối  với  hoạt động  tư pháp

Với vị trí, vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, các hoạt động của Quốc hội có tác động to lớn đối với toàn bộ sự phát triển kinh tế- văn hoá-xã hội của đất nước, trong đó có lĩnh vực tư pháp. Đồng thời với những tác động trực tiếp tới lĩnh vực tư pháp, thông qua những tác động tới các lĩnh vực của đời sống xã hội (như: xây dựng nhà nước, tăng cường pháp chế, mở rộng dân chủ, bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân, phát triển kinh tế- xã hội...), hoạt động của Quốc hội cũng gián tiếp có vai trò, ảnh hưởng lớn tới hoạt động tư pháp và môi trường hoạt động tư pháp.

Sau đây, chúng tôi chỉ xin trình bày khái quát về vai trò trực tiếp của Quốc hội đối với hoạt động tư pháp thông qua một số lĩnh vực hoạt động cơ bản của Quốc hội.

2.1         Quốc hội với việc xây dựng pháp luật – cơ sở pháp lý cho hoạt động tư pháp

Muốn thực hiện được sứ mạng thiêng liêng là bảo vệ hiến pháp, bảo vệ pháp luật, thì trước hết, các hoạt động  tư pháp này phải được tiến hành trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, tuân thủ đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật. Không thể có một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh nếu không dựa trên nền tảng  hệ thống pháp luật đầy đủ, toàn diện và hợp lý.

Có thể nói, vai trò lớn nhất, có ý nghĩa nhất của Quốc hội đối với hoạt động tư pháp chính là vai trò xây dựng pháp luật làm cơ sở pháp lý cho hoạt động tư pháp.

Trong 60 năm qua, Quốc hội các khoá đã thông qua 4 bản Hiến pháp[5] và 3 nghị quyết sửa đổi Hiến pháp[6]. Qua đó, Quốc hội đã thay mặt nhân dân thiết lập và xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm  quyền và các nguyên tắc hoạt động cơ bản nhất của các cơ quan  tư pháp, như: Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân.

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Quốc hội các khoá đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến tổ chức bộ máy, nhiệm vụ và thẩm quyền của các cơ quan tư pháp. Về tổ chức Toà án nhân dân, có các Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1992[7], năm 2002...; Về tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, có các Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992; năm  2002...; Về tổ chức các cơ quan điều tra hình sự, có các Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm  1989, năm 2004; Về tổ chức các cơ quan thi hành án, có các Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm  1993, năm 2004… Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để hình thành và phát triển các cơ quan tư pháp phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mà cuộc sống đặt ra  trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp có trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức tốt là vấn đề đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp.  Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội luôn quan tâm tới việc ban hành các văn bản pháp luật về xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp, như: Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân năm  1993, năm 2002; các Pháp lệnh về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm  1993, năm 2002; Pháp lệnh Cán bộ công chức năm 1998[8]; Pháp lệnh phòng, chống tham nhũng năm 1998..; và, mới đây nhất là Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 cũng là những văn bản có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp.

Song song với việc ban hành các văn bản về tổ chức bộ máy, về cán bộ, công chức của các cơ quan tư pháp, Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý cho hoạt động tư pháp,  như: các Bộ luật Hình sự năm 1985, năm 1999; các Bộ luật Tố tụng hình sự  năm 1988[9]; năm  2003; Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989; các Bộ luật Dân sự năm 1995;  năm  2005; Bộ luật tố tụng dân sự năm  2004; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài năm 1993; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994; Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam  quyết định của trọng tài nước ngoài năm 1995; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996...Trong số này, có những văn bản có thể nói là đồ sộ nhất trong hệ thống văn bản pháp luật hiện nay ở nước ta, như: Bộ luật hình sự năm 1999 (với 24 chương, 344 điều), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2004 (với 37 chương, 346 điều), Bộ luật Tố tụng dân sự năm  2004 (với 36 chương, 418 điều), Bộ luật Dân sự năm 2005 (với 36 chương, 777 điều)… Hiện nay, còn không ít những văn bản  quan trọng liên quan đến hoạt động tư pháp  đã và đang được Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội xem xét, cho ý kiến hoàn thiện trước khi được thông qua trong thời gian tới, như: Dự án Bộ luật Thi hành án,  Dự án Luật về luật sư, Dự án Pháp lệnh Trợ giúp pháp lý...

Hầu hết các văn bản pháp luật quan trọng liên quan đến hoạt động tư pháp nêu trên  được Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành trong thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay - một thời gian chưa phải là dài so với 60 năm lịch sử của Quốc hội nước ta và càng không phải là dài nếu so với lịch sử xây dựng pháp luật hàng trăm năm của nhiều nước trên thế giới. Kết quả đó đã  nói lên được sự quan tâm và những nỗ lực rất lớn của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội  và các cơ quan hữu quan trong việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động tư pháp ở nước ta.

2.2 Quốc hội với việc quyết định về tổ chức, về nhân sự và các điều kiện bảo đảm cho hoạt động tư pháp

Có pháp luật nhưng không có bộ máy và nhân sự phù hợp, không có những điều kiện bảo đảm về  tài chính và về phương tiện hoạt động, thì các cơ quan tư pháp cũng khó có  thể hoạt động tốt.

Căn cứ vào quy định của Hiến pháp và các luật về tổ chức bộ máy nhà nước, tại các kỳ họp thứ nhất của mỗi  khoá[10], Quốc hội tiến hành  việc xem xét, phê chuẩn các chức danh đứng đầu các cơ quan tư pháp, như: Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Trong một số nhiệm kỳ Quốc hội, đáp ứng những yêu cầu thực tế mới phát sinh, Quốc hội đã kịp thời có những nghị quyết về việc miễn nhiệm, cho thôi làm nhiệm vụ đối với một số chức danh đứng đầu các cơ quan tư pháp.

Quốc hội các khoá cũng từng bước tiến tới thực hiện ngày một đầy đủ thẩm quyền ngân sách, trong đó có nội dung quyết định về kinh phí hoạt động của Toà án nhân dân tối cao, của các Toà án nhân dân địa phương và của các Toà án quân sự, kinh phí hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.[11]

Thời gian qua, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cũng đã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng đối với hoạt động tư pháp như: i) Quy định tiêu chuẩn cụ thể của Thẩm phán, Hội thẩm của Toà án, thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán, bầu hoặc cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm, quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán, Hội thẩm; quy định tiêu chuẩn cụ thể, Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên và Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân;  Quy định chế độ tiền lương, phụ cấp, giấy chứng minh, trang phục đối với cán bộ ngành kiểm sát và các chế độ ưu tiên đối với Kiểm sát viên, Điều tra viên khi thực hiện nhiệm vụ... ; ii) Quyết định số lượng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, số lượng Thẩm phán và Hội thẩm  của các toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự; quyết định tổng biên chế của Toà án nhân dân tối cao và của các Toà án nhân dân địa phương, tổng biên chế của Toà án quân sự trung ương và các Toà án quân sự quân khu và tương đương, Toà án quân sự khu vực;  quyết định tổng biên chế, số lượng Kiểm sát viên, Điều tra viên của ngành Kiểm sát; iii) Phê chuẩn  thành viên Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Uỷ viên Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn quy định về bộ máy giúp việc của Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương và bộ máy giúp việc của các Toà án quân sự theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao; phê chuẩn bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của Viện kiểm sát quân sự theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao...

Trong quá trình thực hiện việc quyết định về nhân sự cho các cơ quan tư pháp, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã luôn bảo đảm được sự lãnh đạo về công tác cán bộ của Đảng,  giúp Đảng, Nhà nước lựa chọn được những người xứng đáng để trao trọng trách. Những quyết định của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về vấn đề này trong các thời kỳ  luôn bảo đảm được tính đúng đắn, phù hợp với yêu cầu thực tế  mà công tác tư pháp đặt ra .

2.3          Quốc hội với việc giám  sát hoạt động tư pháp

Trong những năm qua, nhất là từ nhiệm kỳ Quốc hội khoá VIII (1987-1992) trở lại đây, Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội  và các vị đại biểu Quốc hội đã tiến hành giám sát khá toàn diện các hoạt động tư pháp, như: xem xét, thẩm tra các báo cáo công tác của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các báo cáo của Chính phủ về tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, về công tác thi hành án; chất vấn những người đứng đầu các cơ quan tư pháp; giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giám sát việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân trong lĩnh vực tư pháp; thành lập các đoàn giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, của Uỷ ban pháp luật để giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp tại các địa phương trong cả nước hoặc giám sát việc giải quyết một số vụ án cụ thể ...

Qua giám sát hoạt động tư pháp, Quốc hội cũng đánh giá được hiệu quả thực tế của cả hệ thống pháp luật. Điều này không chỉ giúp Quốc hội thực hiện có hiệu quả hơn chức năng lập pháp (trong đó có những lĩnh vực liên quan đến hoạt động tư pháp) mà còn chỉ ra, giúp các cơ quan tư pháp và các cơ quan hữu quan thấy được những ưu điểm cần phát huy, những nhược điểm cần khắc phục trong việc ban hành và thực thi pháp luật thuộc chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan này.

Thông qua việc giám sát các hoạt động tư pháp, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội cũng trực tiếp góp phần khắc phục những hạn chế và chấn chỉnh về mặt tổ chức, hoạt động, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh.

Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng công tác giám sát hoạt động tư pháp của Quốc hội trong thời gian qua vẫn còn  những hạn chế. Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp chủ yếu mới thông qua hai hình thức:  nghe báo cáo công tác của những người đứng đầu các cơ quan tư pháp; xem xét việc chất vấn và trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội đối với những người đứng đầu các cơ quan tư pháp. Còn, việc tổ chức các Đoàn giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về tình hình thi hành pháp luật ở các địa phương vẫn chưa được tiến hành một cách thường xuyên. Việc chất vấn và trả lời chất vấn  đối với những người đứng đầu các cơ quan tư pháp tại các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đến nay cũng chưa được thực hiện...

3.             Một số kinh nghiệm và bài học

Qua thực tiễn hoạt động của Quốc hội và quá trình phát huy vai trò to lớn của Quốc hội đối với lĩnh vực hoạt động tư pháp những năm qua, chúng tôi bước đầu rút ra một số kinh nghiệm và bài học sau:

Thứ nhất, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội cần đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó đặc biệt quan tâm tới việc hoàn thiện pháp luật hình sự, pháp luật dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp; góp phần hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp.

Như đã trình bày, để tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất và đồng bộ cho hoạt động của các cơ quan tư pháp, thì việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật có vai trò rất quan trọng. Trong thời gian tới,  cần  tiếp tục đổi mới quy trình lập pháp của Quốc hội nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng pháp luật, bảo đảm về số lượng và chất lượng các văn bản pháp luật điều chỉnh mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, cần đặc biệt quan tâm tới việc hoàn thiện  chính sách, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp; hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp, hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp.

Trong hoạt động tư pháp, khi phát sinh những trường hợp quy định của luật, pháp lệnh có sự nhận thức không thống nhất giữa các cơ quan, tổ chức, thì  các cơ quan tư pháp phải kịp thời báo cáo và chuẩn bị nội dung trình để Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành văn bản giải thích.

Qua hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật liên quan đến hoạt động  tư pháp thời gian qua cho thấy: pháp luật càng cụ thể, càng bảo đảm được tính minh bạch, tính chính xác trong hoạt động tư pháp cũng như trong các bản án, quyết định của các cơ quan tư pháp. Việc Quốc hội đã thường xuyên quan tâm đổi mới và hoàn thiện các văn bản pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự, dân sự, tố tụng dân sự theo hướng từng bước quy định cụ thể hoá các tội danh, cụ thể hoá các mức hình phạt (trong Bộ luật Hình sự), hay cụ thể hoá các hành vi và quan hệ dân sự (trong Bộ luật Dân sự), các hành vi tố tụng (trong Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự)…và hiệu quả thực hiện các văn bản pháp luật này trên thực tế  trong thời gian qua là những kinh nghiệm, bài học rất sâu sắc.

Thứ hai, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội cần chủ động phối hợp chặt chẽ với Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan,  tổ chức Đảng  để rà soát, đánh giá và kiện toàn nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp; bảo đảm cơ sở vật chất, ngân sách và phương tiện làm việc cho các cơ quan  tư pháp.

Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội cần thường xuyên quan tâm hơn nữa tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp trong sạch, vững mạnh; bảo đảm cơ sở vật chất và phương tiện làm việc hiện đại cho hoạt động tư pháp, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của tình hình thực tế hiện nay.

Những vấn đề về bộ máy, về nhân sự, về ngân sách hoạt động của các cơ quan tư pháp…có phạm vi rộng và rất phức tạp, liên quan đến thẩm quyền, chức năng của nhiều cơ quan của Đảng, Nhà nước. Chỉ riêng Quốc hội không thôi thì không thể giải quyết được. Chưa kể, đang có nhiều thách thức ngày càng nghiêm trọng đặt ra cho nền tư pháp, như: tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm quốc tế, tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao, việc áp dụng pháp luật quốc tế, pháp luật và tập quán của các nước, việc thi hành các bản án, phán quyết của toà án và trọng tài nước ngoài... Nếu Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan Đảng và các cơ quan tư pháp không có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên để có những biện pháp đồng bộ, kiên quyết, khẩn trương nhằm kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp, hiện đại hoá cơ sở vật chất và các phương tiện hoạt động cho các cơ quan tư pháp, thì hoạt động tư pháp không thể đáp ứng được yêu cầu cuộc sống đặt ra. Với vai trò, vị trí của mình, Quốc hội, các cơ quan  của Quốc hội cần chủ động đóng vai trò đầu mối trong hoạt động phối hợp này.

Thứ ba, cần tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa công tác giám sát hoạt động tư pháp trên cơ sở Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội

Cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện và cụ thể hoá cơ chế giám sát bước đàu đã được xác lập trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội; trong đó, cần quan tâm phân định rõ phạm vi, thẩm quyền giám sát hoạt động tư pháp giữa Uỷ ban Thường vụ Quốc hội với Uỷ ban chuyên môn được phân công giám sát hoạt động tư pháp và giữa các Uỷ ban của Quốc hội với nhau.

Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội cần thực hiện tốt các nguyên tắc đã được xác định rõ tại Điều 4 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội[12]. Trong đó, cần đặc biệt chú trọng tới nguyên tắc dựa vào sự ủng hộ, tham gia của nhân dân. Kinh nghiệm thực tế từ các cuộc giám sát tư pháp vừa qua đã cho thấy: nếu không dựa vào sự ủng hộ, tham gia của quần chúng nhân dân thì hiệu lực và hiệu quả giám sát của Quốc hội khó có thể đáp ứng được yêu cầu đề ra.

Tại các kỳ họp, Quốc hội nên dành thời gian thích đáng để xem xét, thảo luận và nên có các nghị quyết đánh giá về các báo cáo công tác của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các báo cáo của Chính phủ về tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật, về công tác thi hành án. Giữa hai kỳ họp Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng cần quan tâm, dành nhiều thời gian hơn nữa cho công tác giám sát tư pháp.

Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng chất vấn và trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội đối với những người đứng đầu các cơ quan tư pháp. Phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội đối với hoạt động tư pháp; có cơ chế cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin về hoạt động của các cơ quan tư pháp cho các đại biểu Quốc hội. Khắc phục tư tưởng hữu khuynh, né tránh, ngại va chạm hoặc vì lợi ích cục bộ của ngành, của địa phương trong hoạt động chất vấn những người đứng đầu các cơ quan tư pháp của đại biểu Quốc hội.

Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện bộ máy và cơ chế hoạt động của Quốc hội để phát huy tốt hơn nữa vai trò của Quốc hội  đối với hoạt động tư pháp

Như đã trình bày, vai trò, trách nhiệm  của Quốc hội đối với lĩnh vực tư pháp là rất lớn, rất quan trọng nhưng cũng rất khó khăn, nặng nề. Để giúp Quốc hội hoàn thành được vai trò lớn lao này, thì  phải có bộ máy có tính chuyên nghiệp cao, thường xuyên theo dõi, đánh giá được những mặt được, mặt chưa được của các cơ quan tư pháp và các hoạt động tư pháp để tham mưu, đề xuất với Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Trong thời gian qua, mặc dù Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội – cơ quan được phân công giúp Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trong lĩnh vực tư pháp cũng đã quan tâm tới hoạt động tư pháp, nhưng do điều kiện hạn chế về bộ máy, về cơ chế, về nhân lực, về phương tiện và về quỹ thời gian nên khó có điều kiện theo dõi sâu sát và thường xuyên. Do đó, việc thẩm tra và quyết định những vấn đề về pháp luật, về tổ chức bộ máy, về nhân sự, về ngân sách hoạt động của các cơ quan tư pháp tại Quốc hội còn chưa thật sự chủ động hoàn toàn, vẫn phải dựa trên đề xuất và giải trình của các cơ quan hữu quan là chính. Đây là một vấn đề  cũng cần sớm khắc phục.

Giám sát hoạt động tư pháp cũng như giám sát nhiều lĩnh vực hoạt động nhà nước khác, vừa yêu cầu tính chuyên môn cao, vừa yêu cầu phải được tiến hành thường xuyên, liên tục. Đây là một thách thức đối với cơ cấu đại biểu chủ yếu vẫn là đại biểu kiêm nhiệm và cơ chế làm việc tập thể hiện nay của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Nên chăng, trong thời gian tới, chúng ta phải tính đến một cơ chế làm việc mới, phù hợp hơn cho hoạt động giám sát nói chung và giám sát tư pháp nói riêng. Ngoài ra, cũng cần nghiên cứu phân định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm giám sát tư pháp giữa Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Uỷ ban chuyên môn.

*

*           *

Hiệu lực và hiệu quả  hoạt động tư pháp trên thực tế là sự  hiện thực hoá vai trò của Quốc hội đối với hoạt động tư pháp. Trong điều kiện nền tư pháp của chúng ta mặc dù đã có nhiều đổi mới và tiến bộ nhưng vẫn còn những bất cập, chưa thật sự đáp ứng được mong muốn của nhân dân, thì càng cần phát huy hơn nữa vai trò của Quốc hội đối với hoạt động tư pháp, gắn với việc triển khai thực hiện tốt các nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị về công tác tư pháp, như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”.


 

[1] Xem: Điều 63 của Hiến pháp năm 1946

[2] Xem: Điều 2 của Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi)

[3]  Xem: Điều 22 của Hiến pháp năm 1946

[4] Xem: Điều  43 của Hiến pháp năm 1959, Điều 82 của Hiến pháp năm 1980 và Điều 83 của  Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi)

[5] Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992

[6] Vào các năm 1988, 1989,  2001.

[7]  Đã được sửa đổi, bổ sung năm 1993, 1995.

[8] Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2000, 2003.

[9] Đã được sửa đổi, bổ sung năm 1990, 1992, 2000.

[10] Trừ  Quốc hội khoá I là không tiến hành việc này.

[11] Theo  các dự toán do Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao lập và do Chính phủ trình. 

[12] Như: nguyên tắc công khai, khách quan; nguyên tắc tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giám sát; nguyên tắc thực hiện đúng thẩm quyền của cơ quan giám sát; nguyên tắc bảo đảm hoạt động bình thường của các cơ quan tư pháp; nguyên tắc phải chịu trách nhiệm về quyết định, yêu cầu, kiến nghị giám sát; nguyên tắc dựa vào sự tham gia của nhân dân, của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.

   

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện