Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển"

Hà Nội, 23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)

Trần Văn Tám

 Phó Vụ trưởng Vụ Công tác đại biểu - VPQH

 

Quốc hội cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gồm những người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra. Các cơ quan, tổ chức của Quốc hội được thành lập đều để nhằm mục đích duy nhất là thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, bảo đảm phát huy bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân

Khác với chế độ Đại nghị tư sản ở nhiều nước trên thế giới có thể chế chính trị tam quyền phân lập, ở đó tổ chức nghị viện là tập hợp của từng nhóm nghị sỹ, đại diện cho các giai cấp, các đảng phái, các quyền lợi khác nhau, đối trọng nhau, ở đó các nghị sỹ là những người hoạt động chuyên nghiệp, có văn phòng, thư ký và bộ máy giúp việc ở tại đơn vị bầu cử của mình, được giành toàn bộ thời gian cho hoạt động nghị sỹ và được hưởng lương cùng với nhiều chế độ, điều kiện khác bảo đảm cho hoạt động; Quốc hội nước ta là một tổ chức thống nhất của ý chí và nguyện vọng của nhân dân, các đại biểu Quốc hội được nhân dân trực tiếp bầu ra để thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước ở Quốc hội, kết hợp hài hòa quyền lợi của địa phương, đơn vị nơi bầu ra mình và quyền lợi của cả nước.

Phù hợp với bản chất Nhà nước, với đặc thù tổ chức và hoạt động của Quốc hội, ngay từ kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa I, một hình thức tổ chức được hợp thành từ các đại biểu Quốc hội trong đơn vị địa phương khu hoặc liền khu  được hình thành, để liên hệ với Chủ tịch đoàn kỳ họp và để trao đổi ý kiến về những vấn đề của kỳ họp, làm cho kỳ họp được tiến hành thuận lợi. Hình thức tổ chức đó là Đoàn đại biểu Quốc hội địa phương, từ khi được thành lập, đã ngày càng phát huy tác dụng trong thực tế hoạt động và tiếp tục tồn tại trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, để giúp cho sự liên hệ giữa các đại biểu với ban thường trực Quốc hội (Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày nay), giữa các đại biểu trong một địa phương với cử tri, là đầu mối giúp cho đại biểu Quốc hội hầu hết là hoạt động kiêm nhiệm có điều kiện liên hệ, triển khai các hoạt động, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội là một nét đặc thù trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Bởi vì, Quốc hội nước ta gồm hầu hết các đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm, không thoát ly công tác và sản xuất. Các đại biểu được bầu ở một địa phương thường là những người đã từng sống và công tác ở địa phương đó, có sự gắn bó và hiểu biết địa phương. Các đại biểu Quốc hội được bầu ra ở một địa phương (đơn vị hành chính cấp tỉnh) trước hết là người đại diện cho nhân dân ở địa phương và đơn vị bầu cử, đồng thời cũng là người đại biểu đại diện cho nhân dân cả nước. Xuất phát từ tính chất hoạt động kiêm nhiệm của đại biểu Quốc hội và tính đại diện cho nhân dân địa phương đã bầu ra mình, nên hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương để tạo điều kiện thuận lợi cho đại biểu Quốc hội hoạt động là yêu cầu thực tế khách quan. Mặt khác, Quốc hội nước ta với tính chất là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, tất cả quyền lực Nhà nước đều tập trung thống nhất ở Quốc hội. Cơ cấu, thành phần của Quốc hội là thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân, không có sự phân chia đối lập, tranh dành quyền lực giữa các nhóm, tổ chức chính trị, các tầng lớp xã hội khác nhau như Quốc hội các nước tư sản. Chính vì vậy, Đoàn đại biểu Quốc hội được thành lập để nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động của Quốc hội, thể hiện ý chí chung của toàn dân. Mọi hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật và thể hiện ý chí chung của Quốc hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhờ có tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội với tính chất là đầu mối hoạt động, sinh hoạt của các đại biểu Quốc hội trong một tỉnh, thành phố thuộc trung ương, mà hoạt động của mỗi cá nhân đại biểu cũng được tăng cường, phát huy, góp phần mở rộng mối liên hệ chặt chẽ giữa các đại biểu Quốc hội với cử tri, đồng thời tạo điều kiện để các đại biểu Quốc hội tại địa phương có hình thức hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình trong cùng một địa phương, một đơn vị bầu cử. Việc tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội đương nhiên không làm mất đi hoặc hạn chế quyền hạn, nhiệm vụ của cá nhân mỗi đại biểu Quốc hội. Thực tế đã cho thấy rằng, trong điều kiện các đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm, trình độ, khả năng và vị trí công tác giữa các đại biểu Quốc hội không đồng đều, nếu không có hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội thì chắc rằng hoạt động của các "nghị sỹ không chuyên nghiệp" ở địa phương, cơ sở sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình.

Qua 11 khóa Quốc hội cho thấy, hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội là rất cần thiết, các Đoàn đại biểu Quốc hội đã ngày càng phát huy tác dụng và thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội trong các lĩnh vực hoạt động: Xây dựng pháp luật, giám sát, tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, giữ mối quan hệ công tác và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương, ở trung ương, cũng như các hoạt động tại kỳ họp Quốc hội, góp phần rất quan trọng và kết quả hoạt động chung của Quốc hội:

I. Việc thực hiện các hoạt động của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội.

- Về hoạt động tham gia xây dựng pháp luật: Một trong những nhiệm vụ quan trọng của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội là tham gia hoạt động lập pháp. Tuy nhiên, Quốc hội nước ta trong nhiều nhiệm kỳ trước đây gồm hầu hết đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm, điều kiện về thời gian dành cho việc nghiên cứu, chuẩn bị các ý kiến về các dự án Luật rất hạn chế; trong khi đó, yêu cầu về số lượng và chất lượng các dự án luật trình Quốc hội xem xét, thông qua ngày càng tăng, mà thời gian dành cho mỗi kỳ họp có hạn. Tình hình đó đòi hỏi sự đổi mới quy trình lập pháp của Quốc hội, trong đó có giai đoạn tham gia xây dựng dự án luật của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tại địa phương trước kỳ họp. Vấn đề đặt ra là trong điều kiện đa số các đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm, thì vai trò của đại biểu Quốc hội chuyên trách và Đoàn đại biểu biểu Quốc hội trong việc tổ chức để các đại biểu thực hiện nhiệm vụ này như thế nào. Để tạo điều kiện cho các Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện được yêu cầu đó, dưới các mức độ khác nhau, trong các văn bản pháp luật được ban hành, từ Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, Nội quy kỳ họp Quốc hội…đều xác định nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội trong việc tham gia xây dựng pháp luật, như: Các Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức lấy ý kiến nhân dân, các cơ quan, tổ chức hữu quan ở địa phương; các chuyên gia, cộng tác viên, tư vấn liên quan đến dự án Luật; tổ chức cho đại biểu Quốc hội trong đoàn nghiên cứu đóng góp ý kiến vào các dự án luật; làm báo cáo tổng hợp ý kiến tham gia và các dự án Luật gửi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội theo quy định.

Trong những nhiệm kỳ gần đây, nhất là nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI hiện nay, quy định Đoàn đại biểu Quốc hội có đại biểu chuyên trách hoạt động thường xuyên, và những quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội trong việc tham gia xây dựng pháp luật, về các điều kiện bảo đảm để đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ này, là cơ sở quan trọng để thực hiện quá trình đổi mới hoạt động lập pháp. Trong đó, công đoạn tham gia xây dựng pháp luật của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương đã thực sự trở thành một khâu không thể thiếu trong quy trình lập pháp của Quốc hội, và đã đóng góp tích cực vào việc tăng cường số lượng và chất lượng các dự án Luật được thông qua tại kỳ họp Quốc hội.

- Về hoạt động giám sát: Hoạt động giám sát, kiểm tra là một trong những nhiệm vụ quan trọng của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội được quy định ngày càng đầy đủ, cụ thể hơn trong các văn bản pháp luật, trong đó có Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, đã tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện ngày càng có hiệu quả , chất lượng hơn. Theo quy định, Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện hoạt động giám sát thông qua việc tổ chức Đoàn giám sát của Đoàn và tổ chức để các đại biểu Quốc hội trong Đoàn giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố thuộc trung ương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đã chuyển đến cơ quan, tổ chức, các nhân có thẩm quyền giải quyết. Khi tiến hành giám sát, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát, trả lời về những vấn đề mà Đoàn đại biểu Quốc hội quan tâm. Xem xét, giải quyết những vấn đề có liên quan đến việc thi hành chính sách, pháp luật của Nhà nước hoặc liên quan đến đời sống kinh tế- xã hội của nhân dân địa phương. Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan áp dụng các biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm, khôi phục lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật.

Mặc dù quy định của pháp luật về hoạt động giám sát đã tương đối đầy đủ, Đoàn đại biểu Quốc hội đã có đại biểu chuyên trách làm đầu mối tổ chức các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội đã có rất nhiều cố gắng đổi mới, cải tiến nội dung, phương thức giám sát, nhưng trên thực tế, kết quả hoạt động giám sát của các Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội tại địa phương vẫn còn là khâu yếu, hiệu quả chưa cao, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu hiện nay. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng chủ yếu tập trung vào một số vấn đề, như: Trong quá trình giám sát, tình trạng e dè, nể nang, hoặc né tránh, để dĩ hoà vi quý. Hoạt động giám sát chỉ mới dừng lại ở mức độ, chưa tạo thành sức “nặng” theo đúng tính chất của nó; cơ cấu đại biểu Quốc hội hiện nay còn kiêm nhiệm nhiều trong các cơ quan quản lý Nhà nước, cho nên khi tiến hành giám sát cũng có những hạn chế nhất định; bộ máy Văn phòng giúp việc Đoàn đại biểu Quốc hội hiện còn chưa tương xứng với yêu cầu tham mưu phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội trong hoạt động giám sát…Đây là những vấn đề cần phải quan tâm chỉ đạo chặt chẽ thường xuyên hơn nữa.

- Về hoạt động tiếp dân, tiếp xúc cử tri:

 Trong hoạt động tiếp dân, Đoàn đại biểu Quốc hội mà trực tiếp là Trưởng đoàn hoặc phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách có trách nhiệm tổ chức, phân công đại biểu trong đoàn định kỳ tiếp công dân, để nắm bắt tình hình chung về kinh tế - xã hội ở địa phương, nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, nhận và chuyển đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân đến cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan; đồng thời theo dõi, giám sát, đôn đốc, các cơ quan xem xét, giải quyết. Trong nhiều năm gần đây, hoạt động tiếp công dân, nhận chuyển đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết và giám sát, theo dõi việc giải quyết, đã được các Đoàn đại biểu quan tâm làm tốt. Trên thực tế so với nhiều năm trước đây, hoạt động này của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội đã đạt một số kết quả. Các đoàn đã thường xuyên nghiên cứu, cải tiến phương thức và hình thức tiếp dân, phân công các đại biểu Quốc hội định kỳ tiếp dân, phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các ngành của tỉnh, thành phố cùng tiếp dân để có sự phối kết hợp chặt chẽ, phân công trách nhiệm trong việc nghiên cứu, xử lý đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân. Tuy nhiên, Đoàn đại biểu Quốc hội không phải là một cấp giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Nhiệm vụ chủ yếu của Đoàn đại biểu Quốc hội trong lĩnh vực tiếp dân là để nghe ý kiến, nguyên vọng của nhân dân, nhận và chuyển đơn thư, khiếu nại, tố cáo đến cơ quan và cá nhân có trách nhiệm; theo dõi, đôn đốc, yêu cầu các cơ quan, cá nhân hữu quan xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết cho Đoàn đại biểu Quốc hội và người khiếu nại, tố cáo biết. Trong trường hợp cần thiết, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc người khiếu nại, tố cáo trình bầy và cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan; xem xét, xác những vấn đề mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội quan tâm hoặc tổ chức Đoàn giám sát để giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tại đại phương. Nếu xét thấy việc giải quyết không thỏa đáng, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức hữu quan, cấp trên của cơ quan, tổ chức đó xem xét, giải quyết.

Hoạt động tiếp xúc cử tri, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội quy định: Chậm nhất là hai mươi ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức cho đại biểu Quốc hội trong đoàn tiếp xúc cử tri để thu thập ý kiến, nguyện vọng của nhân dân. Và chậm nhất là hai mươi ngày sau ngày bế mạc kỳ họp Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức cho đại biểu trong Đoàn báo cáo kết quả kỳ họp Quốc hội với cử tri, phổ biến các Luật, Nghị Quyết và các quy định khác mà Quốc hội đã thông qua; đồng thời động viên nhân dân thực hiện các Nghị Quyết của Quốc hội, chính sách và pháp luật của Nhà nước…

Để hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội trở thành hoạt động thường xuyên, tránh hình thức và có thực chất hơn, ngoài quy định tiếp xúc cử tri theo định kỳ trước và sau kỳ họp Quốc hội. Năm 2004, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành Nghị Quyết liên tịch số 06/2004, ngày 10 thánh 9 năm 2004 quy định việc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội. Theo đó, hình thức tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội  được mở rộng như: Tiếp xúc cử tri nơi công tác (nơi làm việc), tiếp xúc cử tri nơi cư trú, tiếp xúc cử tri theo giới ngành, theo chuyên đề…

Qua tiếp xúc cử tri, các đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội nắm được ý kiến, kiến nghị, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân về nhiều vấn đề liên quan đến địa phương và cả nước. ý kiến, kiến nghị của cử tri qua tiếp xúc cử tri là một kênh thông tin quan trọng, chủ yếu để Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội; đồng thời là cơ sở để đại biểu Quốc hội nghiên cứu, chọn lọc để tham gia thảo luận và quyết định các vấn đề tại kỳ họp Quốc hội.

Tại các kỳ họp Quốc hội, theo chương trình nội dung kỳ họp, hoạt động của các Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội tập trung vào việc thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu như: Tham dự đầy đủ các phiên họp toàn thể của Quốc hội; nghiên cứu tài liệu; tham gia họp Đoàn, họp Tổ đại biểu Quốc hội để thảo luận các vấn đề thuộc nội dung chương trình kỳ họp. Các ý kiến thảo luận tại cuộc họp của Đoàn, của Tổ đại biểu Quốc hội được ghi thành biên bản và là cơ sở quan trọng để giúp Chủ tọa trong việc điều hành kỳ họp và chỉ đạo việc nghiên cứu tiếp thu hoàn chỉnh các báo cáo, đề án, Nghị Quyết…Thực tế cho thấy, tại các kỳ họp Quốc hội nhiều vấn đề còn có ý kiến khác nhau, hoặc các vấn đề quan trọng liên quan đến nội dung kỳ họp đều được các Đoàn đại biểu Quốc hội thảo luận và đóng góp ý kiến.

Tại các phiên họp chất vấn và trả lời chất vấn, nhiều đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội đã có nhiều ý kiến chất vấn các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định. Các ý kiến chất vấn của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội của đất nước. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đã trả lời với tinh thần trách nhiệm, nghiêm túc các ý kiến chất vấn của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội. Các buổi chất vấn và trả lời chất vấn có tranh luận, phát biểu thẳng thắn, dân chủ, được cử tri và nhân dân đồng tình, đánh giá cao. Tuy nhiên, một chất vấn của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội chỉ chủ yếu tập trung tại các kỳ họp Quốc hội. Việc chất vấn trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội còn rất ít, chưa trở thành hoạt động thường xuyên. Đây cũng là vấn đề cần được cải tiến để hoạt động chất vấn trở thành hoạt động bình thường và thường xuyên cả những khi Quốc hội không họp theo quy định.

Về các mối quan hệ của Đoàn đại biểu Quốc hội: Để duy trì các hoạt động, Đoàn đại biểu Quốc hội thông qua Trưởng đoàn và Phó Trưởng đoàn chuyên trách giữ mối quan hệ thường xuyên với Chủ tịch Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan ở trung ương và địa phương. Mỗi năm hai lần, vào giữa năm và cuối năm, Đoàn đại biểu Quốc hội phải báo cáo tình hình và kết quả hoạt động của Đoàn trên các lĩnh vực tới Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Đoàn đại biểu Quốc hội cử đại biểu trong Đoàn tham gia vào các Đoàn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hôi, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội khi Đoàn công tác về địa phương giám sát, kiểm tra, tìm hiểu tình hình địa phương. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Đoàn đại biểu Quốc hội giữ mối quan hệ chặt chẽ với Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ở địa phương; dự kỳ họp Hội đồng nhân dân; trao đổi góp ý về việc thi hành pháp luật và Nghị Quyết của Hội đồng nhân dân ở địa phương; nghiên cứu đề xuất việc sửa đổi, bổ sung hoặc đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan Nhà nước có liên quan nghiên cứu, xem xét và có biện pháp giải quyết các yêu cầu, kiến nghị của Hội đồng nhân dân có liên quan đến chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước hoặc các vấn đề thuộc địa phương. Trong quan hệ công tác với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố, Đoàn đại biểu Quốc hội có sự phối hợp công tác chặt chẽ trong việc tổ chức để đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri; trong quá trình tổ chức việc bầu cử đại biểu Quốc hội; trong hoạt động theo dõi giám sát hoạt động của đại biểu dân cử. Mỗi năm hai lần, vào giữa năm và cuối năm, Đoàn đại biểu Quốc hội thông báo tình hình hoạt động của Đoàn với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố thuộc trung ương.

II. Các điều kiện bảo đảm hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội.

Vị trí, vai trò và nội dung hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội đặt ra yêu cầu về các điều kiện bảo đảm để Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình.

Về văn phòng giúp việc Đoàn đại biểu Quốc hội: Từ  tháng 9/2003 trở về trước, việc tham mưu phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội do Văn phòng chung đảm nhận, đó là Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, hoặc Văn phòng Hội đồng nhân dân và Đoàn đại biểu Quốc hội và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội (mô hình Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội riêng chỉ có ở thành phố Hồ Chí Minh, sau đó có ở một, hai địa phương khác). ở các Văn phòng chung này, hầu hết đã bố trí một thư ký chuyên trách giúp việc riêng cho Đoàn đại biểu Quốc hội. Nhìn chung đội ngũ thư ký Đoàn đại biểu Quốc hội đã có nhiều cố gắng, phục vụ tốt hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, góp phần vào kết quả hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, do chưa có sự thống nhất về mặt tổ chức và phân công trách nhiệm, lại chỉ có một thư ký giúp việc, trong khi công việc thì nhiều, do đó việc tham mưu, giúp việc đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội ở một số góc độ nào đó còn nhiều khó khăn và chưa đáp ứng tốt đòi hỏi nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phục vụ trong tình hình mới.

Chính vì vậy, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị Quyết số 416 NQ/ UBTVQH 11 ngày 25/9/2003 về việc thành lập Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội. Theo đó, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội được xác định là cơ quan giúp việc của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; có chức năng tham mưu và tổ chức phục vụ mọi hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, Trưởng, Phó Đoàn đại biểu Quốc hội. Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội giữ mối quan hệ công tác với Văn phòng Tỉnh ủy (hoặc Thành ủy), Văn phòng Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương; đồng thời giữ mối liên hệ thương xuyên, chặt chẽ với Văn phòng Quốc hội để phục vụ các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Thực hiện Nghị Quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, hiện nay trong cả nước đã có 46 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội riêng. Các Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội đã và đang ổn định tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng công tác, phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội.

Về cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động: Nơi làm việc và các trang thiết bị Văn phòng (về xe cộ, phương tiện hoạt động, hệ thống máy tính nối mạng với Văn phòng Quốc hội ở Hà Nội…) phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội ngày càng được quan tâm, bố trí, tăng cường đầy đủ hơn. Đoàn đại biểu Quốc hội có kinh phí hoạt động. Từ năm 2003 trở về trước, kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội chủ yếu do ngân sách địa phương đảm nhiệm, khoản kinh phí từ Quốc hội chỉ là kinh phí hỗ trợ. Từ năm 2003 trở lại đây, kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội là một khoản kinh phí độc lập được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phân bổ từ nguồn kinh phí của Quốc hội, tỷ lệ năm sau cao hơn năm trước, cố gắng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho hoạt động của các Đoàn đại biểu Quốc hội trong thời kỳ đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội.

Có thể nói, trên cơ sở quy định của pháp luật, tổ chức và hoạt động của các Đoàn đại biểu Quốc hội đã có nhiều cố gắng đổi mới theo hướng tích cực. Những đổi mới và cố gắng tích cực đó thể hiện ở kết quả hoạt động ngày càng rõ nét của Đoàn đại biểu Quốc hội. Và thực tế đã cho thấy, qua hoạt động của mình, vai trò, vị trí của Đoàn đại biểu Quốc hội đã ngày càng được nâng lên và khẳng định sự cần thiết và tính chất đặc thù của tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội  trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội nước ta. Tuy nhiên, kết quả đạt được trong các lĩnh vực hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội còn ở các mức độ khác nhau và giữa các Đoàn đại biểu Quốc hội thì vẫn chưa đồng đều, chưa thực sự đáp ứng một cách đầy đủ đòi hỏi của thực tế hiện nay. Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về những nội dung đổi mới, cải tiến để không ngừng tăng cường về tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, như cơ cấu, số lượng đại biểu trong Đoàn; đại biểu Quốc hội chuyên trách của Đoàn, vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội chuyên trách; hoạt động xây dựng pháp luật, hoạt động giám sát, tiếp dân, tiếp xúc cử tri…như thế nào để vừa phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta, vừa nâng cao được hiệu quả hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội; cũng như các điều kiện bảo đảm cho hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội là những vấn đề rất cần thiết, là công việc cần được quan tâm thường xuyên./. 

   

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện