|
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
HỘI ĐỒNG DÂN TỘC CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
Tráng A Pao
Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội
Năm 2006, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam tròn 60
năm thành lập. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng
tháng 8-1945, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa (nay là Quốc hội nước cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam) được thành lập. Quốc dân Đại
hội Tân trào đã ra Nghị quyết và Hồ Chủ tịch đã
ban hành Sắc lệnh số 14/SL, ngày 08-9-1945 về
việc Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội - cơ quan
quyền lực tối cao của nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam ra đời
khẳng định, đánh dấu bước phát triển đầu tiên về
thể chế dân chủ ở Việt Nam, Quốc hội do nhân dân
bầu ra, nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân,
do dân, vì dân, được nhân dân giao phó trách
nhiệm điều hành đất nước, tổ chức toàn dân kháng
chiến, kiến quốc.Trong 60 năm, qua các chặng
đường kháng chiến, kiến quốc, xây dựng chủ nghĩa
xã hội, trải qua 11 khóa, Quốc hội Việt Nam luôn
không ngừng phấn đấu, liên tục trưởng thành để
xứng đáng với vị trí, vai trò cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất, cơ quan đại diện cao nhất
quyền lực của nhân dân. Trên cơ sở Hiến pháp,
Quốc hội đã có những hoạt động ngày càng hiệu
quả, liên tục tìm tòi, đổi mới, tạo được những
hiệu quả đáng kể trong hoạt động lập pháp, giám
sát và quyết định các vấn đề trọng đại của đất
nước; góp phần đưa công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày càng phát triển, ngày
càng hội nhập toàn diện hơn trên trường quốc tế.
Nhìn lại chặng đường 60 năm, trong sự sự phấn
đấu, trưởng thành của Quốc hội, mỗi trang đều
có sự đóng góp tích cực của các cơ quan thuộc
Quốc hội, trong đó có sự đóng góp của Hội đồng
Dân tộc của Quốc hội.
Phần thứ nhất
Hội đồng Dân tộc qua các khóa của Quốc hội
Quốc hội khóa I được bầu tại 71/71 tỉnh với 89%
số cử tri đi bầu, đã bầu được 333 đại biểu/ 403
đại biểu, trong đó có 34 đại biểu là người dân
tộc thiểu số ( chiếm 7,5%). Đây là một dấu mốc
quan trọng, nó khẳng định đường lối đại đoàn kết
các dân tộc, khẳng định cách mạng là sự nghiệp
của quần chúng, sự nghiệp kháng chiến, kiến
quốc, là sự nghiệp của cả dân tộc. Từ Quốc hội
khóa I đến nay, mỗi khóa tiếp theo, số đại biểu
là người dân tộc thiểu số đều chiếm một tỷ lệ
không nhỏ, điều đó vừa chứng tỏ sự quan tâm,
khẳng định vị trí, vai trò của đại biểu dân cử
trước trách nhiệm đại đoàn kết dân tộc và phát
triển bình đẳng giữa các dân tộc, đồng thời
chứng tỏ sự trưởng thành lớn lên không ngừng của
đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam
Trong cơ cấu kết hợp thành phần các đại biểu
Quốc hội, số lượng đại biểu là người dân tộc
thiểu số luôn giữ một số lượng đáng kể. Khóa II
có 56/ 453 đại biểu là người DTTS = 15,4%, khóa
III có 60/ 453 đại biểu là người DTTS = 16,6%,
khóa IV có 73/ 420 đại biểu là người DTTS =
17,3%, khóa V có 71/ 424 đại biểu là người DTTS
= 16,7%, khóa VI có 67/ 492 đại biểu là người
DTTS = 13,6%, khóa VII có 74/ 496 đại biểu là
người DTTS = 14,91%, khóa VIII có 70/ 496 đại
biểu là người DTTS =14,0%, khóa IX có 66/ 395
đại biểu là người DTTS = 16,79%, khóa X có
78/450 đại biểu là người DTTS = 17,33%, khóa
XI có 86/ 498 đại biểu là người DTTS =17,20%.
Với ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, từ
Quốc hội khóa II (1960-1964), Uỷ ban Dân tộc của
Quốc hội đã được Quốc hội thành lập. Quốc hội
khóa II đẫ bầu UBDT với 13 ủy viên (tại kỳ
họp thứ 2, phiên họp ngày 20- 4-1961). Chủ nhiệm
UBDT khóa II là ông Chu Văn Tấn, Phó Chủ nhiệm
là ông Y Wang MLô Duôn Du. Uỷ ban Dân tộc của
Quốc hội khóa III (1964-1971) có 15 ủy viên; Chủ
nhiệm UBDT tiếp tục là ông Chu Văn Tấn, Phó Chủ
nhiệm tiếp tục là ông Y Wang MLô Duôn Du. Uỷ ban
Dân tộc của Quốc hội khóa IV (1971- 1975) có 14
ủy viên; Chủ nhiệm UBDT tiếp tục là ông Chu Văn
Tấn, Phó Chủ nhiệm là ông Nay Đer. Uỷ ban Dân
tộc của Quốc hội khóa V (1975- 1976) có 19 ủy
viên; Chủ nhiệm UBDT tiếp tục là ông Chu Văn
Tấn, Phó Chủ nhiệm là ông Lâm Phái. Uỷ ban Dân
tộc của Quốc hội khóa VI (1976- 1981) có 27 ủy
viên; Chủ nhiệm UBDT tiếp tục là ông Chu Văn
Tấn, 03 Phó Chủ nhiệm là: ông Lò Văn Hạc, ông
Bùi San, ông Sơn Thông. Từ nhiệm kỳ Quốc hội
khóa VII (1981- 1987), Uỷ ban Dân tộc của Quốc
hội đổi tên thành Hội đồng Dân tộc của Quốc hội,
tổng số có 39 ủy viên; Chủ tịch HĐDT là ông
Hoàng Trường Minh, 04 Phó Chủ tịch là: ông Lò
Văn Hạc, ông KSor Krơn, ông Giàng A Páo, ông Sơn
Thông. Hội đồng Dân tộc Quốc hội khóa VIII
(1987-1992), có 42 ủy viên; Chủ tịch HĐDT là
ông Đàm Quang Trung, 06 Phó Chủ tịch là: ông
Lường An, ông KSor Krơn, ông Nguyễn Nhiêu Cốc,
ông Giàng A Páo, ông Lâm Phú và ông Nông Đức
Mạnh. Hội đồng Dân tộc Quốc hội khóa IX
(1992-1997), có 32 ủy viên; Chủ tịch HĐDT là
ông Y Ngông Niêk Đăm, 05 Phó Chủ tịch là: ông
KSor Krơn (tức Nguyễn Văn Sỹ), ông Nguyễn Nhiêu
Cốc, ông Huỳnh Cương, ông Phạm Văn Kiết (tức Năm
Vận) và ông Cư Hòa Vần. Hội đồng Dân tộc Quốc
hội khóa X (1997- 2002), có 38 ủy viên; Chủ tịch
HĐDT là ông Cư Hòa Vần, 04 Phó Chủ tịch là:
ông Mã Điền Cư, ông Y Luyện Niêk Đăm, ông Sơn
Song Sơn và bà Tòng Thị Phóng. Hội đồng Dân tộc
Quốc hội khóa XI ( 2002-2007), có 39 ủy viên;
Chủ tịch HĐDT là ông Tráng A Pao, 06 Phó Chủ
tịch là: ông Mã Điền Cư, ông Thạch Tịnh, bà
Bùi Thị Bình, bà Nguyễn Thị Nương, ông Huỳnh Đảm
và ông Y Ly Niêk Đăm.
Phần thứ hai
Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng Dân tộc
Qua quá trình hình thành và lớn mạnh của Hội
đồng Dân tộc, sự khẳng định về mặt pháp lý của
cơ quan này đã được Hiến pháp nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam; Luật tổ chức Quốc hội;
Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng Dân
tộc của Quốc hội, quy định rõ về vị trí, chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn:
Thứ nhất:
Hội đồng Dân tộc là cơ quan của Quốc hội, do
Quốc hội thành lập. Vị trí của Hội đồng Dân tộc
ngày càng rõ và không ngừng nâng cao.
Số thành viên
của
Hội đồng Dân tộc do Quốc hội định, số đại biểu
này đại diện cho cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.
Quốc hội bầu Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các
thµnh viên Hội đồng dân tộc trong số đại biểu
Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc
hội. Hội đồng Dân tộc có một số thành viên làm
việc theo chế độ chuyên trách.
Chủ tịch, các Phó Chủ tịch được Hội đồng dân tộc
cử hợp thành Thường trực Hội đồng. Hiện nay,
Thường trực Hội đồng Dân tộc có 07 thành viên,
trong đó 04 thành viên làm việc theo chế độ
chuyên trách tại trung ương (gồm 01 đồng chí Chủ
tịch, 03 đồng chí Phó Chủ tịch) và 03 đồng chí
Phó Chủ tịch hoạt động không chuyên trách.
Thứ hai:
Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng
Dân tộc ngày càng cụ thể và rõ ràng:
Thẩm tra các dự án Luật, kiến nghị về Luật, dự
án pháp lệnh và các dự án khác liên quan đến vấn
đề dân tộc;
Giám sát việc thực hiện Luật, Pháp lệnh, Nghị
quyết của Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội-
thuộc lĩnh vực dân tộc, chương trình, kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng có
đồng bào dân tộc thiểu số và việc thực hiện ngân
sách trong lĩnh vực này;
Kiến nghị với Quốc hội những vấn đề thuộc chính
sách dân tộc, về phát triển kinh tế - xã hội ở
miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số;
Trình ý kiến về chương trình xây dựng Luật, Pháp
lệnh; trình dự án Luật, dự án Pháp lệnh và dự án
khác có liên quan đến vấn đề dân tộc và miền
núi, theo sáng kiến của mình ra trước Quốc hội;
Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Tham gia ý kiến vào các quyết định của Chính phủ
về chính sách dân tộc trước khi văn bản được ban
hành;
Kiến nghị việc bổ sung, thay đổi thành viên của
Hội đồng dân tộc.
Thứ ba:
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hội đồng Dân
tộc luôn bảo đảm sự thống nhất. Hội đồng Dân tộc
hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, làm
việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa
số.
Khi Hội đồng Dân tộc quyết định vấn đề thuộc về
một dân tộc mà đại biểu dân tộc đó không tán
thánh thì Hội đồng báo cáo xin ý kiến Uỷ ban
thường vụ Quốc hội; trong trường hợp thật cần
thiết trình Quốc hội xem xét, quyết định.
Trong trường hợp Hội đồng Dân tộc bàn quyết định
vấn đề thuộc một dân tộc mà dân tộc đó không có
đại diện trong Hội đồng dân tộc, thì phải tham
khảo ý kiến của đại diện dân tộc đó trước khi
quyết định.
Hội đồng Dân tộc chịu trách nhiệm và báo cáo
hoạt động của mình trước Quốc hội; trong thời
gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, báo cáo hoạt động
trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Thường trực Hội đồng dự kiến chương trình hoạt
động hàng tháng, hàng quý, sáu tháng, cả năm,
trình Hội đồng xem xét, quyết định; tổ chức thực
hiện chương trình hoạt động và các quyết định,
kết luận của Hội đồng. Chuẩn bị các báo cáo, tài
liệu phục vụ hoạt động của Hội đồng. Giữ mối
quan hệ thường xuyên với các thành viên Hội
đồng. Gửi báo cáo công tác, thông báo những
thông tin cần thiết cho thành viên Hội đồng.
Giải quyết công việc thường xuyên, đột xuất của
Hội dồng và có trách nhiệm báo cáo với Hội đồng
tại phiên họp gần nhất.
Chủ tịch Hội đồng dân tộc điều hành công việc
thường xuyên của Hội đồng; triệu tập và chủ trì
các phiên họp của Hội đồng và Thường trực Hội
đồng; thay mặt Hội đồng trong quan hệ với Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch
Quốc hội, các Uỷ ban của Quốc hội, với Chính
phủ, Toà án nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân
dân tối cao, tổ chức xã hội và các cơ quan Nhà
nước khác; báo cáo hoạt động của Hội đồng với
Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch,
các Phó Chủ tịch Quốc hội; tham gia các phiên
họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; tham gia các
cuộc họp do Chủ tịch Quốc hội triệu tập bàn
chương trình hoạt động của Quốc hội, Hội đồng
dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; tham gia các
phiên họp của Chính phủ bàn về việc thực hiện
chính sách dân tộc.
Thành viên Hội đồng dân tộc có trách nhiệm tham
gia hoạt động của Hội đồng; thực hiện nhiệm vụ
công tác được Hội đồng giao; giữ mối liên hệ
thường xuyên với Hội đồng, tham gia góp ý và gửi
báo cáo về vấn đề Hội đồng yêu cầu và uỷ viên
quan tâm.Thường trực Hội đồng có trách nhiệm tạo
điều kiện cho các Uỷ viên của Hội đồng hoạt
động.
Chương trình hoạt động của Hội đồng dân tộc do
Hội đồng quyết định. Hội đồng xây dựng kế hoạch
công tác hàng tháng, hàng quý, hàng năm và báo
cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để điều hoà, phối
hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ
ban.
Hội đồng Dân tộc tiến hành thẩm tra dự án Luật,
kiến nghị về Luật, dự án pháp lệnh, báo cáo và
dự án khác sau khi cơ quan, cá nhân có quyền
trình đến Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Hội đồng dân tộc có quyền trình, kiến nghị các
dự án Luật ra trước Quốc hội, dự án Pháp lệnh ra
trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định.
Hội đồng Dân tộc có quyền yêu cầu các thành viên
Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và
những viên chức Nhà nước hữu quan cung cấp tài
liệu hoặc đến trình bày những vấn đề mà Hội đồng
xem xét, thẩm tra. Người nhận được yêu cầu của
Hội đồng dân tộc phải đáp ứng yêu cầu đó.
Ngoài các hoạt động của Thành viên và Thường
trực, Hội đồng dân tộc còn tiến hành các phiên
họp toàn thể trong thời gian diễn ra kỳ họp Quốc
hội hoặc giữa hai kỳ họp Quốc hội. Chủ tịch Quốc
hội, Phó Chủ tịch Quốc hội tham dự và phát biểu
ý kiến tại các phiên họp của Hội đồng Dân tộc.
Thứ tư:
Hội đồng dân tộc thực hiện quyền giám sát theo
nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân
công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Hội đồng Dân tộc xây dựng kế hoạch giám sát,
thông báo nội dung và kế hoạch giám sát cho các
cơ quan hữu quan, chính quyền địa phương; yêu
cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát cung
cấp tài liệu, báo cáo về vấn đề giám sát. Hội
đồng tổ chức nghiên cứu, xem xét và kết luận vấn
đề được giám sát; nếu phát hiện có vi phạm pháp
luật, Hội đồng có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân
vi phạm chấm dứt việc vi phạm đó, đồng thời kiến
nghị cơ quan có trách nhiệm giải quyết và báo
cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Khi cần thiết,
Hội đồng Dân tộc thành lập Đoàn công tác do Chủ
tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng làm trưởng đoàn,
tổ chức thực hiện các hoạt động và báo cáo kết
quả công tác của Đoàn với Quốc hội.
Kết quả giám sát và kiến nghị của Hội đồng được
báo cáo với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và thông
báo cho các cơ quan hữu quan. Kết quả hoạt động
thẩm tra, giám sát của Hội đồng dân tộc được
trình bày trước Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội bằng hình thức thuyết trình, báo cáo hoặc ý
kiến phát biểu.
Thứ năm:
Một số hoạt động khác và các mối quan hệ công
tác của Hội đồng Dân tộc:
Hội đồng Dân tộc thường xuyên thực hiện quan hệ
đối ngoại với các tổ chức hữu quan của Quốc hội
các nước, với tổ chức quốc tế nhằm nghiên cứu,
trao đổi kinh nghiệm, góp phần tăng cường quan
hệ và hợp tác quốc tế theo chính sách đối ngoại
của Nhà nước. Hội đồng có trách nhiệm báo cáo
kết quả hoạt động đối ngoại với Uỷ ban thường vụ
Quốc hội.
Hội đồng dân tộc có nhiệm vụ xem xét đơn thư
khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến Hội đồng,
thuộc lĩnh vực Hội đồng phụ trách và yêu cầu cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.
Hội đồng có quyền kiến nghị biện pháp giải quyết
khiếu nại, tố cáo với Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, điều hoà,
phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các
Uỷ ban. Hội đồng có trách nhiệm gửi báo cáo công
tác hàng tháng, hàng quý, sáu tháng và cả năm
đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Hội đồng có trách
nhiệm cử thành viên tham gia Đoàn công tác của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội khi Uỷ ban thường vụ
Quốc hội yêu cầu. Cơ quan và viên chức Nhà nước,
tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị lực
lượng vũ trang nhân dân trong pham vi nhiệm vụ
và quyền hạn của mình có trách nhiệm tạo điều
kiện để Hội đồng Dân tộc thực hiện nhiệm vụ.
Hội đồng Dân tộc có quyền kiến nghị với Thủ
tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính
phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện
trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn
của Hội đồng.
Hội đồng Dân tộc phối hợp với Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận
giám sát các hoạt động của các cơ quan Nhà nước,
viên chức Nhà nước và động viên nhân dân các dân
tộc thiểu số thực hiện Hiến pháp, Pháp luật và
các Nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội; tổ chức thăm hỏi, toạ đàm với các nhân
sĩ, trí thức người dân tộc thiểu số, các già
làng, động viên, giúp đỡ các vùng đồng bào dân
tộc có nhiều khó khăn.
Phần thứ ba
Một số kinh nghiệm hoạt động của Hội đồng Dân
tộc
1, Luôn nắm chắc và nhận thức đầy đủ về vị trí,
vai trò và nhiệm vụ của cơ quan Hội đồng Dân tộc
để xây dựng nội dung, duy trì phương thức hoạt
động đúng, phù hợp. Thường xuyên tự học hỏi, tự
nghiên cứu, tích cực đổi mới phương thức hoạt
động, tăng cường hơn nữa vị trí, vai trò của Hội
đồng Dân tộc trong việc tổ chức thực hiện nhiệm
vụ Quốc hội giao phó.
2, Bám sát các chủ trương, đường lối, chính sách
của Đảng, Nhà nước về công tác Dân tộc và miền
núi, Hội đồng Dân tộc phải là cơ quan đi đầu,
tích cực trong việc tăng cường hiệu quả và hiệu
lực hoạt động xây dựng luật pháp, giám sát việc
tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật; động
viên nhân dân, cơ quan, tổ chức thực hiện tốt
các chủ trương, chính sách, pháp luật đối với
vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên
giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
3, Tích cực phối hợp với các cơ quan của Quốc
hội trong việc thực hiện các nhiệm vụ của Uỷ Ban
Thường vụ Quốc hội phân công, đặc biệt là các
nhiệm vụ: thẩm tra, góp ý xây dựng các dự án
luật, pháp lệnh; giám sát các chương trình, dự
án quan trọng của quốc gia...
4, Tăng cường mối quan hệ với các địa phương
trong mọi hoạt động, nhất là hoạt động giám sát.
Tiếp tục tổ chức các hội nghị, hội thảo với các
địa phương gắn với các chủ đề, chuyên đề liên
quan.
5, Quan tâm chỉ đạo việc
tổ chức thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và công
tác phục vụ của Vụ chuyên môn theo hướng: ngày
càng sâu về chuyên môn, chu đáo về phục vụ. Có
biện pháp khai thác, huy động được sức mạnh tổng
hợp của các cá nhân, tổ chức liên quan, phục vụ
công tác nghiên cứu tham mưu của Vụ chuyên môn
và các hoạt động của Hội đồng Dân tộc.Tên
văn bản : Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc
|