|
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VỀ TÌNH
HÌNH
THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
Trịnh Huy Quách
Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của
Quốc hội
Đặt vấn đề
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992, Quốc hội là cơ quan
quyền lực Nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất có
quyền lập hiến và lập pháp; Quốc hội quyết định
những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại;
những nhiệm vụ trong lĩnh vực kinh tế-xã hội,
quốc phòng, an ninh; những nguyên tắc chủ yếu về
tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước và
thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ
hoạt động của Nhà nước.
Việc tăng cường hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc
hội trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước
giữ vai trò quan trọng; nó không chỉ cung cấp
những thông tin, dữ liệu thực tiễn về tình hình
kinh tế-tài chính của đất nước và những vấn đề
đang đặt ra làm căn cứ để Quốc hội quyết định
nhiệm vụ kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước,
mà còn xem xét việc chấp hành, thực hiện các văn
bản pháp luật và các Nghị quyết của Quốc hội
trong lĩnh vực này.
Tăng cường hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội,
nâng cao vai trò của Quốc hội trong việc xem
xét, quyết định các mục tiêu, chỉ tiêu về kinh
tế-xã hội và ngân sách nhà nước là một trong
những nội dung quan trọng của việc xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN Việt Nam, thực hiện dân
chủ, bảo đảm sự giám sát của nhân dân thông qua
Quốc hội đối với mọi hoạt động kinh tế-xã hội và
ngân sách nhà nước.
Trong những năm qua, hoạt động giám sát của các cơ quan của
Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà
nước có nhiều chuyển biến tích cực. Hình thức,
nội dung, phương pháp, quy trình giám sát luôn
cải tiến và từng bước hoàn thiện, đáp ứng yêu
cầu đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của
Quốc hội và từ đó vai trò của Quốc hội nói
chung, của các cơ quan của Quốc hội nói riêng
không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, chất lượng
và hiệu quả giám sát có nâng lên một bước nhưng
chưa đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của thực tế
cuộc sống. Trước đòi hỏi ngày càng cao, đa
dạng, phong phú của thực tiễn và đòi hỏi của
tiến trình đổi mới hoạt động của Quốc hội, công
tác giám sát trong lĩnh vực kinh tế và NSNN ở
các cơ quan của Quốc hội tiếp tục được nghiên
cứu, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu
quả hoạt động của các cơ quan này.
I. Tổng quan về giám sát trong lĩnh vực kinh
tế-xã hội và ngân sách nhà nước
1.1. Thẩm quyền thực hiện chức năng giám sát trong lĩnh vực
kinh tế và ngân sách nhà nước.
Thẩm quyền giám sát của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội
đã được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức
Quốc hội, Quy chế hoạt động của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội, Quy chế hoạt động của Hội đồng dân
tộc, Quy chế hoạt động của các Uỷ ban của Quốc
hội, Quy chế hoạt động của các đại biểu Quốc hội
và Đoàn Đại biểu Quốc hội; Luật hoạt động giám
sát của Quốc hội (năm 2003) và trong một số văn
bản pháp luật khác.
Về chức năng giám sát của Quốc hội, Hiến pháp năm 1992 (sửa
đổi, bổ sung năm 2001), tại Khoản 4 Điều 83 đã
quy định "Quốc hội thực hiện quyền giám sát
tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước"
; "Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân
theo Hiến pháp , luật và nghị quyết của Quốc
hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước,
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao" (Khoản 2, Điều 84 Hiến pháp 1992, Khoản 2
Điều 2 Luật tổ chức Quốc hội) ...
Chủ thể thực hiện giám sát tình hình thực hiện Nghị quyết của
Quốc hội về nhiệm vụ kinh tế-xã hội và các Nghị
quyết về ngân sách nhà nước là Quốc hội, Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ
ban của Quốc hội và đại biểu Quốc hội.
- Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối
cao đối với việc tuân theo Hiến pháp, luật, Nghị
quyết của Quốc hội. ở đây, Quốc hội tập trung
giám sát việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội
về nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và Nghị
quyết về dự toán NSNN; Nghị quyết phân bổ NSTW
và các Nghị quyết khác trong lĩnh vực kinh tế và
ngân sách.
Quốc hội thực hiện chức năng giám sát thông qua
các kỳ họp Quốc hội trên cơ sở xem xét, đánh giá
các báo cáo về tình hình thực hiện các Nghị
quyết của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế và
ngân sách nhà nước.
- Uỷ ban Thường vụ Quốc hội giám sát
việc thi hành Hiến pháp, nghị quyết của Quốc
hội, trong đó có Nghị quyết về nhiệm vụ phát
triển kinh tế-xã hội và các Nghị quyết về ngân
sách nhà nước. Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra Nghị
quyết về tỷ lệ % phân chia các khoản thu giữa
NSTW và NSĐP trong năm đầu của thời kỳ ổn định
ngân sách
.
- Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội thực hiện quyền
giám sát theo nhiệm vụ, quyền hạn của mình và
theo sự phân công của Quốc hội và Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội.
- Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch
Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các
thành viên khác của Chính phủ trong quá trình
thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ
phát triển kinh tế-xã hội và các Nghị quyết về
dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách
trung ương; việc chấp hành các quy định của pháp
luật về thu và chi ngân sách nhà nước..
Về hình thức giám sát,
gồm các hình thức sau đây:
·
Giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước trên cơ sở xem
xét các báo cáo hoạt động của các cơ quan này
trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết của Quốc
hội trong lĩnh vực kinh tế-xã hội và ngân sách
nhà nước hàng năm.
·
Tổ chức các Đoàn giám sát thực tế ở các Bộ, ngành, địa
phương.
·
Thành lập Uỷ ban lâm thời để điều tra một số vấn đề cụ thể
(khi thấy cần thiết).
·
Chất vấn về những vấn đề mà Quốc hội quan tâm trong quá trình
thực hiện Nghị quyết của Quốc hội.
·
Tổ chức giám sát theo chuyên đề, nhất
là những vấn đề có tính bức xúc trong quá trình
thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội trong lĩnh
vực kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước.
1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách
trong việc giám sát thực hiện Nghị quyết của
Quốc hội về nhiệm vụ kinh tế-xã hội và các Nghị
quyết về ngân sách nhà nước.
Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 (tại Điều 28)
và Luật NSNN năm 2002 (tại điều 17) quy
định Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội là
cơ quan của Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền
hạn sau đây:
1- Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc lĩnh vực quản lý kinh tế,
hoạt động kinh doanh, ngân sách, tài chính và
tiền tệ và các dự án khác do Quốc hội, Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội giao;
2- Chủ trì thẩm tra dự án, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, các báo
cáo của Chính phủ về việc thực hiện kế hoạch
phát triển kinh tế-xã hội, về dự toán ngân sách
nhà nước và phương án phân bổ ngân sách
trung ương, tổng quyết toán ngân sách
nhà nước;
3- Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, nghị
quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thuộc lĩnh
vực quản lý kinh tế, hoạt động kinh doanh, ngân
sách, tài chính và tiền tệ; giám sát hoạt động
của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ trong
việc thực hiện kế hoạch nhà nước về phát triển
kinh tế-xã hội, thực hiện dự toán ngân sách nhà
nước và việc thực hiện chính sách tài chính,
tiền tệ;
4- Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, văn
bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc
giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan
trung ương của tổ chức chính trị-xã hội thuộc
lĩnh vực Uỷ ban phụ trách;
5- Kiến nghị các vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động cuả các cơ quan
hữu quan và các vấn đề về quản lý kinh tế, hoạt
động kinh doanh, ngân sách, tài chính và tiền
tệ.
Trong lĩnh vực ngân sách nhà nước, nhiệm vụ, quyền hạn
của Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội
được quy định cụ thể như sau:
1- Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác
về lĩnh vực tài chính- ngân sách do Quốc hội,
Uỷ ban TVQH giao ;
2- Chủ trì thẩm tra dự toán ngân sách nhà nước, phương án
phân bổ ngân sách trung ương, các
báo cáo về việc thực hiện ngân sách nhà nước và
quyết toán ngân sách nhà nước do Chính phủ
trình Quốc hội;
3- Giám sát việc thực hịên Luật, Nghị quyết của Quốc hội,
Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội về lĩnh vực tài chính-ngân sách; giám sát
việc thực hiện ngân sách nhà nước và chính sách
tài chính;
4- Giám sát hoạt động của Chính phủ, các ngành, các cấp
trong việc thực hiện ngân sách nhà nước và việc
thực hiện pháp luật về ngân sách của các tổ
chức và cá nhân;
5- Kiến nghị với Quốc hội các vấn đề về ngân sách, tài chính
và tiền tệ
Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm
tham gia với Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách thẩm
tra báo cáo của Chính phủ về kinh tế-xã hội, dự
toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân
sách trung ương, tổng quyết toán ngân sách nhà
nước (Điều 34 Luật Tổ chức Quốc hội và
Nghị quyết số 387/UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Uỷ
ban TVQH về Quy trình lập, thẩm tra, trình Quốc
hội xem xét quyết định dự toán NSNN, phương án
phân bổ NSTW, phê chuẩn quyết toán NSNN ).
II. Thực trạng giám sát các vấn đề thuộc lĩnh
vực kinh tế- xã hội và ngân sách nhà nước.
2.1 Những kết quả đạt được trong thời gian qua.
Trong những năm vừa qua, Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc
hội đã tiến hành các hình thức giám sát sau:
1) Giám sát chung tình hình thực hiện Nghị quyết của Quốc hội
về nhiệm vụ kinh tế -xã hội và các Nghị quyết về
ngân sách nhà nước hàng năm.
Hình thức giám sát chung thể hiện tính toàn diện, thường
xuyên của hoạt động giám sát. Công tác giám sát
chung của Uỷ ban tập trung vào việc giám sát
hoạt động của Chính phủ, của các Bộ, ngành, địa
phương trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện
nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội;
việc thực hiện Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của
Quốc hội, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thuộc
lĩnh vực quản lý kinh tế, hoạt động kinh doanh,
ngân sách, tài chính và tiền tệ. Thông qua công
tác giám sát, Uỷ ban đã phát hiện và kịp thời
có ý kiến trực tiếp với các cơ quan, tổ
chức-nơi đến giám sát về những vấn đề cần khắc
phục trong việc thi hành pháp luật cũng như việc
tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội
và ngân sách Nhà nước; đồng thời qua khảo sát
thực tế, nắm được các thông tin cần thiết phục
vụ cho việc thẩm tra các dự án, kế hoạch phát
triển kinh tế-xã hội trước khi trình ra Quốc
hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; mặt khác, có cơ
sở đề xuất, kiến nghị với Quốc hội và Chính
phủ các chủ trương, giải pháp về lĩnh vực kinh
tế và ngân sách.
Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách đều có chương trình công tác giám
sát hàng năm và Thường trực Uỷ ban cụ thể hoá
thành chương trình công tác cụ thể hàng quý,
hàng tháng trong năm để triển khai tổ chức thực
hiện.
* Hoạt động giám sát tại các địa phương:
Nội dung cơ bản của các đợt giám sát tại địa
phương được tập trung vào việc xem xét tình hình
và kết quả thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội
về nhiệm vụ kinh tế-xã hội gắn với dự toán ngân
sách nhà nước hàng năm, trong đó chú trọng các
vấn đề: chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong
nông-công nghiệp và dịch vụ; tiêu thụ nông sản
hàng hoá; về huy động vốn để đầu tư phát triển
kinh tế-xã hội; vấn đề phát triển công nghiệp
gắn với phát triển nông nghiệp; hoạt động xuất
nhập khẩu, hợp tác đầu tư với nước ngoài; về lưu
thông hàng hoá và tình hình diễn biến của thị
trường giá cả; về đầu tư vốn cho các chương
trình mục tiêu quốc gia như: xoá đói giảm nghèo,
giải quyết việc làm, các xã nghèo đặc biệt khó
khăn, trồng mới 5 triệu ha rừng...; về các biện
pháp đảm bảo thực hiện nhiệm vụ thu, chi ngân
sách, triệt để tiết kiệm trong chi tiêu; vấn đề
quản lý ngân sách xã...
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI, Uỷ ban KT&NS đã tổ chức
nhiều Đoàn công tác của Uỷ ban và tham gia các
Đoàn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đi giám sát
tại nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước.
Tại mỗi địa phương, Đoàn đã làm việc với Thường
trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Nhân dân, Đoàn
đại biểu Quốc hội và các Sở, các ngành liên quan
ở địa phương; đã đi thăm và làm việc với một số
huyện, xã, cơ sở sản xuất-kinh doanh trên địa
bàn ...
Sau mỗi đợt giám sát tại địa phương, Đoàn công tác đã có báo
cáo kết quả gửi Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính
phủ và các Bộ, ngành có liên quan. Ngoài các
báo cáo tổng hợp, Đoàn công tác còn có các công
văn gửi Chính phủ, các Bộ, ngành chức năng ở
Trung ương hoặc làm việc trực tiếp với các Bộ,
ngành về một số đề nghị cụ thể của địa phương để
xem xét, quan tâm giải quyết và thông báo lại
cho Uỷ ban được biết kết quả.
* Hoạt động giám sát tại các Bộ, ngành:
Hàng năm, Uỷ ban cũng đã dành nhiều thời gian
làm việc với các Bộ, ngành, các Tổng cục, Tổng
công ty, doanh nghiệp. Đối với các Bộ, ngành
tổng hợp như Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Thương mại,
Quỹ hỗ trợ phát triển, Tổng cục thuế, Tổng cục
Hải quan, Kho bạc Nhà nước...; Thường trực Uỷ
ban hàng quý hoặc 6 tháng thường tổ chức các
cuộc họp Thường trực Uỷ ban mở rộng hoặc toàn
thể Uỷ ban hoặc đến làm việc trực tiếp để nghe
và trao đổi các biện pháp nhằm bảo đảm thực
hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội cũng như dự toán
ngân sách nhà nước theo Nghị quyết của Quốc hội.
Đối với các Bộ quản lý chuyên ngành kinh tế như
Bộ công nghiệp, Nông nghiệp và phát triển nông
thôn, Thuỷ sản, Xây dựng, Giao thông vận tải....
hàng năm Thường trực Uỷ ban tổ chức làm việc
1-2 lần với từng Bộ về tình hình thực hiện nhiệm
vụ kinh tế ngành gắn với nhiệm vụ thu, chi ngân
sách.
Đồng thời, Thường trực Uỷ ban cũng đã tổ chức
làm việc với một số Tổng công ty, như: Hàng
không, Hàng hải, Dầu khí Việt nam, Bưu chính
viễn thông; Xi măng; Thuốc lá; Da giầy; Dệt may;
Thép; Xăng dầu; Cà phê; Giấy; Chè; Mía đường;
Cao su; Vật tư nông nghiệp; Công ty Bông; Sữa
Việt Nam ... và các Ngân hàng thương mại quốc
doanh về tình hình sản xuất-kinh doanh, thực
trạng tài chính doanh nghiệp và hướng phát
triển, những khó khăn, vướng mắc của các doanh
nghiệp cần giải quyết, tháo gỡ...
2) Giám sát theo chuyên đề:
là hình thức giám sát có tính hiệu quả cao trong
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Uỷ ban;
bởi vì đây là hình thức giám sát mang tính
chuyên sâu, thể hiện ở việc lựa chọn các chuyên
đề giám sát là những nội dung có tính bức xúc về
lĩnh vực kinh tế và ngân sách.
Trong những năm vừa qua, Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách đã tổ
chức giám sát một số chuyên đề cụ thể với các
hình thức thích hợp như phối hợp các Bộ, ngành
chức năng, với Hội đồng nhân dân và các Ban Kinh
tế- Ngân sách của HĐND các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương; đề nghị các Bộ, ngành, TCT,
địa phương gửi báo cáo kết hợp với việc tổ chức
các Đoàn của Uỷ ban đi làm việc trực tiếp hoặc
tổ chức các Hội nghị để nghe trực tiếp... Trên
cơ sở đó, tổ chức tổng hợp, nghiên cứu và tổ
chức Hội nghị hoặc Hội thảo chuyên đề với Bộ,
ngành, Tổng công ty, các địa phương có liên
quan. Trong nhiệm kỳ Quốc hội Khoá XI, Uỷ ban đã
tổ chức được nhiều chuyên đề giám sát như:
- Về mô hình các Tổng công ty Nhà nước;
- Về tình hình tài chính của các ngân hàng, tổ chức tín dụng
và các giải pháp khắc phục;
- Về doanh nghiệp và các chính sách thuế.
- Về đầu tư nước ngoài và phát triển các khu
công nghiệp.
- Về chương trình trồng 5 triệu ha rừng và kinh
tế cửa khẩu.
- Về chương trình phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt nam.
- Về sử dụng và quản lý đất nông nghiệp, đất
nông lâm trường quốc doanh, đất thổ cư ở các đô
thị lớn, đất giao cho các cơ quan, tổ chức hành
chính sự nghiệp quản lý, sử dụng.
- Về tình hình giá cả thị trường trong những
tháng đầu năm 2004 và dự báo cả năm.
- Về hoạt động của thị trường chứng khoán Việt
Nam.
- Về chất lượng tín dụng an toàn của hệ thống ngân hàng
thương mại
- Việc thực hiện Luật NSNN năm 2002 từ khi luật có hịêu lực
đến trước khi lập dự toán NSNN năm 2006…
Qua triển khai thực hiện giám sát chuyên đề, Uỷ ban đã xây
dựng các báo cáo chuyên đề, trong đó có đánh giá
thực trạng tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế
và ngân sách trong từng ngành, lĩnh vực và đề
xuất nhiều kiến nghị cụ thể với Quốc hội, Chính
phủ, các bộ, ngành, địa phương trong quá trình
thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm
vụ kinh tế và dự toán ngân sách nhà nước hàng
năm và dài hạn. Nhiều kiến nghị qua giám sát
chuyên đề đã được các cơ quan hữu quan tiếp thu,
sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các cơ chế, chính
sách, góp phần khai thác mọi nguồn lực cho đầu
tư phát triển, phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
3) Giám sát qua kiến nghị, đơn thư tố cáo của các tổ
chức, công dân về lĩnh vực kinh tế và ngân sách.
Qua thực hiện công tác giám sát và kết hợp với việc nghiên
cứu, xem xét các kiến nghị của các tổ chức và
công dân, Thường trực Uỷ ban đã có một số văn
bản gửi đến Chính phủ, các Bộ, ngành chức năng
đề nghị giải trình, làm rõ trách nhiệm và cần
có các biện pháp khắc phục như vấn đề di dân tự
do; việc nhập khẩu clinker; vấn đề sản xuất,
tiêu thụ, giá cả về nguyên liệu chế biến bột
giấy trong nước; về tình hình cải tạo và nâng
cấp quốc lộ 1A đoạn từ Vinh (Nghệ An) đến Đông
Hà (Quảng Trị); việc nhập khẩu các bộ linh kiện
xe gắn máy, nhất là từ Trung Quốc và việc sản
xuất, lắp ráp xe gắn máy trong nước theo chủ
trương khuyến khích nội địa hoá; về chính sách
thuế đối với doanh nghiệp; về mua tạm trữ thóc
gạo, cà phê; về tình hình nhập khẩu đường, xuất
khẩu gạo, nhập khẩu những mặt hàng mà khả năng
trong nước có thể sản xuất được v.v... Qua theo
dõi thấy, các kiến nghị của Uỷ ban đã được Chính
phủ, các Bộ, ngành quan tâm có chuyển biến tích
cực, có các biện pháp khắc phục từng bước có kết
quả.
Ngoài ra, sau khi nhận được đơn thư của các tổ chức, cá nhân
về các vấn đề liên quan tới Nghị quyết của Quốc
hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và dự
toán ngân sách nhà nước thuộc lĩnh vực hoạt động
của Uỷ ban; Thường trực Uỷ ban có công văn
chuyển đến các cơ quan hữu quan và đôn đốc việc
xem xét, giải quyết; đồng thời cũng thông báo
cho các tổ chức, cá nhân được biết.
2.2. Đánh giá kết quả giám sát về lĩnh vực kinh tế và ngân
sách nhà nước trong thời gian qua.
Qua nghiên cứu thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội về
nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và dự toán
NSNN hàng năm, có thể rút ra một số nhận xét sau
đây:
Thứ nhất, về những mặt đã đạt được trong hoạt động giám
sát của các cơ quan của Quốc hội nói chung, của
Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách nói riêng.
1. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật, các hoạt
động giám sát về kinh tế và ngân sách của các cơ
quan của Quốc hội (Uỷ ban Thường vụ Quốc hội,
Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội,
Đoàn Đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội)
được thực hiện thường xuyên, phạm vi giám sát đã
được mở rộng, hình thức giám sát cũng được phong
phú và phù hợp hơn, nội dung của hoạt động giám
sát thiết thực hơn. Hoạt động giám sát của Quốc
hội đã có tác dụng quan trọng, góp phần thúc
đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội, tăng nguồn thu
ngân sách và sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà
nước theo các Nghị quyết của Quốc hội.
2.
Hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội nói chung,
nhất là của Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách về lĩnh
vực kinh tế và ngân sách đã bao quát được các
lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội; đồng
thời đã tập trung vào những vấn đề cấp bách mà
Quốc hội đề ra và được cử tri cả nước quan tâm
như tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế và ngân
sách nhà nước, việc phân bổ nhiệm vụ thu chi
ngân sách nhà nước, các hoạt động xuất khẩu,
nhập khẩu, xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà
nước, đặc biệt là các dự án quan trọng quốc gia,
các chương trình mục tiêu quốc gia, thực hiện
các mục tiêu và các cân đối chủ yếu của nền kinh
tế quốc dân và các ngành kinh tế quan trọng,
tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp...
3. Bằng các hình thức giám sát trên cơ sở các báo cáo và tổ
chức các Đoàn giám sát, Uỷ ban Kinh tế và Ngân
sách của Quốc hội đã thực hiện được khối lượng
giám sát khá lớn, đã kịp thời phát hiện được
những vấn đề tồn tại, khó khăn, yếu kém, đề xuất
được nhiều kiến nghị đúng đắn để các cơ quan hữu
quan nghiên cứu, xử lý trong quá trình điều hành
hoặc để bổ sung, hoàn thiện các chính sách, pháp
luật. Công tác giám sát về dự toán ngân sách nhà
nước, đặc biệt trong khâu thẩm tra phương án
phân bổ ngân sách ngày càng đi vào các chỉ tiêu
cụ thể, chi tiết hơn, có đề xuất và điều chỉnh
nhiều hơn.
4. Công tác phối hợp các hoạt động giám sát của các cơ quan của
Quốc hội từng bước được đẩy mạnh tăng cường từng
bước; các chương trình kế hoạch giám sát đã được
xây dựng một cách chủ động với nội dung phong
phú và thiết thực, trong đó có những vấn đề bức
xúc và vướng mắc cần tháo gỡ; địa điểm và thời
gian giám sát được xác định hợp lý hơn. Sự phối
hợp giữa các cơ quan của Quốc hội với Đoàn đại
biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Ban kinh
tế-ngân sách của Hội đồng nhân dân địa phương đã
được thực hiện tốt hơn và các cơ quan hữu quan
đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác
giám sát của Quốc hội.
Thứ hai, về những tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám
sát của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế và ngân
sách nhà nước.
1. Chất lượng, hiệu quả, hiệu lực của công tác giám sát còn
hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan của Quốc
hội trong công tác giám sát và phục vụ giám sát
trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước
chưa được chặt chẽ, đồng bộ. Một số Đoàn giám
sát của các cơ quan Quốc hội về làm việc với địa
phương, bộ, ngành chưa có kế hoạch đầy đủ, đồng
bộ về thời gian, địa điểm và nội dung nên dẫn
tới tình trạng trùng lắp, dồn dập, gây khó khăn
nhất định cho địa phương trong việc chuẩn bị nội
dung và tiếp đón.
2. Công tác giám sát việc ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật về lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước
chưa được thường xuyên, liên tục nên đã hạn chế
trong việc phát hiện những bất cập trong quá
trình triển khai thực hiện Luật, pháp lệnh, Nghị
quyết, các cơ chế, chính sách về kinh tế-tài
chính.
3. Trong quá theo dõi, giám sát việc xây dựng dự toán NSNN,
phân bổ ngân sách đã bắt đầu đi sâu, vào các chỉ
tiêu cụ thể, chi tiết đối với các Bộ, ngành và
địa phương, nhưng chưa thực sự đi sâu phân tích
những cơ sở, căn cứ, chế độ, định mức cụ thể
trong việc giao nhiệm vụ thu- chi ngân sách gắn
với nhiệm vụ chính trị, chuyên môn đảm nhận cũng
như tính chất, đặc điểm hoạt động cụ thể của
từng Bộ, ngành, địa phương.
Khâu theo dõi, giám sát và phục vụ
thẩm tra, phê duyệt Tổng quyết toán ngân sách
Nhà nước chưa thực sự đi sâu vào tất cả các chỉ
tiêu thu- chi ngân sách, do còn thiếu các thông
tin cần thiết, thiếu cơ quan có khả năng và điều
kiện phân tích sâu sắc, khách quan tình hình
kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước, nhất là
chưa có sự tham gia đầy đủ của cơ quan Kiểm toán
nhà nước...do tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động
của Kiểm toán Nhà nước thời gian qua còn nhiều
bất cập nên chưa đáp ứng được yêu cầu kiểm toán
báo cáo quyết toán NSNN của các bộ, ngành và địa
phương
.
4. Các kiến nghị, đề xuất qua hoạt động giám sát của các cơ
quan của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế và ngân
sách nhà nước chưa được các cơ quan hữu quan
thường xuyên quan tâm đúng mức và xử lý kịp
thời.
Thứ ba, về những nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại,
hạn chế trong hoạt động giám sát của các cơ quan
của Quốc hội:
1.
Các văn bản pháp luật có liên quan đến
hoạt động giám sát hiện nay tuy có quy định
trong Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội nhưng mới
dừng lại ở chức năng, nhiệm vụ giám sát chung.
“Luật hoạt động giám sát của Quốc hội là cơ
sở rất quan trọng góp phần tạo nên những tiến bộ
trong hoạt động giám sát thời gian vừa qua. Tuy
nhên, có những nội dung của Luật này và một số
đạo luật có liên quan khác có thể chưa phù hợp.
Vì vậy, qua một thời gian thi hành Luật, chúng
ta sẽ tổng kết, rút ra những vấn đề cần thiết để
sửa đổi, bổ sung”.
Đặc biệt,
một số quy định về hoạt động giám sát trong lĩnh
vực kinh tế và ngân sách nhà nước cũng đã có ở
nhiều văn bản khác nhau nhưng còn trùng lắp,
chưa cụ thể và chưa có hệ thống. Quyền, nghĩa
vụ, trách nhiệm của các ngành, các cấp, các tổ
chức chịu sự giám sát của Quốc hội trong lĩnh
vực kinh tế và ngân sách nhà nước chưa được quy
định rõ ràng, nên việc tổ chức thực hiện còn hạn
chế.
2. Hoạt động của các Đoàn giám sát chung về lĩnh vực kinh tế và
ngân sách nhà nước được tiến hành trong khoảng
thời gian rất ngắn, nội dung còn dàn trải, chủ
yếu là nghe các báo cáo của cơ quan được giám
sát. Do đó, điều kiện và các yếu tố cần thiết để
phân tích, nhận định, kết luận cụ thể về các vấn
đề được giám sát chưa thoả đáng, nên có một số
kiến nghị trong quá trình giám sát chưa có đủ
căn cứ, chưa có sức thuyết phục và tính khả thi
cao.
3. Công tác phục vụ các cơ quan của Quốc hội trong việc lập kế
hoạch, tổ chức lực lượng giám sát, đặc biệt là
việc theo dõi nắm tình hình không thường xuyên,
không sâu sát, cũng như việc theo dõi, đôn đốc
các cơ quan hữu quan tiếp nhận nghiên cứu, giải
quyết và phúc đáp các kiến nghị hoặc phối hợp
với nhau cùng giải quyết các kiến nghị qua giám
sát và trong thực tế các cơ quan Nhà nước cũng
chưa thực sự quan tâm đúng mức, thường xuyên nên
hiệu lực và hiệu quả giám sát bị hạn chế.
4. Cơ cấu các cơ quan của Quốc hội và cơ quan phục vụ công tác
giám sát chưa đủ mạnh; số lượng các đại biểu
Quốc hôi hoạt động chuyên trách còn hạn chế, cơ
chế, phương tiện, điều kiện hoạt động của đại
biểu Quốc hội còn nhiều bất cập. Đội ngũ chuyên
gia phục vụ chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng
giám sát. Điểm yếu hiện nay là trình độ và khả
năng phân tích kinh tế và ngân sách của cán bộ
còn thấp, trình độ phản biện còn hạn chế.
5. Chưa có được một cơ chế giám sát thống nhất để bảo đảm cho
công tác giám sát của các cơ quan của Quốc hội
có tính hệ thống, tính chuyên nghiệp cao, kể cả
bộ máy phục vụ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm
vụ; thiếu cơ chế phối hợp giữa các cơ quan Quốc
hội với Hội đồng nhân dân các cấp trong công tác
giám sát về lĩnh vực kinh tế và ngân sách.
2.3 Các yêu cầu tiếp tục tăng cường và đổi mới công tác
giám sát của Quốc hội nói chung, của Uỷ ban Kinh
tế và Ngân sách nói riêng nhằm tăng cường hiệu
lực và hiệu quả hoạt động giám sát trong lĩnh
vực kinh tế và ngân sách nhà nước.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã khẳng
định tại Hội nghị công tác giám sát 6 tháng đầu
năm 2005 là “Chúng ta xác định rõ rằng, mục
đích giám sát của Quốc hội là xây dựng và thúc
đẩy, ngoài ra không có mục đích nào khác. Giám
sát là để phát huy cái mạnh, khắc phục cái yếu,
để góp phần làm cho Bộ trưởng mạnh lên, Chính
phủ mạnh lên, các cơ quan tư pháp mạnh lên, Quốc
hội mạnh lên, cả hệ thống chính trị của chúng ta
mạnh lên. Nhận thức này ảnh hưởng chi phối đến
hiệu quả hoạt động của cả bộ máy chứ không riêng
hoạt động giám sát và chất vấn. Đối với Nhà nước
ta, mâu thuẫn nội tại là mâu thuẫn giữa yếu kém
với yêu cầu phát triển, giữa tiêu cực với yêu
cầu lành mạnh, nếu không đấu tranh giải quyết
mâu thuẫn thì Nhà nước không phát triển; giám
sát là một hình thức đấu tranh cần thiết cho yêu
cầu này”
Với tư tưởng chỉ đạo trên, chúng tôi cho rằng,
cần
thống nhất về nhận thức vị trí, vai trò của Quốc
hội trong hoạt động giám sát theo quy định của
Hiến pháp và pháp luật. Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội cần xây dựng
cơ chế giám sát bảo đảm thiết thực và có hiệu
quả; tăng cường các cơ quan tham mưu giúp việc
đủ mạnh, phân tích hoạt động kinh tế và ngân
sách. Các cơ quan Trung ương, địa phương chịu sự
giám sát phải nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu
các kiến nghị của các cơ quan của Quốc hội.
III. Một số giải pháp để nâng cao hiệu lực và
hiệu quả hoạt động giám sát trong lĩnh vực kinh
tế – xã hội và ngân sách nhà nước.
Trên cơ sở đánh giá những mặt tiến bộ, tích cực, tồn tại và
nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động
giám sát, để tăng cường nâng cao hiệu lực và
hiệu quả hoạt động giám sát của các cơ quan Quốc
hội nói chung, của Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách
của Quốc hội nói riêng. Theo chúng tôi, cần thực
hiện các giải pháp chủ yếu sau đây:
3.1. Bảo đảm sự đồng bộ của hệ thống pháp luật để làm cơ sở pháp
lý vững chắc cho hoạt động giám sát nói chung và
giám sát trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách
nhà nước nói riêng.
+ Cần tiếp tục nghiên cứu và cụ thể hoá những quy định của
pháp luật về hoạt động giám sát; quy định cụ thể
về quyền hạn, trách nhiệm của chủ thể giám sát,
đối tượng chịu sự giám sát và đặc biệt là chủ
thể giải quyết những kiến nghị qua hoạt động
giám sát, các chế tài bảo đảm hiệu lực của giám
sát. Những văn bản pháp luật đơn hành về lĩnh
vực kinh tế và ngân sách nhà nước cũng cần ghi
rõ các nội dung giám sát, chế tài về hoạt động
giám sát trong từng lĩnh vực ở các Bộ, ngành,
địa phương để nâng cao tinh thần trách nhiệm của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tổ chức
thực hiện.
+ Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung những văn bản quy phạm
pháp luật, cơ chế, định mức, tiêu chuẩn, chính
sách hiện hành chưa phù hợp hoặc không còn phù
hợp với thực tế, thậm chí còn mâu thuẫn với
nhau, tạo cơ sở pháp lý vững chắc và thực sự tin
cậy cho hoạt động giám sát, đưa ra được kết luận
về việc đúng, việc sai và kiến nghị xác đáng.
3.2. Cần lựa chọn nội dung, hình thức và đối tượng giám sát phù
hợp với Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát
triển kinh tế- xã hội và ngân sách nhà nước hàng
năm và trong từng thời kỳ, đặc biệt là các
chương trình giám sát theo chuyên đề, bởi đây là
hình thức giám sát có chất lượng và hiệu quả
cao. Muốn vậy, phải chú trọng tới các nội dung
sau đây:
+ Việc xây dựng kế hoạch giám sát vừa bảo đảm toàn diện, vừa
phải bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp
với nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội và dự
toán ngân sách nhà nước hàng năm; kết hợp giữa
hình thức giám sát chung với giám sát chuyên đề
và giám sát đột xuất. Tăng cường hoạt động giám
sát tại các Bộ, ngành (tổng hợp và kinh tế-kỹ
thuật); việc tổ chức hoạt động giám sát tại các
địa phương và doanh nghiệp cũng cần lựa chọn nội
dung cần thiết đối với từng ngành, từng vùng và
địa phương.
+ Tăng cường mối quan hệ chặt chẽ thông qua việc các Bộ,
ngành, địa phương gửi báo cáo định kỳ hàng quý,
6 tháng và cả năm về tình hình thực hiện nhiệm
vụ kinh tế- xã hội và ngân sách nhà nước thuộc
Bộ, ngành, địa phương quản lý và tổ chức tốt
việc theo dõi, tổng hợp, phân tích và đề xuất
kiến nghị trong các báo cáo trên.
+ Cải tiến cách thức làm báo cáo kết quả giám sát theo hướng
lựa chọn tập trung vào những vấn đề tồn tại và
kiến nghị những vấn đề cấp bách, quan trọng,
liên quan trực tiếp tới đối tượng chịu sự giám
sát và việc thực hiện các cơ chế, chính sách của
Đảng và Nhà nước về lĩnh vực kinh tế và ngân
sách nhà nước, tránh sa đà vào việc nhắc lại
tình hình chung. Kiến nghị phải có căn cứ, sát
thực tiễn và có tính khả thi.
+ Quan tâm đúng mức tới các kênh thông tin về tình hình
kinh tế- xã hội và ngân sách nhà nước hàng năm
qua các phương tiện thông tin đại chúng; qua các
báo cáo công tác giám sát của các Ban kinh tế-
ngân sách của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương; qua ý kiến của cử tri trong cả nước;
qua phát hiện vấn đề trong quá trình hoạt động
của các đại biểu Quốc hội ở địa phương, ngành
mình công tác..., bởi vì đây là những kênh thông
tin quan trọng, giúp cho việc tăng cường vai trò
giám sát của Quốc hội trong toàn bộ đời sống
kinh tế-xã hội.
3.3. Bảo đảm đồng bộ các điều kiện để thực hiện có chất lượng và
hiệu lực các khâu trong công tác giám sát về
lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước, đặc biệt
là khâu bảo đảm cung cấp thông tin và tiếp thu,
xử lý kiến nghị.
Vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng để nâng cao
chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động
giám sát của các cơ quan của Quốc hội trong lĩnh
vực kinh tế và ngân sách nhà nước là các Bộ,
ngành, địa phương tổ chức tốt các điều kiện để
bảo đảm cho các Đoàn giám sát thực hiện nhiệm
vụ, đặc biệt là cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp
thời thông tin và tiếp thu, xử lý kịp thời những
kiến nghị đúng đắn của các Đoàn công tác giám
sát của Quốc hội. Có thể nói việc tiếp thu, xử
lý tốt các kiến nghị đúng đắn, hợp lý qua hoạt
động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc
hội về lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước là
vấn đề mấu chốt, có ý nghĩa quyết định trong
việc nâng cao hiệu quả và hiệu lực giám sát của
Quốc hội. Cùng với việc cải tiến phương thức
giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội
trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước,
Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đề cao tinh
thần trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm của
người đứng đầu, thủ trưởng các cơ quan, tổ chức
có chức năng, nhiệm vụ tiếp thu, nghiên cứu,
giải quyết các kiến nghị về cơ chế, chính sách
trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước,
quan tâm đến việc giải quyết những kiến nghị
đúng đắn, hợp lý qua hoạt động giám sát của Quốc
hội, các cơ quan của Quốc hội. Quá trình giải
quyết các kiến nghị phải được tiến hành thường
xuyên không chỉ trong thời gian chuẩn bị họp
Quốc hội hoặc trong kỳ họp Quốc hội mà ngay cả
khi Quốc hội không họp. Các cơ quan hữu quan cần
coi trọng giám sát của Quốc hội trong nhận thức
và điều hành, coi những kiến nghị qua hoạt động
giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội
là những yêu cầu quan trọng, góp phần vào việc
thúc đẩy quá trình thực thi các cơ chế, chính
sách của Đảng và Nhà nước, Nghị quyết của Quốc
hội trong đời sống kinh tế-xã hội. Chúng tôi cho
rằng, nếu làm tốt công tác này, sẽ góp phần nâng
cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động không chỉ của
các cơ quan Quốc hội về chức năng giám sát trong
lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước, mà còn
đối với nhiều khâu trong hệ thống bộ máy Nhà
nước ta hiện nay.
3.4. Cần tăng cường vai trò điều hoà, phối hợp của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội đối với HĐDT và các Uỷ ban
của Quốc hội; vai trò hướng dẫn đối với các Đoàn
ĐBQH và HĐND các cấp trong công tác giám sát về
lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước tại các
Bộ, ngành và địa phương theo một kế hoạch và quy
trình hợp lý. Muốn vậy, phải xây dựng chương
trình kế hoạch hoạt động thống nhất về giám sát
của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, của Hội đồng dân
tộc và các Uỷ ban của Quốc hội. Quy trình giám
sát phải được quy định thành quy chế, bảo đảm
đầy đủ cơ sở pháp lý để thực hiện. Cần quy định
những giai đoạn cụ thể và nội dung công việc
cần thực hiện trong từng giai đoạn, đặc biệt là
giai đoạn chuẩn bị kế hoạch, tổ chức lực lượng
đi giám sát, những hoạt động cụ thể trong thời
gian giám sát, xây dựng báo cáo giám sát, gửi
các báo cáo giám sát và theo dõi việc xử lý,
giải quyết các kiến nghị qua giám sát. Phải có
quy định cụ thể về quy trình tiến hành giám sát
theo các khâu công việc nói trên. Mỗi bước công
việc trong từng khâu phải bảo đảm cả về mặt tổ
chức và nội dung; đặc biệt cần có tổ chức theo
dõi sát việc xử lý, giải quyết các kiến nghị qua
giám sát. Bởi vì đây chính là sự phản ánh kết
quả, hiệu quả qua hoạt động giám sát nói chung.
3.5. Cần tiếp tục tăng cường về tổ chức của Quốc hội và bộ máy
giúp việc của Quốc hội, đặc biệt chú trọng tới
việc nâng cao năng lực phân tích về kinh tế-
ngân sách, để giúp các cơ quan của Quốc hội nói
chung và Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách nói riêng
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả
hoạt động giám sát về lĩnh vực kinh tế và ngân
sách nhà nước.
Để tăng cường công tác giám sát của các cơ quan của Quốc hội
trong phê chuẩn Tổng quyết toán ngân sách nhà
nước, cần nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ
quan Kiểm toán nhà nước trên cơ sở Luật Kiểm
toán Nhà nước (có hiệu lực từ 1.1.2006). Đồng
thời, nghiên cứu thành lập Cơ quan (Viện)
phân tích kinh tế-xã hội và ngân sách của Quốc
hội. để góp phần vào việc nâng cao hiệu quả
của hoạt động giám sát của Quốc hội trong lĩnh
vực kinh tế và ngân sách nhà nước. Thực hiện
Luật Kiểm toán Nhà nước, Uỷ ban kinh tế và ngân
sách cần tăng cường mối quan hệ chặt chẽ với cơ
quan Kiểm toán nhà nước, đồng thời cần phối hợp
chặt chẽ hơn nữa với Hội đồng dân tộc và các Uỷ
ban của Quốc hội trong việc thẩm tra dự toán
ngân sách nhà nước cũng như Tổng quyết toán ngân
sách nhà nước ở lĩnh vực thuộc Hội đồng và mỗi
Uỷ ban phụ trách.
Tóm lại:
Việc tăng cường hiệu lực và hiệu quả hoạt động
giám sát của Quốc hội về lĩnh vực kinh tế và
ngân sách có vị trí, vai trò rất quan trọng
trong việc giúp Quốc hội thực hiện đầy đủ chức
năng, nhiệm vụ của mình theo luật định. Hoạt
động giám sát được nâng cao về mặt chất lượng
cũng là điều kiện quan trọng để giúp Quốc hội
thực hiện các chức năng lập pháp và quyết định
các vấn đề quan trọng của đất nước. Các cơ quan
của Quốc hội có vai trò rất quan trọng trong
việc giúp Quốc hội thực hiện chức năng giám sát
tối cao của mình về lĩnh vực kinh tế-xã hội và
ngân sách nhà nước.
Ví dụ: UBTVQH (Khoá XI) đã tổ chức giám
sát các chuyên đề trong lĩnh vực kinh tế
và NSNN: “Việc
Thực hiện quy hoạch, kế hoạch đầu tư
theo ngành và vùng lãnh thổ trong cả
nước, kết quả khắc phục tình trạng đầu
tư dàn trải, tình hình nợ đọng vốn đầu
tư xây dựng cơ bản, hiệu quả thấp và
chống thất thoát trong đầu tư xây dựng
cơ bản”;
“Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ
phát triển nông nghịêp và kinh tế nông
thôn từ 2001-2005”.
|