Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VỀ TÌNH HÌNH

THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển"

Hà Nội, 23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)

 

Trịnh Huy Quách

Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội

 

Đặt vấn đề

Theo quy định của Hiến pháp năm 1992, Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại; những nhiệm vụ trong lĩnh vực kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh; những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức  và hoạt động của bộ máy Nhà nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Việc tăng cường hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước giữ vai trò quan trọng; nó không chỉ cung cấp  những thông tin, dữ liệu thực tiễn về tình hình kinh tế-tài chính của đất nước và những vấn đề đang đặt ra làm căn cứ để Quốc hội quyết định nhiệm vụ kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước, mà còn xem xét việc chấp hành, thực hiện các văn bản pháp luật và các Nghị quyết  của Quốc hội trong lĩnh vực này.

Tăng cường hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội, nâng cao vai trò của Quốc hội trong việc xem xét, quyết định các mục tiêu, chỉ tiêu về kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước là một  trong những nội dung quan trọng của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, thực hiện dân chủ, bảo đảm sự giám sát của nhân dân thông qua Quốc hội đối với mọi hoạt động kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước.

Trong những năm qua, hoạt động  giám sát của các cơ quan của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước có nhiều chuyển biến tích cực. Hình thức, nội dung, phương pháp, quy trình  giám sát luôn cải tiến và từng bước hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội và từ đó vai trò của Quốc hội nói chung, của các cơ quan của Quốc hội nói riêng không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả giám sát có nâng lên một bước nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của thực tế cuộc sống. Trước đòi hỏi ngày  càng cao, đa dạng, phong phú của thực tiễn và đòi hỏi  của tiến trình đổi mới hoạt động của Quốc hội, công  tác giám sát trong lĩnh vực kinh tế và NSNN ở các cơ quan của Quốc hội tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan này.

 

I. Tổng quan về giám sát trong lĩnh vực kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước

1.1. Thẩm quyền thực hiện chức năng giám sát trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước.

Thẩm quyền giám sát của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội đã được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của  Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc,  Quy chế hoạt động của các Uỷ ban của Quốc hội, Quy chế hoạt động của các đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội; Luật hoạt động giám sát của Quốc hội (năm 2003) và  trong một số văn bản pháp luật khác.

Về chức năng giám sát của Quốc hội, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), tại Khoản 4 Điều 83 đã quy định  "Quốc hội thực hiện quyền   giám sát tối cao  đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước" ; "Thực  hiện  quyền giám sát tối cao  việc tuân theo Hiến pháp , luật và nghị quyết  của Quốc hội; xét  báo cáo  hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao" (Khoản  2, Điều 84 Hiến pháp 1992, Khoản  2 Điều 2 Luật tổ chức Quốc hội) ...

Chủ thể thực hiện giám sát tình hình thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ kinh tế-xã hội và các Nghị quyết về ngân sách nhà nước là Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội và đại biểu Quốc hội.

- Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc tuân theo Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội. ở đây, Quốc hội tập trung giám sát việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và Nghị quyết về dự toán NSNN; Nghị quyết phân bổ NSTW và các Nghị quyết khác trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách[1]. Quốc  hội thực hiện chức năng giám sát thông qua các kỳ họp Quốc hội trên cơ sở xem xét, đánh giá các báo cáo về tình hình thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước.

- Uỷ ban Thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, nghị quyết của Quốc hội, trong đó có Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và các Nghị quyết về ngân sách nhà nước. Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết về tỷ lệ % phân chia các khoản thu giữa NSTW và NSĐP trong năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách [2].

- Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội thực hiện quyền giám sát theo nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân công của Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

- Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ trong quá trình thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và các Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương; việc chấp hành các quy định của pháp luật về thu và chi ngân sách nhà nước..

Về hình thức giám sát, gồm các hình thức sau đây:

·       Giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước trên cơ sở xem xét  các báo cáo hoạt động của các cơ quan này trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước hàng năm.

·       Tổ chức các Đoàn giám sát thực tế ở các Bộ, ngành, địa phương.

·       Thành lập Uỷ ban lâm thời để điều tra một số vấn đề cụ thể (khi thấy cần thiết).

·       Chất vấn về những vấn đề mà Quốc hội quan tâm trong quá trình thực hiện Nghị quyết của Quốc hội.

·       Tổ chức giám sát theo chuyên đề, nhất là những vấn đề có tính bức xúc trong quá trình thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước[3].

1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách trong việc giám sát thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ kinh tế-xã hội và các Nghị quyết về ngân sách nhà nước.

Luật Tổ chức Quốc hội  năm 2001 (tại Điều 28) và Luật NSNN năm 2002 (tại điều 17) quy định Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội là cơ quan của Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc lĩnh vực quản lý kinh tế, hoạt động kinh doanh, ngân sách, tài chính và tiền tệ và các dự án khác do Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội giao;

2- Chủ trì thẩm tra dự án, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, các báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, về dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương, tổng quyết toán ngân sách nhà nước;

3- Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thuộc lĩnh vực quản lý kinh tế, hoạt động kinh doanh, ngân sách, tài chính và tiền tệ; giám sát hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc thực hiện kế hoạch nhà nước về phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện dự toán ngân sách nhà nước và việc thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ;

4- Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với  cơ quan trung ương của tổ chức chính trị-xã hội thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách;

5- Kiến nghị các vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động cuả các cơ quan hữu quan và các vấn đề về quản lý kinh tế, hoạt động kinh doanh, ngân sách, tài chính và tiền tệ.

Trong lĩnh vực ngân sách nhà nước, nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội được quy định cụ thể như sau:

1- Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh và các  dự án khác  về lĩnh vực  tài chính- ngân sách do Quốc hội, Uỷ ban TVQH giao ;

2- Chủ trì thẩm tra dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương, các báo cáo về việc thực  hiện ngân sách nhà nước và quyết toán  ngân sách nhà nước do Chính phủ trình Quốc hội;

3- Giám sát việc thực hịên Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về lĩnh vực tài chính-ngân sách; giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước và chính sách tài chính;

4- Giám sát  hoạt động của Chính phủ, các ngành, các cấp trong việc thực hiện ngân sách nhà nước  và việc thực hiện  pháp luật về ngân sách của các tổ chức và cá nhân;

5- Kiến nghị với Quốc hội các vấn đề về ngân sách, tài chính và tiền tệ

 Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của  mình có trách nhiệm tham gia với Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách  thẩm tra báo cáo của Chính phủ về kinh tế-xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ  ngân sách trung ương, tổng quyết toán ngân sách nhà nước (Điều 34 Luật Tổ chức Quốc hội Nghị quyết số 387/UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Uỷ ban TVQH về Quy trình lập, thẩm tra, trình Quốc hội xem xét quyết định dự toán NSNN, phương án phân bổ NSTW, phê chuẩn quyết toán NSNN ).

 

II. Thực trạng giám sát các vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế- xã hội và ngân sách nhà nước.

2.1  Những kết quả đạt được trong thời gian qua.

Trong những năm vừa qua, Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội đã tiến hành các hình thức giám sát sau:

1) Giám sát chung tình hình thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ kinh tế -xã hội và các Nghị quyết về ngân sách nhà nước hàng năm.

Hình thức giám sát chung thể hiện tính toàn diện, thường xuyên của hoạt động giám sát. Công tác giám sát chung của Uỷ ban tập trung vào  việc giám sát hoạt động của Chính phủ, của các Bộ, ngành, địa phương  trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kế hoạch  phát triển kinh tế- xã hội; việc thực hiện Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thuộc lĩnh vực quản lý kinh tế, hoạt động kinh doanh, ngân sách, tài chính và tiền tệ. Thông qua công tác giám sát, Uỷ ban đã phát hiện và kịp thời có  ý kiến  trực tiếp với các cơ quan, tổ chức-nơi đến giám sát về những vấn đề cần khắc phục trong việc thi hành pháp luật cũng như việc tổ chức thực hiện  các nhiệm vụ kinh tế-xã hội và ngân sách  Nhà nước;  đồng thời  qua khảo sát thực tế, nắm được các thông tin cần thiết phục vụ cho việc thẩm tra  các dự án,  kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trước khi trình ra Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; mặt khác, có cơ sở  đề xuất, kiến nghị với Quốc hội  và Chính phủ các chủ trương, giải pháp về lĩnh vực kinh tế và ngân sách.

Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách đều có chương trình công tác giám sát hàng năm và Thường trực Uỷ ban cụ thể hoá thành chương trình công tác cụ thể hàng quý, hàng tháng trong năm để triển khai tổ chức thực hiện.

* Hoạt động giám sát tại các địa phương:

Nội dung cơ bản của các đợt giám sát tại  địa phương được tập trung vào việc xem xét tình hình và kết quả thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ kinh tế-xã hội gắn với dự toán ngân sách nhà nước hàng năm, trong đó chú trọng các vấn đề: chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong  nông-công nghiệp và dịch vụ; tiêu thụ nông sản hàng hoá; về huy động vốn  để đầu tư phát triển kinh tế-xã hội; vấn đề phát triển công nghiệp gắn với  phát triển nông nghiệp; hoạt động xuất nhập khẩu, hợp tác đầu tư với nước ngoài; về lưu thông hàng hoá và tình hình diễn biến của thị trường giá cả; về đầu tư vốn cho các chương trình mục tiêu quốc gia như: xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, các xã nghèo đặc biệt khó khăn, trồng mới 5 triệu ha rừng...; về các biện pháp đảm bảo thực hiện nhiệm vụ thu, chi ngân sách, triệt để tiết kiệm trong chi tiêu; vấn đề  quản lý ngân sách xã...

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI, Uỷ ban KT&NS đã tổ chức nhiều Đoàn công tác của Uỷ ban và tham gia các Đoàn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đi giám sát tại nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước.

Tại mỗi địa phương, Đoàn đã làm việc với Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Nhân dân, Đoàn đại biểu Quốc hội và các Sở, các ngành liên quan ở địa phương; đã đi thăm và làm việc với một số  huyện, xã,  cơ sở sản xuất-kinh doanh trên địa bàn ...

Sau mỗi đợt giám sát tại địa phương, Đoàn công tác đã có báo cáo kết quả gửi Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ và các Bộ, ngành có liên quan. Ngoài các  báo cáo tổng hợp, Đoàn công tác còn có các công văn gửi  Chính phủ, các Bộ, ngành chức năng ở Trung ương  hoặc làm việc trực tiếp với các Bộ, ngành về một số đề nghị cụ thể của địa phương để xem xét, quan tâm giải quyết và thông báo  lại cho Uỷ ban được biết kết quả.

* Hoạt động giám sát tại các Bộ, ngành:

Hàng năm, Uỷ ban cũng đã dành nhiều thời gian  làm việc với các Bộ, ngành, các Tổng cục, Tổng công ty, doanh nghiệp. Đối với  các Bộ, ngành tổng hợp như Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Thương mại, Quỹ hỗ trợ phát triển, Tổng cục thuế, Tổng cục Hải quan, Kho bạc Nhà nước...; Thường trực Uỷ ban hàng quý hoặc 6 tháng thường tổ chức các cuộc họp Thường trực Uỷ ban  mở rộng hoặc toàn thể Uỷ ban hoặc đến làm việc  trực tiếp để nghe và  trao đổi các biện pháp  nhằm bảo đảm thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội cũng như dự toán ngân sách nhà nước theo Nghị quyết của Quốc hội. Đối với các Bộ quản lý chuyên ngành kinh tế như Bộ công nghiệp, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Thuỷ sản, Xây dựng, Giao thông vận tải.... hàng năm Thường trực Uỷ ban tổ chức  làm việc 1-2 lần với từng Bộ về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế ngành gắn với nhiệm vụ thu, chi ngân sách.

Đồng thời, Thường trực  Uỷ ban cũng đã tổ chức làm việc với một số Tổng công ty, như: Hàng không, Hàng hải, Dầu khí Việt nam, Bưu chính viễn thông; Xi măng; Thuốc lá; Da giầy; Dệt may; Thép; Xăng dầu; Cà phê; Giấy; Chè; Mía đường; Cao su; Vật tư nông nghiệp; Công ty Bông; Sữa Việt Nam ... và các Ngân hàng  thương mại quốc doanh về  tình hình sản xuất-kinh doanh, thực  trạng  tài chính doanh nghiệp và hướng  phát triển, những khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp cần giải quyết, tháo gỡ...

2) Giám sát theo chuyên đề: là hình thức giám sát có tính hiệu quả cao trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Uỷ ban; bởi vì  đây là hình thức giám sát mang tính chuyên sâu, thể hiện ở việc lựa chọn các chuyên đề giám sát là những nội dung có tính bức xúc về lĩnh vực kinh tế và ngân sách.

Trong những năm vừa qua, Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách đã tổ chức giám sát một số chuyên đề cụ thể với các hình thức thích hợp như phối hợp các Bộ, ngành chức năng, với Hội đồng nhân dân và các Ban Kinh tế- Ngân sách của HĐND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đề nghị các Bộ, ngành, TCT, địa phương gửi báo cáo kết hợp  với việc tổ chức các Đoàn của Uỷ ban đi  làm việc trực tiếp hoặc  tổ chức các Hội nghị để nghe trực tiếp... Trên cơ sở đó, tổ chức tổng hợp, nghiên cứu và tổ chức Hội nghị hoặc Hội thảo chuyên đề với Bộ, ngành, Tổng công ty, các địa phương có liên quan. Trong nhiệm kỳ Quốc hội Khoá XI, Uỷ ban đã tổ chức được nhiều chuyên đề giám sát như:

- Về mô hình các Tổng công ty Nhà nước;

- Về tình hình tài chính của các ngân hàng, tổ chức tín dụng và các giải pháp khắc phục;

- Về doanh nghiệp và các chính sách thuế.

- Về đầu tư nước ngoài và phát triển các khu công nghiệp.

- Về chương trình trồng 5 triệu ha rừng và kinh tế cửa khẩu.

- Về chương trình phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt nam.

- Về sử dụng và quản lý đất nông nghiệp,  đất nông lâm trường quốc doanh, đất thổ cư ở các đô thị lớn, đất giao cho các cơ quan, tổ chức hành chính sự nghiệp quản lý, sử dụng.

- Về tình hình giá cả thị trường trong những tháng đầu năm 2004 và dự báo cả năm.

- Về hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam.

- Về chất lượng tín dụng an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại

- Việc thực hiện Luật NSNN năm 2002 từ khi luật có hịêu lực đến trước khi lập dự toán NSNN năm 2006…

Qua triển khai thực hiện giám sát chuyên đề, Uỷ ban đã xây dựng các báo cáo chuyên đề, trong đó có đánh giá thực trạng tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế và ngân sách trong từng ngành, lĩnh vực và đề xuất nhiều kiến nghị cụ thể với Quốc hội, Chính phủ, các bộ,  ngành, địa phương trong quá trình thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ kinh tế và dự toán ngân sách nhà nước hàng năm và dài hạn. Nhiều kiến nghị qua giám sát chuyên đề đã được các cơ quan hữu quan tiếp thu, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các cơ chế, chính sách, góp phần khai thác mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

3) Giám sát qua kiến nghị, đơn thư tố cáo của các tổ chức, công dân về lĩnh vực kinh tế và ngân sách.

Qua thực hiện công tác giám sát và kết hợp với việc nghiên cứu, xem xét các  kiến nghị của các tổ chức và công dân, Thường trực Uỷ ban đã có một số văn bản gửi đến Chính phủ, các Bộ, ngành chức năng đề nghị giải trình, làm rõ trách nhiệm và  cần có các biện pháp khắc phục như vấn đề di dân tự do; việc nhập khẩu clinker; vấn đề sản xuất, tiêu thụ, giá cả về nguyên liệu chế biến bột giấy trong nước; về tình hình cải tạo và nâng cấp quốc lộ 1A đoạn từ Vinh (Nghệ An) đến Đông Hà (Quảng Trị); việc nhập khẩu các bộ linh kiện xe gắn máy, nhất là từ Trung Quốc và việc sản xuất, lắp ráp xe gắn máy trong nước theo chủ trương khuyến khích nội địa hoá; về chính sách thuế đối với doanh nghiệp; về mua tạm trữ thóc gạo, cà phê; về tình hình nhập khẩu đường, xuất khẩu gạo, nhập khẩu những mặt hàng mà khả năng trong nước có thể sản xuất được v.v... Qua theo dõi thấy, các kiến nghị của Uỷ ban đã được Chính phủ, các Bộ, ngành quan tâm có chuyển biến tích cực, có các biện pháp khắc phục từng bước có kết quả.

Ngoài ra, sau khi nhận được đơn thư của các tổ chức, cá nhân về các vấn đề liên quan tới Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước thuộc lĩnh vực hoạt động của Uỷ ban; Thường trực Uỷ ban có công văn chuyển đến các cơ quan hữu quan và đôn đốc việc xem xét, giải quyết; đồng thời cũng thông báo cho các tổ chức, cá nhân được biết.

2.2. Đánh giá kết quả giám sát về lĩnh vực kinh  tế và ngân sách nhà nước trong thời gian qua.

Qua nghiên cứu thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và dự toán NSNN hàng năm, có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

Thứ nhất, về những mặt đã đạt được trong hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội nói chung, của Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách nói riêng.

1. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật, các hoạt động giám sát về kinh tế và ngân sách của các cơ quan của Quốc hội (Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc  và các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội) được thực hiện thường xuyên, phạm vi giám sát đã được mở rộng, hình thức giám sát cũng được phong phú và phù hợp hơn, nội dung của hoạt động giám sát thiết thực hơn. Hoạt động giám sát của Quốc hội đã có tác dụng quan trọng, góp phần  thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội, tăng nguồn thu ngân sách và sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước theo các Nghị quyết của Quốc hội.

2. Hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội nói chung, nhất là của Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách về lĩnh vực kinh tế và ngân sách đã bao quát được các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội; đồng thời đã tập trung vào những vấn đề cấp bách mà Quốc hội đề ra và được cử tri cả nước quan tâm như tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế và ngân sách nhà nước, việc phân bổ nhiệm vụ thu chi ngân sách nhà nước, các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước, đặc biệt là các dự án quan trọng quốc gia, các chương trình mục tiêu quốc gia, thực hiện các mục tiêu và các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân và các ngành kinh tế quan trọng, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp...

3. Bằng các hình thức giám sát trên cơ sở các báo cáo và tổ chức các Đoàn giám sát, Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội đã thực hiện được khối lượng giám sát khá lớn, đã kịp thời phát hiện được những vấn đề tồn tại, khó khăn, yếu kém, đề xuất được nhiều kiến nghị đúng đắn để các cơ quan hữu quan nghiên cứu, xử lý trong quá trình điều hành hoặc để bổ sung, hoàn thiện các chính sách, pháp luật. Công tác giám sát về dự toán ngân sách nhà nước, đặc biệt trong khâu thẩm tra phương án phân bổ ngân sách ngày càng đi vào các chỉ tiêu cụ thể, chi tiết hơn, có đề xuất và điều chỉnh nhiều hơn.

4. Công tác phối hợp các hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội từng bước được đẩy mạnh tăng cường từng bước; các chương trình kế hoạch giám sát đã được xây dựng một cách chủ động với nội dung phong phú và thiết thực, trong đó có những vấn đề bức xúc và vướng mắc cần tháo gỡ; địa điểm và thời gian giám sát được xác định hợp lý hơn. Sự phối hợp  giữa các cơ quan của Quốc hội với Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Ban kinh tế-ngân sách của Hội đồng nhân dân địa phương đã được thực hiện tốt hơn và các cơ quan hữu quan đã  tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác giám sát của Quốc hội.

Thứ hai, về những tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước.

1. Chất lượng, hiệu quả, hiệu lực của  công tác giám sát còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan của Quốc hội trong công tác giám sát và phục vụ giám sát trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước chưa được chặt chẽ, đồng bộ. Một số Đoàn giám sát của các cơ quan Quốc hội về làm việc với địa phương, bộ, ngành chưa có kế hoạch đầy đủ, đồng bộ về thời gian, địa điểm và nội dung nên dẫn tới tình trạng trùng lắp, dồn dập, gây khó khăn nhất định cho địa phương trong việc chuẩn bị nội dung và tiếp đón.

2. Công tác giám sát việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước chưa được thường xuyên, liên tục nên đã hạn chế trong việc phát hiện những bất cập trong quá trình triển khai thực hiện Luật, pháp lệnh, Nghị quyết, các cơ chế, chính sách về kinh tế-tài chính.

3. Trong quá theo dõi, giám sát việc xây dựng dự toán NSNN, phân bổ ngân sách đã bắt đầu đi sâu, vào các chỉ tiêu cụ thể, chi tiết đối với các Bộ, ngành và địa phương, nhưng chưa thực sự đi sâu phân tích những cơ sở, căn cứ, chế độ, định mức cụ thể trong việc giao nhiệm vụ thu- chi ngân sách gắn với nhiệm vụ chính trị, chuyên môn đảm nhận cũng như tính chất, đặc điểm hoạt động cụ thể của từng Bộ, ngành, địa phương.

 Khâu theo dõi, giám sát và phục vụ thẩm tra, phê duyệt Tổng quyết toán ngân sách Nhà nước chưa thực sự đi sâu vào tất cả các chỉ tiêu thu- chi ngân sách, do còn thiếu các thông tin cần thiết, thiếu cơ quan có khả năng và điều kiện phân tích sâu sắc, khách quan tình hình kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước, nhất là chưa có sự tham gia đầy đủ của cơ quan Kiểm toán nhà nước...do tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của Kiểm toán Nhà nước thời gian qua còn nhiều bất cập nên chưa đáp ứng được yêu cầu kiểm toán báo cáo quyết toán NSNN của các bộ, ngành và địa phương [4].

4. Các kiến nghị, đề xuất qua hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước chưa được các cơ quan hữu quan thường xuyên quan tâm đúng mức và xử lý kịp thời.

Thứ ba, về những nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội:

1. Các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động giám sát hiện nay tuy có quy định trong Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội nhưng mới dừng lại ở chức năng, nhiệm vụ giám sát chung.Luật hoạt động giám sát của Quốc hội là cơ sở rất quan trọng góp phần tạo nên những tiến bộ trong hoạt động giám sát thời gian vừa qua. Tuy nhên, có những nội dung của Luật này và một số đạo luật có liên quan khác có thể chưa phù hợp. Vì vậy, qua một thời gian thi hành Luật, chúng ta sẽ tổng kết, rút ra những vấn đề cần thiết để sửa đổi, bổ sung[5]. Đặc biệt, một số quy định về hoạt động giám sát trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước cũng đã có ở nhiều văn bản khác nhau nhưng còn trùng lắp, chưa cụ thể và chưa có hệ thống. Quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các ngành, các cấp, các tổ chức chịu sự giám sát của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước chưa được quy định rõ ràng, nên việc tổ chức thực hiện còn hạn chế.

2. Hoạt động của các Đoàn giám sát chung về lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước được tiến hành trong khoảng thời gian rất ngắn, nội dung còn dàn trải, chủ yếu là nghe các báo cáo của cơ quan được giám sát. Do đó, điều kiện và các yếu tố cần thiết để phân tích, nhận định, kết luận cụ thể về các vấn đề được giám sát chưa thoả đáng, nên có một số kiến nghị trong quá trình giám sát chưa có đủ căn cứ, chưa có sức thuyết phục và tính khả thi cao.

3. Công tác phục vụ các cơ quan của Quốc hội trong việc lập kế hoạch, tổ chức lực lượng giám sát, đặc biệt là việc theo dõi nắm tình hình không thường xuyên, không sâu sát, cũng như việc theo dõi, đôn đốc  các cơ quan hữu quan tiếp nhận nghiên cứu, giải quyết và phúc đáp các kiến nghị hoặc phối hợp với nhau cùng giải quyết các kiến nghị qua giám sát và trong thực tế các cơ quan Nhà nước cũng chưa thực sự quan tâm đúng mức, thường xuyên nên hiệu lực và hiệu quả giám sát bị hạn chế.

4. Cơ cấu các cơ quan của Quốc hội và cơ quan phục vụ công tác giám sát chưa đủ mạnh; số lượng các đại biểu Quốc hôi hoạt động chuyên trách còn hạn chế, cơ chế, phương tiện, điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội còn nhiều bất cập. Đội ngũ chuyên gia phục vụ chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng giám sát. Điểm yếu hiện nay là trình độ và khả năng phân tích kinh tế và ngân sách của cán bộ còn thấp, trình độ phản biện còn hạn chế.

5. Chưa có được một cơ chế giám sát thống nhất để bảo đảm cho công tác giám sát của các cơ quan của Quốc hội có tính hệ thống, tính chuyên nghiệp cao, kể cả bộ máy phục vụ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; thiếu cơ chế phối hợp giữa các cơ quan Quốc hội với Hội đồng nhân dân các cấp trong công tác giám sát về lĩnh vực kinh tế và ngân sách.

2.3  Các  yêu cầu tiếp tục tăng cường và đổi mới công tác giám sát của Quốc hội nói chung, của Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách nói riêng nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã khẳng định tại Hội nghị công tác giám sát 6 tháng đầu năm 2005 là “Chúng ta xác định rõ rằng, mục đích giám sát của Quốc hội là xây dựng và thúc đẩy, ngoài ra không có mục đích nào khác. Giám sát là để phát huy cái mạnh, khắc phục cái yếu, để góp phần làm cho Bộ trưởng mạnh lên, Chính phủ mạnh lên, các cơ quan tư pháp mạnh lên, Quốc hội mạnh lên, cả hệ thống chính trị của chúng ta mạnh lên. Nhận thức này ảnh hưởng chi phối đến hiệu quả hoạt động của cả bộ máy chứ không riêng hoạt động giám sát và chất vấn. Đối với Nhà nước ta, mâu thuẫn nội tại là mâu thuẫn giữa yếu kém với yêu cầu phát triển, giữa tiêu cực với yêu cầu lành mạnh, nếu không đấu tranh giải quyết mâu thuẫn thì Nhà nước không phát triển; giám sát là một hình thức đấu tranh cần thiết cho yêu cầu này”

Với tư tưởng chỉ đạo trên, chúng tôi cho rằng, cần thống nhất về nhận thức vị trí, vai trò của Quốc hội trong hoạt động giám sát theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội cần xây dựng cơ chế giám sát bảo đảm thiết thực  và có hiệu quả; tăng cường các cơ quan tham mưu giúp việc đủ mạnh, phân tích hoạt động kinh tế và ngân sách. Các cơ quan Trung ương, địa phương chịu sự  giám sát phải nghiêm túc nghiên cứu,  tiếp thu các kiến nghị của các cơ quan của Quốc hội.

 

III. Một số giải pháp để nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát trong lĩnh vực kinh tế – xã hội và ngân sách nhà nước.

Trên cơ sở đánh giá những mặt tiến bộ, tích cực, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động giám sát, để tăng cường nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của các cơ quan Quốc hội nói chung, của Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội nói riêng. Theo chúng tôi, cần thực hiện các giải pháp chủ yếu sau đây:

3.1. Bảo đảm sự đồng bộ của hệ thống pháp luật để làm cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động giám sát nói chung và giám sát trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách  nhà nước nói riêng.

 + Cần tiếp tục nghiên cứu và cụ thể hoá những quy định của pháp luật về hoạt động giám sát; quy định cụ thể về quyền hạn, trách nhiệm của chủ thể giám sát, đối tượng chịu sự giám sát và đặc biệt là chủ thể giải quyết những kiến nghị qua hoạt động giám sát, các chế tài bảo đảm hiệu lực của giám sát. Những văn bản pháp luật đơn hành về lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước cũng cần ghi rõ các nội dung giám sát, chế tài về hoạt động giám sát trong từng lĩnh vực ở các Bộ, ngành, địa phương để nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tổ chức thực hiện.

+ Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung những văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, định mức, tiêu chuẩn, chính sách hiện hành chưa phù hợp hoặc không còn phù hợp với thực tế, thậm chí còn mâu thuẫn với nhau, tạo cơ sở pháp lý vững chắc và thực sự tin cậy cho hoạt động giám sát, đưa ra được kết luận về việc đúng, việc sai và kiến nghị xác đáng.

3.2. Cần lựa chọn nội dung, hình thức và đối tượng giám sát phù hợp với Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội và ngân sách nhà nước hàng năm và trong từng thời kỳ, đặc biệt là các chương trình giám sát theo chuyên đề, bởi đây là hình thức giám sát có chất lượng và hiệu quả cao. Muốn vậy, phải chú trọng tới các nội dung sau đây:

+ Việc xây dựng kế hoạch giám sát vừa bảo đảm toàn diện, vừa phải bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội và dự toán ngân sách nhà nước hàng năm; kết hợp giữa hình thức giám sát chung với giám sát chuyên đề và giám sát đột xuất. Tăng cường hoạt động giám sát tại các Bộ, ngành (tổng hợp và kinh tế-kỹ thuật); việc tổ chức hoạt động giám sát tại các địa phương và doanh nghiệp cũng cần lựa chọn nội dung  cần thiết đối với từng ngành, từng vùng và địa phương.

+ Tăng cường mối quan hệ chặt chẽ thông qua việc các Bộ, ngành, địa phương gửi  báo cáo định kỳ hàng quý, 6 tháng và cả năm về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã hội và ngân sách nhà nước thuộc Bộ, ngành, địa phương quản lý và tổ chức tốt việc theo dõi, tổng hợp, phân tích và đề xuất kiến nghị trong các báo cáo trên.

+ Cải tiến cách thức làm báo cáo kết quả giám sát theo hướng lựa chọn tập trung vào những vấn đề tồn tại và kiến nghị những vấn đề cấp bách, quan trọng, liên quan trực tiếp tới đối tượng chịu sự giám sát và việc thực hiện các cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước, tránh sa đà vào việc nhắc lại  tình hình chung. Kiến nghị phải có căn cứ, sát thực tiễn và  có tính khả thi.

+ Quan tâm đúng mức tới các kênh  thông tin  về tình hình kinh tế- xã hội và ngân sách nhà nước hàng năm qua các phương tiện thông tin đại chúng; qua các báo cáo công tác giám sát của các Ban kinh tế- ngân sách của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; qua ý kiến của cử tri trong cả nước; qua phát hiện vấn đề trong quá trình hoạt động của các đại biểu Quốc hội ở địa phương, ngành mình công tác..., bởi vì đây là những kênh thông tin quan trọng, giúp cho việc tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội trong toàn bộ đời sống kinh tế-xã hội.

3.3. Bảo đảm đồng bộ các điều kiện để thực hiện có chất lượng và hiệu lực các khâu trong công tác giám sát về lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước, đặc biệt là khâu bảo đảm cung cấp thông tin và tiếp thu, xử lý kiến nghị.

Vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả  của hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước là các Bộ, ngành, địa phương tổ chức tốt các điều kiện để bảo đảm cho các Đoàn giám sát thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt là cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin và tiếp thu, xử lý kịp thời những kiến nghị đúng đắn  của các Đoàn công tác giám sát của Quốc hội. Có thể nói việc tiếp thu, xử lý tốt các kiến nghị đúng đắn, hợp lý qua hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội về lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước là vấn đề mấu chốt, có ý nghĩa quyết định  trong việc nâng cao hiệu quả và hiệu lực giám sát của Quốc hội. Cùng với việc cải tiến phương thức giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước, Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đề cao tinh thần trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu, thủ trưởng các cơ quan, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ  tiếp thu, nghiên cứu, giải quyết các kiến nghị về cơ chế, chính sách trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước, quan tâm đến việc giải quyết những kiến nghị đúng đắn, hợp lý qua hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Quá trình giải quyết các kiến nghị phải được tiến hành thường xuyên không chỉ trong thời gian chuẩn bị họp Quốc hội hoặc trong kỳ họp Quốc hội mà ngay cả khi Quốc hội không họp. Các cơ quan hữu quan cần coi trọng giám sát của Quốc hội trong nhận thức và điều hành, coi những kiến nghị qua hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội là những yêu cầu quan trọng, góp phần vào việc thúc đẩy quá trình thực thi các cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước, Nghị quyết của Quốc hội trong đời sống kinh tế-xã hội. Chúng tôi cho rằng, nếu làm tốt công tác này, sẽ góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động không chỉ của các cơ quan Quốc hội về chức năng giám sát trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước, mà còn đối với nhiều khâu trong hệ thống bộ máy Nhà nước ta hiện nay.

3.4.  Cần tăng cường vai trò điều hoà, phối hợp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đối với HĐDT và các Uỷ ban của Quốc hội; vai trò hướng dẫn đối với các Đoàn ĐBQH và HĐND các cấp trong công tác giám sát về lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước tại các Bộ, ngành và địa phương theo một kế hoạch và quy trình hợp lý. Muốn vậy, phải xây dựng chương trình kế hoạch hoạt động thống nhất về giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội. Quy trình giám sát phải được quy định thành quy chế, bảo đảm đầy đủ cơ sở pháp lý để thực hiện. Cần quy định những giai đoạn cụ thể và nội dung  công việc cần thực hiện trong từng giai đoạn, đặc biệt là giai đoạn chuẩn bị kế hoạch, tổ chức lực lượng  đi giám sát, những hoạt động cụ thể trong thời gian giám sát, xây dựng báo cáo giám sát, gửi các báo cáo giám sát và theo dõi việc xử lý, giải quyết các kiến nghị qua giám sát. Phải có quy định cụ thể về quy trình tiến hành giám sát theo các khâu công việc nói trên. Mỗi bước công việc trong từng khâu phải bảo đảm cả về mặt tổ chức và nội dung; đặc biệt cần có tổ chức theo dõi sát việc xử lý, giải quyết các kiến nghị qua giám sát. Bởi vì đây chính là sự phản ánh kết quả, hiệu quả qua hoạt động giám sát nói chung.

3.5. Cần tiếp tục tăng cường về tổ chức của Quốc hội và bộ máy giúp việc của Quốc hội, đặc biệt chú trọng tới việc nâng cao năng lực phân tích về kinh tế- ngân sách, để giúp các cơ quan của Quốc hội nói chung và Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách nói riêng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát về  lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước.

Để tăng cường công tác giám sát của các cơ quan của Quốc hội trong phê chuẩn Tổng quyết toán ngân sách nhà nước, cần nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan Kiểm toán nhà nước trên cơ sở Luật Kiểm toán Nhà nước (có hiệu lực từ 1.1.2006). Đồng thời, nghiên cứu thành lập Cơ quan (Viện) phân tích kinh tế-xã hội và ngân sách của Quốc hội. để góp phần vào việc nâng cao hiệu quả của hoạt động giám sát của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước. Thực hiện Luật Kiểm toán Nhà nước, Uỷ ban kinh tế và ngân sách cần tăng cường mối quan hệ chặt chẽ với cơ quan Kiểm toán nhà nước, đồng thời cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa với Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội trong việc thẩm tra dự toán ngân sách nhà nước cũng như Tổng quyết toán ngân sách nhà nước ở lĩnh vực thuộc Hội đồng và mỗi Uỷ ban phụ trách.

Tóm lại: Việc tăng cường hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của  Quốc hội về lĩnh vực kinh tế và ngân sách có vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc giúp Quốc hội thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình theo luật định. Hoạt động giám sát được nâng cao về mặt chất lượng cũng là điều kiện quan trọng để giúp Quốc hội thực hiện các chức năng lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Các cơ quan của Quốc hội có vai trò rất quan trọng trong việc giúp Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao của mình về lĩnh vực kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước.

 

[1]  Quốc hội Khoá XI đã ban hành khá nhiều Nghị quyết thể hịên quỳền giám sát tối cao trong lĩnh vực KT&NS: Nghị quyết về nhịêm vụ KT-XH hàng năm; Nghị quyết về dự toán NSNN, Nghị quyết về phân bổ NSTW hàng năm; Nghị quyết phê chuẩn quyết toán NSNN; Nghị quyết về công tác đầu tư XDCB sử dụng vốn Nhà nước…  

[2] Trong thời kỳ ổn định NSĐP (2004-2006), Uỷ ban TVQH đã ban hành Nghị quyết số 423/UBTVQH ngày 12/11/2003 về tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.

[3]  Ví dụ: UBTVQH (Khoá XI) đã tổ chức giám sát các chuyên đề trong lĩnh vực kinh tế và NSNN: “Việc Thực hiện quy hoạch, kế hoạch đầu tư theo ngành và vùng lãnh thổ trong cả nước, kết quả khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, tình hình nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, hiệu quả thấp và chống thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản”; “Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển nông nghịêp và kinh tế nông thôn từ 2001-2005”.

[4] Nhằm khắc phục hạn chế này, Luật Kiểm toán Nhà nước đã được Quốc hội Khóa XI thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, theo đó Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành lập và hoạt động độc lập, chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật.

[5]  Phát biểu kết luận của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An tại Hội nghị tổng kết công tác giám sát 6 tháng đầu năm 2005.

   

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện