|
VÌ MỘT QUỐC HỘI THẬT SỰ ĐẠI DIỆN CHO DÂN
Võ Văn Kiệt
Nguyên Thủ tướng Chính phủ
60 năm đã trôi qua kể từ khi cuộc Tổng tuyển
cử đầu tiên của đất nước ta được tổ chức
thành công ngày 6 tháng 1 năm 1946. 60 năm
cũng là lịch sử hình thành và phát triển của
Quốc hội nước ta. Có biết bao nhiêu cố gắng
và thành quả đã đạt được trong 60 năm ấy!
Trước hết, điều mà ai cũng nhận thấy là Quốc
hội của chúng ta đang hoạt động ngày càng
thực quyền hơn, do đó ngày càng có
hiệu quả. Điều này, một mặt, đang làm cho
các quyết sách của đất nước được xem xét,
cân nhắc kỹ càng hơn, khách quan hơn; mặt
khác, làm cho chế độ trách nhiệm được xác
lập rõ ràng hơn trong hệ thống.
Thực ra, ít khi tồn tại những thứ quyết sách
tốt chung chung. Chẳng hạn: Chính sách cấm
nhập khẩu các mặt hàng đã sản xuất được
trong nước nếu tốt cho các nhà sản xuất, thì
lại ít tốt cho những người tiêu dùng. Chính
sách lương bổng và phúc lợi lao động cao là
tốt cho những người lao động, thì lại ít tốt
cho các nhà kinh doanh. Vấn đề đặt ra là bao
giờ chúng ta cũng phải cân đối được các lợi
ích và sửa đổi được chính sách kịp thời theo
đòi hỏi của cuộc sống. Quốc hội với tư cách
là cơ quan đại diện cho toàn thể mọi tầng
lớp nhân dân là công cụ quan trọng bậc nhất
để bảo đảm phép cân đối nói trên, cũng như
để nhận biết chính xác một chính sách đang
tác động tới đời sống của quảng đại quần
chúng như thế nào. Đây thực chất là việc gắn
chức năng đại diện với chức năng lập pháp và
chức năng quyết định các vấn đề quan trọng
của đất nước. Thời gian qua, Quốc hội đã bảo
đảm được ngày càng tốt hơn sự gắn kết này.
Đối với một nền quản trị quốc gia hiện đại,
chế độ trách nhiệm là đòi hỏi quan trọng
hàng đầu. Bằng việc tăng cường hoạt động
giám sát, đặc biệt là hoạt động chất vấn,
Quốc hội đang làm rõ được nhiều nội dung hết
sức quan trọng liên quan đến chế độ trách
nhiệm nói trên. Nội dung quan trọng thứ nhất
là xem xét các quan chức đang được giao
quyền đã thực thi quyền lực của mình như thế
nào. Nội dung quan trọng thứ hai là việc họ
đáng được tín nhiệm đến đâu. Cho dù công cụ
pháp lý quan trọng nhất là bỏ phiếu tín
nhiệm vẫn chưa bao giờ được Quốc hội sử dụng
đến, nhưng riêng việc Quốc hội có quyền sử
dụng công cụ này cũng đã có giá trị răn đe
rất lớn.
Trong bất cứ trường hợp nào, những điều
chúng ta cần phải khẳng định:
Một là,
nếu thiếu một sự giám sát có hiệu quả của
Quốc hội, sẽ rất khó có thể xác lập được chế
độ trách nhiệm đối với các vấn đề ở tầm
chính sách.
Hai là,
hoạt động lập pháp được tăng cường cũng là
một thành tựu cần được ghi nhận. Thời gian
qua, một số lượng rất lớn các văn bản pháp
luật cần thiết cho việc xây dựng kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế đã được Quốc hội
thông qua. Hiện nay, tại một kỳ họp, Quốc
hội đã có thể thông qua được từ 10-15 dự
luật. Đây là một khối lượng văn bản rất lớn
mà trước đây phải cần ít nhất 3 năm, thậm
chí cả chục năm mới thông qua được. Tuy
nhiên, sự đổi mới được thể hiện không chỉ về
mặt số lượng, mà còn cả về mặt chất lượng.
Chất lượng này được bảo đảm một phần là nhờ
vào việc lắng nghe và tiếp thu ý kiến của
nhân dân trong quá trình làm luật. Việc Quốc
hội xem xét, thông qua dự Luật đầu tư
(chung) trong kỳ họp thứ 8 vừa rồi là một ví
dụ điển hình. Chưa bao giờ lại có một sự
tương tác sôi nổi như vậy giữa những người
dân, những nhà doanh nghiệp với các cơ quan
của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội. Thông
qua sự tương tác và quá trình tham vấn này,
nhiều điều khoản trong dự luật đã được bổ
sung sửa đổi cho phù hợp hơn với nhu cầu của
cuộc sống.
Ba là,
dân chủ được tăng cường trong các hoạt động
của Quốc hội. Nếu trước đây, các đại biểu
Quốc hội đều chỉ đọc tham luận là chính (và
các bản tham luận như vậy cũng thường được
xem xét trước), thì ngày nay các đại biểu đã
tranh luận thật sự và thẳng thắn về mọi
quyết sách được đưa ra xem xét ở nghị
trường. Những tranh luận như vậy đã góp
phần làm cho đời sống nghị trường trở nên
sống động hơn và hấp dẫn hơn đối với các
phương tiện truyền thông, cũng như đối với
các tầng lớp nhân dân. Cũng cần nhấn mạnh
rằng, các phương tiện kỹ thuật như hệ thống
biểu quyết điện tử, hệ thống micrô phát biểu
tại chỗ đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho
các sinh hoạt dân chủ ở nghị trường. Đồng
thời, việc truyền hình trực tiếp các phiên
chất vấn, việc bình luận, đưa tin của báo
chí về các hoạt động của Quốc hội cũng đóng
góp rất lớn vào tiến trình dân chủ nói trên.
Như vậy, những thành tựu đạt được là hết sức
to lớn, tuy nhiên những thách thức đang đặt
ra cho Quốc hội trong giai đoạn mới cũng to
lớn không kém.
Thách thức thứ nhất là khả năng đại diện cho
nhân dân
Với cơ chế thị trường và nền kinh tế nhiều
thành phần đang từng bước được củng cố và mở
rộng, nhiều thay đổi hết sức to lớn đã diễn
ra trong đời sống của xã hội ta. Các thay
đổi này bắt buộc phải được phản ánh về mặt
chính trị. Các cơ quan đại diện, mà trước
hết là Quốc hội đóng vai trò quan trọng hàng
đầu trong việc phản ánh này.
Tuy nhiên, theo Luật Tổ chức Quốc hội, Quốc
hội nước ta chỉ có 3 chức năng là: Chức năng
lập pháp; chức năng quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước; chức năng giám sát,
mà không có chức năng đại diện. Thông
thường, đã là một cơ quan do nhân dân bầu ra
thì chức năng đầu tiên phải là chức năng đại
diện. Đây cũng là chức năng đầu tiên và quan
trọng nhất của nghị viện ở hầu hết tất cả
các nước trên thế giới. Và bản chất dân chủ
của chế độ thể hiện trước hết ở chức năng
này.
Một số học giả cho rằng đại diện là tính
chất của Quốc hội vì vậy không nhất thiết
phải triển khai thực hiện chức năng đại
diện. Điều này thực ra chỉ là một mong muốn
hơn là một thực tế. Có một vài lý do làm
chúng ta băn khoăn về nhận định nói trên.
Một là, cơ cấu, thành phần của các vị đại
biểu Quốc hội hoàn toàn không phản ánh cơ
cấu thành phần của các giai tầng xã hội. Nếu
cơ cấu xã hội khác với cơ cấu của các đại
biểu Quốc hội thì làm sao Quốc hội có thể
đương nhiên có tính đại diện được. Tuy
nhiên, ai cũng có thể nhận thấy một sự phản
ánh cứng nhắc cơ cấu của xã hội chưa chắc đã
hợp lý. Ví dụ, nước ta có đến 75% dân số là
nông dân, thế nhưng đòi hỏi phải có 75% các
đại biểu QH là nông dân thì chắc là không
nên.
Hai là, một đại biểu xuất thân từ một tầng
lớp xã hội nào đó thì không đương nhiên hiểu
hết các vấn đề và các nhu cầu của tầng lớp
đó nếu không có sự tiếp xúc, tham vấn thường
xuyên với họ. Mà tiếp xúc, tham vấn lại
chính là các hoạt động cụ thể của chức năng
đại diện.
Trên thực tế, nếu chức năng đại diện không
vận hành thì các chức năng lập pháp, quyết
định và giám sát cũng có thể vận hành sai,
vì ý chí của nhân dân, lợi ích của nhân dân
sẽ khó có thể phản ánh được đúng đắn trong
các quyết sách của Quốc hội. Ví dụ, Luật đất
đai đã được ban hành và được sửa đổi nhiều
lần. Tuy nhiên, những khiếu kiện về đất đai
vẫn không hề giảm chứng tỏ những quan tâm và
mắc mớ của những người dân đã không được xử
lý thoả đáng trong quá trình làm luật.
Mặc dù, xuân thu nhị kỳ trước và sau các kỳ
họp, các vị đại biểu của nước ta đều tiếp
xúc cử tri (một hình thức hoạt động cụ thể
của chức năng đại diện), thế nhưng các cuộc
tiếp xúc cử tri này đang bị dư luận xã hội
coi là hình thức. Trong nhiều trường hợp,
tham dự các cuộc tiếp xúc như vậy chủ yếu
chỉ là các đại cử tri (các cử tri là cán bộ
cơ sở). Với cách thức tiếp xúc cử tri như
vậy thì các vị đại biểu Quốc hội chỉ nghe
được ý kiến của cán bộ là chính chứ không
hẳn là ý kiến của nhân dân. Có thể, các cuộc
tiếp xúc với đại cử tri đã góp phần không
nhỏ tạo ra áp lực chung thúc đẩy quá trình
hành chính hóa đời sống cơ sở và ở cấp cộng
đồng trên đất nước ta. Hiện nay, chúng ta đã
biến hầu hết cán bộ cơ sở thành các quan
chức hành chính. Nếu trước đây, ở cấp xã chỉ
có từ 5-7 quan chức, thì hiện nay số quan
chức hưởng lương hoặc phụ cấp từ ngân sách
đã lên tới hàng trăm (khoảng 200 người).
Trong lúc đó, tự nguyện và tự quản lại là
một số trong những nguyên tắc quan trọng
nhất của việc tổ chức đời sống xã hội ở cấp
cơ sở.
Một trong những biểu hiện dễ cảm nhận nhất
của tình trạng chức năng đại diện không vận
hành là việc đa số cử tri (kể cả tất cả
chúng ta ngồi đây) ít ai nhớ được tên đại
biểu của mình, và ít ai biết được cách tiếp
xúc với đại biểu của mình để đề đạt tâm tư,
nguyện vọng và yêu cầu giúp đỡ.
Để thực hiện tốt chức năng đại diện, đòi hỏi
các vị đại biểu Quốc hội phải có động lực để
đại diện và có trình độ, có năng lực để đại
diện. Cả động lực để đại diện, cả trình độ
và năng lực để đại diện đều đang có vấn đề.
Trước hết, trong chế độ "Đảng cử, dân bầu",
thì "Đảng cử" mới là yếu tố có ý nghĩa quyết
định, mà như vậy động lực phải tận tụy với
Đảng bao giờ cũng áp đảo. Hậu quả tiếp theo
là chế độ trách nhiệm trước dân rất khó được
xác lập. Ngoài ra, lợi ích như một yếu tố
tạo ra động lực cũng không xác lập được.
Chúng ta đã cố gắng nâng lương cho các vị
đại biểu chuyên trách, nhưng cách làm này về
cơ bản vẫn không giải quyết được vấn đề. Lý
do là vì trong hệ thống của chúng ta, lương
và thu nhập là hai chuyện khác nhau. Phải
nhìn thẳng vào sự thật là các chức vụ điều
hành thường có thu nhập cao hơn lương rất
nhiều lần, thế nhưng các chức vụ dân cử khó
lòng có được một thu nhập như vậy. Theo quy
luật tự nhiên, những việc có thu nhập cao
hơn thì thu hút được nhiều người giỏi hơn.
Mà như vậy thì thu hút được nhiều người giỏi
về Quốc hội là điều không dễ.
Chế độ "Đảng cử, dân bầu" còn ảnh hưởng tiêu
cực đến khả năng đại diện cho dân của Quốc
hội bởi một hệ quả khác. Đó là tình trạng
"Đảng cử" những thành viên của mình vào Quốc
hội quá nhiều. Hiện nay, tỷ lệ đảng viên ở
trong Quốc hội chiếm đến trên dưới 90%
(447/498). Trong lúc đó, các đảng viên chỉ
chiếm khoảng 5-6% trong tổng số cử tri trong
cả nước. Trong những nhiệm kỳ vừa qua chúng
ta đã cố gắng nâng cao tỷ lệ các vị đại biểu
ngoài đảng ở trong Quốc hội. Rất tiếc, cố
gắng này không mấy thành công. Cụ thể là tỷ
lệ các vị đại biểu ngoài đảng vẫn có xu thế
ngày càng giảm. Một hiện tượng khác đáng
được lưu tâm là một số đại biểu ngoài đảng
tự ứng cử và được bầu vào Quốc hội, nhưng
sau một vài năm lại được kết nạp vào Đảng.
Hiện tượng này càng làm cho tỷ lệ các đại
biểu ngoài đảng nói trên giảm xuống.
Để bảo đảm một tỷ lệ hợp lý các đại biểu là
người ngoài đảng, điều quan trọng là phải
giới thiệu được nhiều hơn ứng cử viên là
người ngoài đảng và giảm số ứng cử viên là
đảng viên xuống. Thực ra, số đại biểu Quốc
hội là người ngoài đảng chiếm một tỷ lệ bao
nhiêu là hợp lý? Con số này, có lẽ, cần được
tính toán cụ thể cho từng thời kỳ. Tuy
nhiên, một đảng cầm quyền chỉ cần có được
một đa số trên 50% số ghế ở trong Quốc hội
là đủ.
Ngoài ra, thực tế còn cho thấy quá nhiều cán
bộ cao cấp của Đảng tham gia làm đại biểu
Quốc hội là không thật hợp lý. Ví dụ, 1/3
thời gian của đa số các đồng chí uỷ viên Bộ
chính trị (khoá này, chỉ có một uỷ viên BCT
không phải là đại biểu Quốc hội) đang phải
bỏ ra cho các kỳ họp Quốc hội và các hoạt
động khác của Quốc hội không biết có thật
hợp lý hay không? Thực tế, nếu các đồng chí
này tham gia phát biểu thì các ý kiến đó rất
dễ bị coi là ý kiến chỉ đạo. Mà như vậy thì
rất khó cho việc thảo luận, tranh luận một
cách dân chủ, cởi mở, thẳng thắn ở Quốc hội.
Thế nhưng, nếu các đồng chí đó chỉ ngồi nghe
mà không tham gia vào công việc thì đúng là
rất lãng phí thời gian. Điều tương tự cũng
có thể nói về các đồng chí vừa là uỷ viên
Trung ương, vừa là Bí thư tỉnh uỷ, vừa là
Chủ tịch Hội đồng nhân dân lại vừa là đại
biểu Quốc hội. Những đồng chí như vậy thì
họp hành quanh năm ngày tháng chẳng còn thời
gian để làm một việc gì khác cả. Mà như vậy
thì cũng giống như việc "chuồn chuồn đạp
nước", khó có thể tập trung làm tốt được
bất kỳ một việc gì. Ngoài ra, đã kiêm nhiện
thì cũng khó tham gia đầy đủ các phiên họp
của Quốc hội. Điều này giải thích tại sao
không ít các phiên họp của Quốc hội lại vắng
nhiều đại biểu đến thế.
Một tỷ lệ lớn các vị đại biểu Quốc hội kiêm
chức vụ hành chính cũng ảnh hưởng không nhỏ
đến hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Việc
kiêm nhiệm chức vụ hành chính không chỉ làm
cho các vị đại biểu bị quá tải, mà còn dẫn
đến tình trạng xung đột lợi ích. Các vị đại
biểu kiêm chức hành chính chỉ có 30% thời
gian làm đại biểu, nhưng 70% thời gian làm
quan chức hành chính. Với tư cách là các
quan chức hành chính, phần nhiều các vị đại
biểu này là cấp dưới của Thủ tướng, Phó thủ
tướng, các vị Bộ trưởng. Đã là cấp dưới thì
giám sát cấp trên sẽ rất khó. Lợi ích của
các vị đại biểu này xung đột với việc triển
khai có hiệu quả chức năng giám sát. Giám
sát tốt thì sẽ ít có lợi hơn là không giám
sát. Phê phán Bộ trưởng thì khó lòng mà được
thăng quan tiến chức trong ngành.
Muốn vượt qua sự xung đột lợi ích này, chúng
ta cần có có một Quốc hội chuyên nghiệp. Về
cơ bản đã làm đại biểu thì thôi không làm
các quan chức hành chính nữa (trừ các chức
danh thuộc hành pháp chính trị như Thủ
tướng, Phó thủ tướng và một số Bộ trưởng).
Việc lựa chọn các đại biểu có năng lực về
làm việc ở Quốc hội nhiều khi rất khó khăn
còn vì lý do cơ cấu. Nhiều đại biểu phải
gánh rất nhiều cơ cấu vì vậy có khi cả tỉnh
cũng chỉ tìm được một hai người đáp ứng được
các đòi hỏi về cơ cấu. Mà như vậy thì chất
lượng đại biểu bắt buộc phải bị bỏ qua.
Chúng ta đã nói nhiều về sự xung đột giữa
chất lượng đại biểu và cơ cấu đại biểu. Thế
nhưng, câu trả lời vẫn chưa tìm được. Có lẽ,
chỉ nên thực hiện nguyên tắc cơ cấu ở những
định hướng chung nhất, mà chủ yếu là phải mở
rộng khả năng tranh cử để có thể lựa chọn
được những người tài cho cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất. Tất nhiên, cần phải bảo
đảm được cho nhân dân ngày một nhiều hơn
quyền lựa chọn này. Khi người dân có quyền
lựa chọn nhiều hơn thì chế độ trách nhiệm
trước dân cũng dễ xác lập hơn.
Muốn vận hành chức năng đại diện, các đại
biểu phải giữ quan hệ với những cử tri đã
bầu ra mình và làm tất cả để có được sự ủng
hộ của các cử tri đó. Như vậy, các đơn vị
bầu cử phải tồn tại song song với các đơn vị
chính trị của đất nước, chứ không chỉ xuất
hiện trong thời gian bầu cử rồi sau đó biến
mất. Một đất nước chỉ có các đơn vị hành
chính mà không có các đơn vị chính trị thì
dân chủ sẽ rất khó phát huy, và đời sống
chính trị của đất nước cũng khó có thể năng
động được.
Thách thức thứ hai là tính chất chồng chéo
của các mối quan hệ đại diện ở trong Quốc
hội.
Nước ta là một trong rất ít nước (ngoài ra
còn có nước Lào, nhưng Lào cũng chỉ học tập
kinh nghiệm của ta) chia Quốc hội ra thành
các Đoàn đại biểu Quốc hội theo đơn vị
tỉnh/thành. Việc chia Quốc hội ra thành các
Đoàn đại biểu Quốc hội và việc mỗi tỉnh lại
còn có 1 đại biểu chuyên trách đang biến
Quốc hội nước ta thành một cơ quan đại diện
song trùng: Vừa đại diện cho cử tri cả nước,
vừa đại diện cho các đơn vị hành chính tỉnh.
Cách tổ chức cơ quan lập pháp theo cách này
có hai rủi ro:
Một là,
khi có xung đột lợi ích giữa trung ương và
địa phương thì địa phương thường giành phần
thắng ở Quốc hội (nếu như kỷ luật Đảng không
áp đặt được). Việc các địa phương đã giành
được quyền có đại biểu chuyên trách của mình
trong tổng số 25% đại biểu chuyên trách của
cả Quốc hội cho thấy rất rõ xu thế nói trên.
Hai là,
xảy ra xung đột lợi ích khi đại biểu chuyên
trách của tỉnh muốn giám sát (chất vấn) các
bộ trưởng. Các tỉnh sẽ không cho phép đại
biểu của mình làm hỏng quan hệ tốt đẹp của
tỉnh với các bộ trưởng vì các dự án của tỉnh
có thể bị ảnh hưởng. Việc một số đại biểu
chuyên trách của địa phương đã được nhắc nhở
vừa qua cho thấy rất rõ hiện tượng này.
Thách thức thứ ba là tính chuyên nghiệp của
Quốc hội.
Thực ra, một đất nước với 82 triệu dân hoàn
toàn xứng đáng có được một Quốc hội chuyên
nghiệp. Thông thường công việc càng khó khăn
thì càng đòi hỏi trình độ chuyên nghiệp cao.
Làm đại biểu Quốc hội là một trong những
công việc như vậy. Thế nhưng, đa số các vị
đại biểu (trên 75%) hoạt động theo chế độ
kiêm nhiệm hay cũng có thể gọi là theo chế
độ nghiệp dư. Hoạt động nghiệp dư thì rất
khó thạo việc.
Muốn có một Quốc hội chuyên nghiệp phải có
các vị đại biểu chuyên nghiệp. Và chỉ hoạt
động chuyên nghiệp thì các đại biểu mới có
đủ thời gian để thực hiện chức năng đại
diện. Thực ra, không tiếp xúc thường xuyên
với cử tri, không tham vấn cử tri về những
quyết sách mà Quốc hội đang xem xét thì khó
có thể phản ánh được lợi ích của cử tri (và
cũng rất khó nắm sâu được chính sách). Hiện
nay, chúng ta đã có gần 25% các đại biểu
chuyên trách. Chuyên trách và chuyên nghiệp
là hai chuyện khác nhau. Thế nhưng, không
chuyên trách thì không có điều kiện thời
gian và điều kiện tích luỹ kinh nghiệm để
trở thành chuyên nghiệp.
Theo xu hướng chuyên nghiệp hoá, sắp tới số
lượng các vị đại biểu chuyên trách cần phải
được tăng cường. Nếu chúng ta vẫn muốn việc
cải cách chính trị phải được thực hiện từng
bước một, thì ít nhất tất cả các thành viên
của các ủy ban đều phải hoạt động theo chế
độ chuyên trách.
Tính chuyên nghiệp còn thể hiện ở cách thức
tổ chức và điều hành công việc của Quốc hội.
Quốc hội là cơ quan hoạt động theo chế độ
hội nghị và quyết định theo đa số. Tất cả
các vị đại biểu đều ngang quyền và có một lá
phiếu như nhau. Không biểu quyết thì Quốc
hội không quyết định được, cũng như không
biểu hiện được ý chí của mình. Với một tính
chất như vậy, công việc của Quốc hội phải
được tổ chức theo những nguyên tắc khác hẳn
với của các cơ quan hành chính. Cơ bản nhất
là công việc Quốc hội phải được tổ chức như
thế nào để tất cả các vị đại biểu đều có thể
thực thi được quyền của mình.
Để đạt được sự chuyên môn hóa sâu như vậy,
có một vấn đề là bộ máy của các ủy ban tại
Quốc hội. Bên Chính phủ, một Bộ, hoặc bên
Đảng, một Ban thường có một đội ngũ cán bộ
chuyên môn rất đông, có những trung tâm,
những viện nghiên cứu. Ngoài ra, các Bộ bên
Chính phủ và các Ban bên Đảng còn có quyền
huy động các Viện và các Trung tâm nghiên
cứu khác tham gia nghiên cứu một số chuyên
đề. ở các nước khác, các tiểu bang của Quốc
hội cũng làm như vậy, nhưng ở Việt Nam, đã
mấy khi Quốc hội có đủ quyền lực và phương
tiện để huy động được một đội ngũ như thế?
Nhưng nếu không có được một đội ngũ chuyên
môn phục vụ cho những chuyên đề nghiên cứu,
thì làm sao Quốc hội có đủ căn cứ để thẩm
định và đánh giá những việc của Chính phủ?
Sự bất cập hiện nay có nhiều lý do, nhưng
đây là một trong số những lý do. Thiết nghĩ,
không phải những công việc của Quốc hội hoàn
toàn chỉ do những đại biểu Quốc hội làm và
thành viên của các ủy ban trong Quốc hội
thực hiện. Hơn bất cứ cơ quan trung ương
nào, Quốc hội cần và có thể là cơ quan có
một hệ thống chân rết rộng hơn, sâu hơn để
thực hiện những chức năng của mình. Đó chính
là điều cũng cần nghiên cứu để giải quyết.
Ngoài ra, do các cơ quan của Chính phủ
chuyên môn hoá rất sâu, nên các cơ quan của
Quốc hội cũng phải có một sự chuyên môn hoá
ít nhiều tương tự. Một hệ thống uỷ ban
chuyên sâu là rất quan trọng để nâng cao
năng lực chuyên môn của Quốc hội. ở nhiều
nước, thông thường chính phủ có bao nhiêu bộ
thì quốc hội có bây nhiêu uỷ ban. ở ta số
lượng các uỷ ban nên bao nhiêu là vừa? Bao
nhiêu thì chúng ta cần phải cân nhắc cho phù
hợp với hoàn cảnh của Việt nam. Thế nhưng,
một uỷ ban của Quốc hội giám sát trên dưới
10 bộ như Uỷ ban kinh tế ngân sách hiện nay
là rất bất hợp lý. Sắp tới, chúng ta cần
phải chia tách một số các uỷ ban đang phụ
trách quá nhiều lĩnh vực (như Uỷ ban kinh tế
- ngân sách; Uỷ ban pháp luật; Uỷ ban các
vấn đề xã hội...) để có thể đạt được sự
chuyên môn hoá sâu hơn cho Quốc hội.
Về mặt thủ tục, cũng cần phân định rõ quy
trình xem xét các vấn đề chính sách với quy
trình xem xét các vấn đề kỹ thuật. Việc các
đại biểu đã ít đi vào thảo luận câu chữ ở
các phiên họp toàn thể là một xu hướng đúng,
được cử tri hoan nghênh. Vì rằng phiên họp
toàn thể chỉ là công cụ để xem xét về các
vấn đề ở tầm chính sách. Cho nên các vấn đề
thuộc về kỹ thuật chắc chắn phải được xử lý
ở các ủy ban. Nếu chúng ta phân chia công
việc theo cách như vậy (mà quốc hội của hầu
hết các nước đều phân chia công việc như
vậy), thì thời gian họp các phiên toàn thể
có thể rút gắn được rất nhiều. Thực ra, mặc
dù không hoạt động thường xuyên, nhưng thời
gian họp toàn thể của Quốc hội nước ta không
khéo còn nhiều hơn quốc hội các nước trên
thế giới. Trong lúc đó, họp toàn thể liên
tục sẽ rất khó khăn cho việc chuẩn bị văn
bản. Ngoài ra, các đại biểu phải ngồi họp
suốt ngày cũng rất căng thẳng.
Tính chuyên nghiệp còn thể hiện ở năng lực
thẩm định các dự luật được trình sang Quốc
hội. Tuy nhiên, điều này liên quan đến cả
quy trình lập pháp nói chung. Đây thật sự là
một vấn đề rất lớn của đất nước ta. Tuy
nhiên, vì khuôn khổ của bài viết không cho
phép, nên tôi xin được trình bày vào một dịp
khác.
Cuối cùng, việc đổi mới tổ chức và hoạt động
của Quốc hội chắc chắn phải đi theo một xu
thế chung là bảo đảm tính dân chủ ngày càng
cao hơn. Mà như vậy, thì năng lực đại diện
cho dân là vấn đề cơ bản nhất./. |