Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

Mấy suy nghĩ về hoạt động lập pháp của Quốc hội

MẤY SUY NGHĨ VỀ HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP CỦA QUỐC HỘI

(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển"

Hà Nội, 23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)

Vũ Đức Khiển

Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội.

 

Nhìn lại 60 năm qua chúng ta thấy rằng, công tác lập hiến, lập pháp của Quốc hội đã đạt được kết quả rất to lớn. Qua gần 11 khóa Quốc hội (vì Quốc hội khóa XI chưa hết nhiệm kỳ nên các số liệu sau đây tính đến ngày 31/12/2005), mặc dù đất nước ta trải qua hai cuộc kháng chiến kéo dài 30 năm nhưng Quốc hội vẫn luôn luôn thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Xét về việc thực hiện chức năng lập hiến và lập pháp thì trong 60 năm qua  Quốc hội đã thông qua 4 bản Hiến pháp đánh dấu các mốc lịch sử quan trọng của công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, cụ thể là Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Trên cơ sở 4 bản Hiến pháp này Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành được 394 bộ luật, luật, pháp lệnh (chưa kể  nghị quyết có nội dung như một văn bản quy phạm pháp luật).

Trong hệ thống pháp luật nước ta, Hiến pháp có vị trí rất quan trọng vì đây là luật gốc, luật cơ bản. Hiến pháp năm 1946 được Quốc hội khóa I thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946 là Hiến pháp khai sinh Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam á. Hiến pháp năm 1946 đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta, cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc và khẳng định vị trí pháp lý của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, một “ nước Việt Nam độc lập và thống nhất tiến bước trên đường vinh quang, hạnh phúc, cùng nhịp với trào lưu tiến bộ thế giới và ý nguyện hòa bình của nhân loại”[1].

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ năm 1954, miền Bắc nước ta được giải phóng và bước vào thời kỳ xây dựng CNXH làm hậu phương vững chắc cho công cuộc đấu tranh giành thống nhất đất nước. Để ghi nhận sự kiện lịch sử đó và khẳng định 2 nhiệm vụ chiến lược của nhân dân ta trong thời kỳ mới là xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, ngày 31 tháng 12 năm 1959 Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp thứ 2- Hiến pháp năm 1959.

Mùa xuân năm 1975 nhân dân ta đã dành được thắng lợi lịch sử là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Để ghi nhận thắng lợi đó và định hướng cho công cuộc xây dựng một nước Việt Nam thống nhất cùng đi lên CNXH, ngày 18 tháng 12 năm 1980 Quốc hội khóa VI đã thông qua bản Hiến pháp năm 1980. Sau hơn 10 năm thực hiện bản Hiến pháp này, đất nước ta tiến vào thời kỳ đổi mới theo đường lối do Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra. Để khẳng định thành tựu đã đạt được và cụ thể hóa đường lối của Đảng về đổi mới toàn diện đất nước, ngày 15 tháng 4 năm 1992 Quốc hội khóa VIII đã thông qua bản Hiến pháp năm 1992; Quốc hội khóa X đã sửa đổi, bổ sung một số điều của bản Hiến pháp này theo Nghị quyết số 51 ngày 25/12/2001. Như vậy xét về công tác lập hiến, trong 60 năm qua Quốc hội đã thực hiện  đúng nhiệm vụ của mình. Còn về công tác lập pháp, chúng ta cũng có thể khẳng định rằng, mặc dù phải vượt qua những khó khăn, thử thách cực kỳ to lớn và phức tạp, toàn bộ bộ máy nhà nước có hàng chục năm phải tập trung vào thực hiện nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước nhưng Quốc hội các khóa đã thông qua được nhiều văn bản pháp luật. Do đó đến nay Nhà nước ta đã có được một hệ thống pháp luật tuy chưa hoàn chỉnh và đồng bộ nhưng cũng đã tạo thành cơ sở pháp lý cho việc thực hiện đường lối của Đảng về mở cửa, hội nhập, xây dựng và quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với mục tiêu là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong những năm gần đây công tác lập pháp của Quốc hội đã có bước chuyển biến mạnh mẽ, nhiều bộ luật lớn đã được ban hành như Bộ luật Hình sự,  Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại...Số liệu sau đây về các văn bản pháp luật  ( Hiến pháp, Bộ luật, luật, pháp lệnh ) do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành trong các khóa cho thấy rõ điều đó:

- Trong 30 năm đất nước có chiến tranh, từ khóa I đến khóa V: 38 văn bản;

- Trong 3 khóa tiếp theo từ khóa VI đến khóa VIII: 105 văn bản;

- Từ khi có Hiến pháp năm 1992 đến tháng 12/2005: 252 văn bản.

Khi nói Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp thì có phải là Quốc hội thực hiện toàn bộ quá trình lập pháp từ việc nghiên cứu đề ra chính sách, tổng kết thực tiễn đến việc chuẩn bị dự thảo rồi đưa ra kỳ họp Quốc hội để thảo luận thông qua hay không? Có thể khẳng định rằng, không có Quốc hội nước nào trên thế giới thực hiện toàn bộ quy trình trên đây. Ngay ở cả những nước có sự phân chia 3 quyền ( tam quyền phân lập) là lập pháp, hành pháp và tư pháp, các đại biểu Quốc hội ( Nghị sĩ) không kiêm nhiệm bất cứ chức vụ nào khác trong bộ máy nhà nước thì ở đó Quốc hội ( Nghị viện) cũng không đảm nhiệm mọi công việc của quá trình lập pháp mà việc soạn thảo các dự thảo luật cũng do các cơ quan, tổ chức có khi là cá nhân nghị sĩ có kiến nghị về ban hành luật thực hiện với sự tham gia của chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực. Nghiên cứu hoạt động lập pháp ở một số nước có thể thấy rằng, mô hình chính thể của mỗi quốc gia có tác động rất nhiều đến tỷ lệ số lượng dự án luật do các chủ thể khác nhau trình ra trước Quốc hội ( Nghị viện).  Đối với Nghị viện theo mô hình chế độ đại nghị, điển hình như ở Anh, Nhật Bản, Canađa thì phần lớn số lượng luật trình ra Nghị viện là do Chính phủ và các thành viên của Nghị viện. Còn đối với mô hình cộng hòa tổng thống như ở Mỹ thì Nghị sĩ có vai trò quan trọng trong việc trình dự thảo luật ra Nghị viện[2].

Trên thực tế ở nhiều nước phần lớn các dự thảo luật do cơ quan hành pháp (Chính phủ) trình Nghị viện thông qua. Là cơ quan trực tiếp điều hành và tổ chức thực hiện các chính sách của quốc gia, thực thi pháp luật nên Chính phủ biết rõ những yêu cầu thực tế, các vấn đề phát sinh trong cuộc sống cần có luật điều chỉnh cùng với những khiếm khuyết và những quy định không còn phù hợp trong pháp luật hiện hành cần sửa đổi, bổ sung. Do vậy Chính phủ có nhiều khả năng phát hiện nhu cầu ban hành luật để tổ chức và quản lý xã hội, đồng thời cũng là cơ quan có nhiều thuận lợi trong việc soạn thảo, trình dự thảo luật ra Nghị viện xem xét, thông qua. ở nhiều nước còn có nguyên tắc là quyền kiến nghị các dự thảo luật có liên quan đến tăng hoặc giảm thu ngân sách quốc gia chỉ thuộc Chính phủ. Ở một số nước như Philippin thì các nghị sĩ cũng có quyền trình dự thảo luật về tài chính nhưng phải được sự đồng ý của Chính phủ. Thực tế công tác xây dựng luật, pháp lệnh ở nước ta trong những năm qua cũng tương tự như  ở nhiều nước trên thế giới. Số liệu thống kê sau đây cho thấy rõ điều đó. Tỷ lệ số lượng dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết có nội dung như một văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi tắt là nghị quyết) do Chính phủ trình so với tổng số các dự án trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong hai nhiệm kỳ Quốc hội khóa X và XI như sau:

Khóa X :  94/106   = 88,64%;

Khóa XI:  116/127 = 91,33%.

(Số liệu này lấy trong các Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của hai nhiệm kỳ Quốc hội khóa X và XI). Nếu tách riêng số lượng dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết do các cơ quan của Quốc hội trình Quốc hội, UBTVQH thông qua thì tỷ lệ rất thấp, cụ thể là:

Khóa X :  2/106   =  1,8%;

Khóa XI:  4/127   =  3,1%.

Như vậy là trong hai nhiệm kỳ qua số lượng dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết do các cơ quan của Quốc hội trình cũng chỉ đạt tỷ lệ cao nhất là 3,1% trên tổng số văn bản ghi trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội. Đặc biệt là chưa có dự án nào do chính đại biểu Quốc hội tổ chức soạn thảo trình Quốc hội, UBTVQH. Rõ ràng là Quốc hội thực hiện chức năng lập pháp nhưng các cơ quan của Quốc hội chủ yếu làm nhiệm vụ thẩm tra, còn số lượng các dự án chuẩn bị và trình là không đáng kể. Những dự án này xét về tính chất và nội dung cũng không thể giao cho cơ quan khác chuẩn bị như Luật tổ chức Quốc hội, Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội, Quy chế hoạt động của UBTVQH, Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội.

Như chúng ta đã biết, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo thực hiện từ Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI của Đảng và về mặt pháp lý thì những đường lối, chính sách đổi mới của Đảng đã được cụ thể trong Hiến pháp năm 1992. Vì vậy trong sách báo pháp lý có tác giả lấy Hiến pháp năm 1992 làm mốc phân giai đoạn quy trình lập pháp của Quốc hội nước ta từ 1980 đến nay[3].  Nhưng theo chúng tôi thì lấy mốc năm 1997 để phân chia giai đoạn đổi mới hoạt động lập pháp của Quốc hội là hợp lý hơn. Đúng là từ sau khi Nhà nước ta ban hành Hiến pháp năm 1992 hoạt động lập pháp của Quốc hội đã có nhiều chuyển biến nhưng phải nói rằng, chỉ sau khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội khóa IX thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào ngày 12–11-1996 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-1997 thì hoạt động lập pháp của Quốc hội mới đổi mới thực sự. Chỉ đơn thuần so sánh số lượng luật, pháp lệnh được ban hành trong 10 năm từ 1986 đến 1996 là 84 văn bản và từ 1997 đến năm 2005 (9 năm) là 155 văn bản đã cho thấy rõ điều đó.

Một nội dung rất đáng lưu ý khi bàn về hoạt động lập pháp của Quốc hội là yêu cầu của việc xây dựng hệ thống pháp luật trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân và vì dân . ở đây pháp luật không phải là văn bản thể hiện ý chí của cơ quan soạn thảo hay cơ quan thông qua luật, pháp lệnh mà là ý chí của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Và trong Nhà nước pháp quyền có một nguyên tắc ứng xử  của cán bộ, công chức và của công dân phải được bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh là : cán bộ, công chức chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép, còn công dân thì được làm tất cả những gì pháp luật không cấm. Trong thực tế có công dân bị xử phạt, thậm chí bị kết tội, phạt tù vì “đã lợi dụng sơ hở của pháp luật”. Đây là hiện tượng trái với tư tưởng về Nhà nước pháp quyền cần sớm được xóa bỏ.

Nghiên cứu hoạt động lập pháp của Quốc hội trong trong giai đoạn trước  năm 1997 không thể không đề cập bản Quy chế xây dựng luật, pháp lệnh do Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 6 tháng 8 năm 1988. Có thể nói đây là văn bản đánh dấu mốc quan trọng trong hoạt động lập pháp của Quốc hội nước ta tuy mới được thể hiện dưới hình thức quy chế và nội dung còn rất đơn giản. Trong Lời nói đầu của Quy chế đã nêu rõ:

“Để kịp thời thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, phục vụ ngày càng tốt hơn yêu cầu quản lý xã hội theo pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN.

Để bảo đảm phát huy tác dụng của công tác xây dựng pháp luật, từng bước đưa công tác này vào nền nếp, xác định rõ phạm vi, quyền hạn nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước có trách nhiệm xây dựng luật, pháp lệnh;…

Quy chế này xác định trình tự, thủ tục xây dựng luật và pháp lệnh”.

Bản quy chế có 10 chương, 44 điều, quy định rất khái quát về quy trình hoạt động lập pháp của Quốc hội.

Có thể nói rằng, việc ban hành và thực hiện Quy chế xây dựng luật, pháp lệnh năm 1988 đánh dấu một mốc có ý nghĩa lịch sử trong hoạt động lập pháp của Quốc hội nước ta. Đây là một trong những nhân tố thúc đẩy nhanh quá trình soạn thảo và thông qua luật, pháp lệnh, nghị quyết . Số liệu thống kê cho thấy số lượng luật, pháp lệnh, nghị quyết được Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội (Hội đồng Nhà nước) thông qua trong 9 năm từ 01-01-1988 đến 01-01-1997 đã lớn hơn rất nhiều số lượng văn bản quy phạm pháp luật mà Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành trong hơn 10 năm từ 20-6-1976 đến 31-12-1987, cụ thể là:

- Tổng số luật, pháp lệnh, nghị quyết ban hành từ 01-01-1988 đến 01-01-1997 là 346 văn bản (trong đó có Hiến pháp năm 1992, 67 bộ luật, luật, 80 pháp lệnh và 198 nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội (Hội đồng Nhà nước);

- Tổng số luật, pháp lệnh, nghị quyết ban hành từ 20-6-1976 ( tức là từ kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa VI)  đến 31-12-1987 là 200 văn bản (trong đó có Hiến pháp năm 1980, 11 bộ luật, luật, 22 pháp lệnh và 166 nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội (Hội đồng Nhà nước).

Một nội dung trong Quy chế xây dựng luật, pháp lệnh năm 1988 rất đáng nghiên cứu và khảo sát việc thực hiện trong thực tế để rút kinh nghiệm và có thể  áp dụng tiếp là dự án luật cùng báo cáo thẩm tra và các tài liệu có liên quan được gửi đến đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thảo luận,  lấy ý kiến các chuyên gia trước ngày khai mạc kỳ họp 1 tháng. Báo cáo ý kiến thảo luận ở các đoàn đại biểu được gửi về Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước để tập hợp và giao cho các cơ quan trình dự án, cơ quan thẩm tra, Uỷ ban pháp luật nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý và làm báo cáo giải trình trước Quốc hội tại phiên họp thông qua. Tại phiên họp này không đọc tờ trình và báo cáo thẩm tra mà chỉ đọc báo cáo tiếp thu, giải trình. Nếu có vấn đề còn có ý kiến khác nhau thì Quốc hội mới thảo luận. Sau đó Quốc hội biểu quyết thông qua luật.Theo chúng tôi thì đây là những quy định rất hợp lý, tiết kiệm công sức, tiền bạc của Nhà nước và chất lượng các luật thông qua vẫn được bảo đảm. Có lẽ do thực hiện đúng các quy định trên đây mà Quốc hội khóa VIII đã thông qua dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự với 32 chương, 286 điều và tại kỳ họp thứ 11 ngày 15-4-1992 đã thông qua dự thảo Hiến pháp năm 1992 - Đạo luật gốc rất quan trọng của Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới với 12 chương, 147 điều không mất nhiều thời gian tại phiên họp toàn thể.

Song, như trên đã nhận xét, Quy chế xây dựng luật, pháp lệnh do Hội đồng Nhà nước ban hành năm 1988 còn rất đơn giản nên không đáp ứng được yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao chất lượng các văn bản pháp luật trong thời kỳ mới. Tổng kết 8 năm thực hiện Quy chế cho thấy cần ban hành một đạo luật quy định cụ thể về thẩm quyền, thủ tục và trình tự ban hành không chỉ luật của Quốc hội, pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội mà trước mắt còn phải gồm cả nghị quyết có những quy phạm pháp luật của Quốc hội, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ở trung ương ban hành để thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; quyết định, nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ. Đây cũng là đạo luật cụ thể hóa quy định tại Điều 84 và 87 của Hiến pháp năm 1992 là: Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, ban hành luật về thủ tục trình Quốc hội dự án luật”. Việc ban hành đạo luật này là rất cần thiết nhằm lập lại trật tự, kỷ cương trong hoạt động lập pháp, lập quy, đặc biệt đối với những văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, vì nếu không ban hành kịp thời những văn bản này thì nhiều luật, pháp lệnh đã có hiệu lực pháp luật nhưng mới quy định chung chung nên còn có hiện tượng “Luật treo” như các dự án treo chưa đi vào cuộc sống.

Một vấn đề khác cũng rất quan trọng chưa được xác định rõ trong Quy chế  xây dựng luật, pháp lệnh năm 1988 là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương. Do đó trong Tờ trình dự án luật về thẩm quyền và trình tự ban hành văn bản quy phạm pháp luật Chính phủ đã nhận định: công tác xây dựng pháp luật đã bộc lộ nhiều khuyết điểm, tồn tại. Tình trạng văn bản pháp luật ban hành lộn xộn, tùy tiện, vừa thiếu, vừa chậm, không đúng thẩm quyền, mâu thuẫn, chồng chéo… còn khá phổ biến. Việc quy định cụ thể cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các loại hình văn bản quy phạm pháp luật của từng cơ quan có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm ban hành văn bản quy phạm pháp luật đúng nội dung, đúng thẩm quyền nhằm thiết lập trật tự hiệu lực của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể là Quốc hội có quyền ban hành luật, nghị quyết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh, nghị quyết; Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định; Chính phủ ban hành nghị định, nghị quyết; Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định, chỉ thị… Trong thực tế hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà nước ta khó phân biệt rạch ròi thẩm quyền về nội dung của từng loại văn bản vì có những vấn đề Hiến pháp quy định Quốc hội ban hành luật để điều chỉnh nhưng Quốc hội lại ủy quyền cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh như Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 1994; Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích năm 1999; Pháp lệnh dân số năm 2003;  Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004. Những pháp lệnh này có nội dung và hiệu lực pháp luật cao như luật do Quốc hội ban hành.

Trước những yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Nhà nước ta có nhiệm vụ to lớn, nặng nề là thể chế hóa đường lối, chính sách đổi mới của Đảng thành pháp luật nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật. Trước khi có Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân chưa có luật quy định đầy đủ về thẩm quyền, thủ tục và trình tự ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã làm cho việc soạn thảo và ban hành các văn này gặp nhiều khó khăn, lúng túng và thường kéo dài, chất lượng văn bản chưa cao, thiếu trật tự, kỷ cương trong hoạt động xây dựng pháp luật. Để khắc phục những tồn tại trên, Quốc hội khóa IX đã ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại kỳ họp thứ 10 ngày 12 tháng 11 năm 1996. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-1997. Ở nước ta từ ngày thành lập chế độ mới đến nay, đây là văn bản có hiệu lực pháp luật cao nhất quy định cụ thể, chi tiết về quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương từ Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đến TANDTC, VKSNDTC, các bộ, cơ quan ngang bộ.

Hoạt động lập pháp của Quốc hội có sự chuyển biến mạnh mẽ từ sau khi Quốc hội thông qua Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và nhất là từ sau khi Luật này được sửa đổi, bổ sung một số điều vào tháng 12/2002 (Sau đây gọi chung là Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và viết tắt là Luật BHVBQPPL năm 1996).

Số liệu thống kê đã cho thấy trong 3 năm qua (năm 2003, 2004 và năm 2005) Quốc hội đã thông qua được nhiều luật nhất (63 bộ luật, luật) so với cùng thời gian trước đó, cụ thể là trong 3 năm (2000, 2001 và 2002) Quốc hội thông qua được 20 bộ luật, luật. Đặc biệt là tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5 và tháng 6 năm 2005) Quốc hội khóa XI đã thông qua được 15 bộ luật, luật. Đó là số lượng văn bản luật nhiều nhất được thông qua tại 1 kỳ họp trong lịch sử hoạt động lập pháp của Quốc hội nước ta. Bên cạnh kết quả này có một tình hình đáng lưu ý là do Quốc hội đẩy nhanh tiến độ xem xét, thảo luận thông qua luật nên toàn bộ bộ máy phục vụ hoạt động lập pháp của Quốc hội đã tập trung vào việc đó làm cho việc chuẩn bị các dự án pháp lệnh trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua còn rất chậm, kết quả đạt được rất thấp, cụ thể là trong 3 năm ( 2000, 2001 và 2002) trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua được 31 pháp lệnh, còn 3 năm ( 2003, 2004 và 2005) chỉ trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua được 22 pháp lệnh. Như vậy trong khi Quốc hội thực hiện được 100% chương trình xây dựng luật thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ thực hiện được trên dưới 50% chương trình xây dựng pháp lệnh. Đây là một tồn tại cần được nghiên cứu và sớm có giải pháp khắc phục.

Bên cạnh sự chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trên đây và kết quả đạt được trong hoạt động lập pháp của Quốc hội thì có một vấn đề lớn, phức tạp và khó khăn đặt ra cần được giải quyết, nếu không luật, pháp lệnh được ban hành không đi vào cuộc sống. Đó là tình trạng nhiều luật, pháp lệnh mới chỉ có những quy định khung chung chung mang tính nguyên tắc định hướng nên phải chờ văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thì mới thi hành được. Tình hình này đã có người khái quát và nhận định là “Quốc hội và các cơ quan dân cử làm ra luật, song đó chỉ là những áng mây bay trên đầu dân chúng. Giọt nước, giọt nắng hằng ngày là hàng vạn mệnh lệnh được gọi là pháp quy – những luật lệ do cơ quan hành chính các cấp và vô số thiết chế phi Nhà nước khác ban hành”4.

Qua hoạt động giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành (nội dung này thường ghi ở điều cuối của luật, pháp lệnh được Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua)thì thấy còn khá lớn số lượng văn bản không được ban hành kịp thời. Theo báo cáo của Chính phủ, để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh mà Quốc hội, UBTVQH đã thông qua từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI đến ngày 30 tháng 4 năm 2005,  Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phải ban hành 196 văn bản  quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành; đã ban hành được 120 (đạt 61%). Đáng lưu ý nhất là Pháp lệnh Dân số được UBTVQH thông qua ngày 12-01-2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-5-2003 nhưng đến nay vẫn chưa ban hành đủ số văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành; Bộ luật dân sự đươc Quốc hội khóa IX thông qua ngày 28-10-1995, có hiệu lực thi hành từ 1-7-1996 nhưng sau gần 10 năm  đến tháng 6-2005, Quốc hội khóa XI đã  thông qua Bộ luật dân sự mới mà cũng chỉ ban hành được 50 trong tổng số 70 văn bản để hướng dẫn, quy định chi tiết thi hành Bộ luật dân sự  năm 1995.

 

Tóm lại, hoạt động lập pháp của Quốc hội có nhiều đổi mới nên đã đạt được những kết quả nhất định, số lượng luật được thông qua trong  một kỳ họp ngày càng nhiều hơn và về nội dung đã thể chế hóa đúng đường lối chính sách của Đảng. Bên cạnh những thành công đó vẫn còn những tồn tại cần được chỉ rõ và sớm có biện pháp khắc phục. Để làm được điều này, theo kinh nghiệm của Thuỵ Điển thì phải lưu giữ lại tất cả các tài liệu liên quan đến quá trình soạn thảo và thông qua một văn bản pháp luật để nghiên cứu, phân tích, đánh giá có cứ liệu và từ đó rút ra những ưu, khuyết điểm, tồn tại ở khâu nào rồi tìm tòi giải pháp khắc phục hữu hiệu.

Lược qua 60 năm hoạt động lập hiến và lập pháp của Quốc hội chúng ta có thể tin tưởng chắc chắn rằng, Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước ta đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 được ban hành theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị sẽ được thực hiện thắng lợi; Nhà nước pháp quyền nhất định sẽ trở thành hiện thực trên đất nước của chúng ta./.

 

[1] Trích Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946.

[2] Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội- NXB Chính trị quốc gia - Hà nội - 2004, trang 59.

[3] Sách đã dẫn, trang 86 và 93.

[4] Phạm Duy Nghĩa, Bàn về kỹ nghệ làm luật - Tạp chí Tia sáng, số tháng 5 năm 2005, tr 18.

   

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện