|
DẤU ẤN NGOẠI GIAO NGHỊ VIỆN VIỆT NAM TRONG QUÁ
TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát
triển"
Hà Nội,
23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)
Vũ Mão
Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội
Có thể nói năm 1995 đã đánh dấu một bước đột phá
quan trọng trong chiến lược mở cửa và hội nhập
quốc tế của Việt Nam. Cùng với việc gia nhập
ASEAN tháng 7 năm 1995, tháng 9 năm đó, Tổ chức
liên nghị viện các nước ASEAN (AIPO) đã kết nạp
Việt Nam làm thành viên chính thức tại Đại hội
đồng lần thứ 16 ở Singapore. Đó là dấu mốc quan
trọng trong quá trình hoạt động ngoại giao nghị
viện của Việt Nam. Cùng với ngoại giao chính phủ
và ngoại giao nhân dân, ngoại giao nghị viện
cũng bắt đầu khởi sắc với những hoạt động đa
dạng, và phong phú góp phần quan trọng vào mặt
trận ngoại giao tổng hợp của đất nước. Mười năm
qua, ngoại giao nghị viện đã tham gia tích cực
vào các hoạt động ngoại giao nghị viện quốc tế
đa phương cũng như song phương, tạo nên một dấu
ấn riêng của Việt Nam và góp phần nâng cao hình
ảnh cũng như vị thế của đất nước trên trường
quốc tế.
Ngoại giao nghị viện thế giới trong thời kỳ sau
chiến tranh lạnh
Sau chiến tranh lạnh, xu
thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã đặt ra
những cơ hội và thách thức mới cho tất cả các
quốc gia. Trong bối cảnh đó, nghị viện các quốc
gia ngày càng đóng một vai trò tích cực trong
việc đánh giá những lựa chọn chính sách quốc
gia, kể cả chính sách đối ngoại mà từ trước đến
nay vẫn được coi là lĩnh vực riêng của chính
phủ. Tại mỗi quốc gia, dư luận xã hội ngày càng
quan tâm đến chính sách của nhà nước, nhất là
chính sách đối ngoại vì người dân hiểu rằng đời
sống hàng ngày của họ sẽ bị ảnh hưởng bởi chính
sách của các nước láng giềng. Cử tri ngày càng
trông đợi vào các nghị sĩ bảo vệ quyền lợi cho
mình bằng cách tác động vào chính sách của chính
phủ. Từ yêu cầu đó, quan hệ giữa các nghị sĩ và
các nghị viện được tăng cường nhanh chóng và
được thể chế hoá thông qua các tổ chức và diễn
đàn liên nghị viện quốc tế cũng như khu vực.
Thuật ngữ “ngoại giao nghị viện” ra đời trong
bối cảnh đó và bao gồm cả các quan hệ nghị viện
truyền thống và những mối quan hệ mới nẩy sinh
để các nghị sĩ có thể cùng nhau giải quyết những
vấn đề vượt ra khỏi biên giới của mỗi quốc gia.
Mục tiêu của ngoại giao nghị viện là đưa ra
những sáng kiến để tác động tới những quyết định
của chíh phủ và tìm ra những giải pháp thực tiễn
cho những vấn đề toàn cầu cũng như khu vực.
Từ đầu thế kỷ 21, cùng với các hoạt động của
Liên hiệp quốc với mục tiêu thiên niên kỷ và Đại
hội đồng thiên niên kỷ, Liên minh nghị viện thế
giới đã tổ chức các hội nghị của những người
đứng đầu nghị viện các nước thành viên để bàn
thảo về những vấn đề quốc tế quan trọng. Cuộc
họp đầu tiên được tiến hành vào tháng 8 năm
2000. Những người đứng đầu nghị viện các nước đã
kêu gọi các thành viên nâng cao trách nhiệm
trong quan hệ quốc tế và gợi ý rằng mục tiêu này
có thể được thực hiện thông qua việc các nghị
viện đóng một vai trò tích cực hơn ở cấp quốc
gia, khu vực cũng như trên thế giới.
·
Ở cấp quốc gia các thành viên có thể rà soát,
cải tiến vả sử dụng tốt hơn những thủ tục tại
nghị viện để tác động có hiệu quả đến những
chính sách đối ngoại, được thông tin đầy đủ và
cập nhật hơn về những cuộc đàm phán quốc tế đang
diễn ra và tham gia vào việc thông qua các điều
ước quốc tế cũng như quá trình thực hiện những
điều ước đó
·
Ở cấp khu vực, các thành viên có thể sử dụng tốt
hơn những cơ chế nghị viện khu vực sẵn có và
thông qua các tổ chức đó tác động đến những tổ
chức liên chính phủ tương ứng.
·
Ở cấp quốc tế, các thành
viên có thể tăng cường vai trò của Liên minh
nghị viện thế giới với tư cách là tổ chức hợp
tác liên nghị viện quốc tế và là nơi truyền đạt
tầm nhìn cũng như nguyện vọng của các nước thành
viên tới các tổ chức liên chính phủ.
Tại hội nghị lần thứ hai
các nhà lãnh đạo nghị viện thế giới tổ chức ở
New York tháng 9 năm 2005, mục tiêu đối ngoại
được nêu lên rõ ràng và ở mức độ cao hơn theo đó
các nhà lãnh đạo nghị viện sẽ chuyển cho Liên
hiệp quốc một cách nhìn toàn diện về đóng góp
của nghị viện các quốc gia trên thế giới trong
việc củng cố hệ thống đa phương cũng như tăng
cường hơn nữa, hoà bình, an ninh, dân chủ, nhân
quyền và phát triển theo những cam kết quốc tế
đã được ký kết.
Có thể thấy rằng từ sau chiến tranh lạnh, ngoại
giao nghị viện và vai trò của các tổ chức nghị
viện quốc tế cũng như khu vực ngày càng trở nên
quan trọng trong quan hệ quốc tế.
Hoạt động và đóng góp của Quốc hội Việt Nam trên
các diễn đàn nghị viện đa phương
Quốc hội Việt Nam tham gia và đăng cai nhiều
diễn đàn nghị viện đa phương quốc tế và khu vực
nhằm không ngừng khẳng định và nâng cao vị thế
và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Bên
cạnh những Diễn đàn đa phương mà Việt Nam đã
tham gia từ trước khi Đổi mới, trong những năm
90 của thế kỷ trước, Quốc hội Việt Nam đã trở
thành thành viên chính thức của nhiều Diễn đàn
đa phương và có những đóng góp hết sức cụ thể
cho các diễn đàn, tổ chức nghị viện này, tạo dấu
ấn rõ nét của Việt Nam trong quá trình hình
thành và phát triển của các diễn đàn, tổ chức đó
như IPU, AIPO, AAPP...
Từ năm 1979, Việt Nam đã chính thức trở thành
thành viên của Liên minh Nghị viện thế giới
(IPU). IPU được thành lập từ năm 1889 và
hiện có 141 Nghị viện thành viên. Kể từ khi
thành thành viên của IPU, Quốc hội ta đã tham
gia đầy đủ các kỳ họp và đã có những đóng góp
tích cực vào hoạt động của Liên minh, được bạn
bè quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Tháng
9/2000, lần đầu tiên Chủ tịch Quốc hội nước ta
đã dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam tham gia Hội
nghị IPU lần thứ 100 tổ chức tại Mát-xcơ-va, Nga
và Hội nghị các vị đứng đầu cơ quan lập pháp các
nước trên thế giới được tổ chức tại trụ sở Liên
Hợp Quốc tại New York. Quốc hội ta đã tranh thủ
diễn đàn Nghị viện rộng rãi và uy tín này để
giới thiệu với bạn bè và dư luận quốc tế về
chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa
dạng hoá và chủ động hội nhập của Đảng và Nhà
nước ta, thông báo những thành tựu của sự nghiệp
đổi mới ở Việt Nam cũng như quan điểm và lập
trường của Việt Nam về các vấn đề quốc tế mà các
bên cùng quan tâm. Thông qua diễn đàn IPU, quan
hệ song phương của Quốc hội nước ta với Quốc
hội/Nghị viện nhiều nước được thiết lập và tăng
cường. Tổng thư ký IPU đã thăm Việt Nam, đánh
giá cao tinh thần trách nhiệm và đóng góp của
Quốc hội ta cho diễn đàn Nghị viện toàn cầu này.
Tại nhiệm kỳ Quốc hội khoá X, Văn phòng Quốc hội
Việt Nam đã chính thức tham gia Hiệp hội tổng
thư ký Nghị viện các nước (ASGP).
Một diễn đàn Nghị viện đa phương quan trọng ở
khu vực Đông Nam á là Tổ chức liên minh Nghị
viện Hiệp hội các nước Đông Nam á (AIPO).
Năm 1995 ngay khi nước ta trở thành thành viên
chính thức của Hiệp hội ASEAN, Quốc hội nước ta
cũng trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
AIPO từ đó. AIPO được thành lập từ năm 1977 và
cho đến nay đã hội tụ đủ 10 thành viên trong
Hiệp hội ASEAN, trong đó Bru-nây và Mi-an-ma là
quan sát viên đặc biệt của Tổ chức. AIPO có quan
hệ đối tác chặt chẽ với các quan sát viên gồm
Nghị viện Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga,
Canađa, Ôt-xtrây-li-a, Pa-pua Niu Ghi-nê, Niu
Di-lân và Nghị viện châu Âu. Sau khi ta tham gia
đại gia đình các nước ASEAN, Việt Nam đã tổ chức
thành công Hội nghị cấp cao ASEAN-6 tại Hà Nội,
thông qua tuyên bố chung và chương trình Hành
động Hà Nội, góp phần quan trọng vào việc duy
trì đoàn kết nội bộ trong ASEAN, giữ vững các
nguyên tắc cơ bản của Hiệp hội và thúc đẩy các
sáng kiến về thu hẹp khoảng cách giữa các nước
thành viên trong Hiệp hội. Việt Nam cũng đã hoàn
thành tốt vai trò Chủ tịch luân phiên của Hiệp
hội ASEAN và Chủ tịch diễn đàn an ninh khu vực
(ARF) nhiệm kỳ 2000 - 2001. Song song với các
hoạt động của Chính phủ, sau khi tham gia AIPO,
Quốc hội ta đã có nhiều nỗ lực đóng góp vào sự
phát triển chung và góp phần tăng cường tinh
thần đoàn kết trong AIPO bằng việc đăng cai tổ
chức Hội nghị chuyên đề AIPO về “Vai trò của các
cơ quan lập pháp trước cuộc khủng hoảng kinh tế
- tài chính khu vực” năm 1999 và Hội nghị chuyên
đề về chống ma tuý năm 2002. Qua các hội nghị
này các nước trong khu vực trao đổi kinh nghiệm
và những giải pháp góp phần giúp chính phủ các
nước trong khu vực sớm hoạch định và đưa ra
được các chính sách, các chương trình kinh tế-xã
hội phù hợp với tình hình cụ thể mỗi nước. Quốc
hội nước ta đã hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch
AIPO nhiệm kỳ 2001 - 2002 và đã tổ chức thành
công Kỳ họp Đại hội đồng AIPO lần thứ 23 tại Hà
Nội vào tháng 9/2002.
Bên cạnh IPU và AIPO, Quốc hội Việt Nam còn tham
gia Liên minh Nghị viện Cộng đồng Pháp ngữ
(APF), Diễn đàn Nghị sỹ châu á - Thái Bình Dương
(APPF) và Hiệp hội các Nghị viện châu á vì hoà
bình (AAPP). Từ khi tham gia APF năm 1991, Quốc
hội nước ta đã có nhiều hoạt động tích cực trong
APF. Phân ban Việt Nam đã tiếp tục được bầu vào
Ban Chấp hành và Chủ tịch Phân ban được bầu vào
cương vị Phó Chủ tịch Liên minh Nghị viện. Hoạt
động của Phân ban Việt Nam đã được triển khai
theo tinh thần của Tuyên bố Hà Nội năm 1997 của
Hội nghị cấp cao Pháp ngữ, thúc đẩy hợp tác để
cùng phát triển và dân chủ gắn liền với phát
triển. Phân ban đã đảm nhiệm 4 báo cáo chuyên đề
trước Đại hội đồng APF về chuyển giao công nghệ,
hợp tác Nam - Nam, đầu tư đa phương và toàn cầu
hoá kinh tế với đầu tư đa phương và những nỗ lực
để thu hẹp các hố ngăn cách về phát triển.
Với Diễn đàn Nghị viện châu Á - Thái Bình
Dương (APPF), Quốc hội Việt Nam là thành
viên sáng lập của APPF từ năm 1993. Diễn đàn là
một cơ chế để nghị sỹ các nước trong khu vực
thảo luận trao đổi quan điểm về một số vấn đề
quan trọng và cấp bách của khu vực như an ninh,
hoà bình, xây dựng khu vực phi hạt nhân và cấm
phổ biến vũ khí hạt nhân, hợp tác kinh tế, chống
độc quyền, tự do hoá thương mại, phát triển bền
vững và bảo vệ môi trường. APPF hoạt động theo
nguyên tắc đối thoại mang tính xây dựng và thẳng
thắn với nhiều chủ đề thảo luận. APPF có đại
diện của 25 quốc gia tham gia Diễn đàn Hợp tác
kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Tại
diễn đàn này, hoạt động đối ngoại của Quốc hội
nước ta đã góp phần củng cố mối quan hệ nghị
viện với Quốc hội một số nước có vị trí và vai
trò quan trọng ở khu vực như Mỹ, Nga, Nhật,
Ca-na-đa, Trung Quốc, Hàn Quốc. Tại Hội nghị
thường niên ở Pê-ru (1/1999), Quốc hội Việt Nam
được bầu vào Ban chấp hành APPF nhiệm kỳ 1999 -
2001.
Thay lời kết luận
Có thể thấy rằng từ sau khi chiến tranh lạnh kết
thúc, ngoại giao nghị viện đã trở thành một thực
tế quan trọng trong quan hệ quốc tế. Trên các
diễn đàn đa phương, tương ứng với mỗi diễn đàn
của các chính phủ lại có một diễn đàn của quốc
hội như tương ứng với Liên hiệp quốc là Liên
minh nghị viện thế giới (IPU), với ASEM là đối
tác nghị viện Á - Âu (ASEF) và với APEC là Diễn
đàn nghị viện châu á- Thái bình dương (APPF).
Các diễn đàn nghị viện đa phương này có những
đóng góp đáng kể vào quá trình hợp tác quốc tế,
vùa hỗ trợ vừa tạo sức đẩy cho hợp tác giữa
chính phủ các nước. Quan hệ song phương giữa các
nghị viện các nước cũng có những bước tiến mới
cả về lượng và chất. Vai trò ngày càng tăng của
ngoại giao nghị viện là một thực tế khách quan
để tạo thêm những kênh mới nhằm giải quyết những
thách thức của sự đa dạng trong quan hệ quốc tế.
Trong bối cảnh đó, ngoại giao nghị viện của Việt
Nam đã có những bước khởi sắc, góp phần quan
trọng vào việc phát huy sức mạnh tổng hợp của
ngoại giao Việt Nam trong quá trình hội nhập
quốc tế và khu vực. Nhiệm kỳ của Quốc hội khoá
XI (2002-2007) cũng là thời kỳ mà Việt Nam đứng
ra đăng cai một loại diễn đàn nghị viện đa
phương quan trọng. Với vai trò là nước chủ nhà,
chúng ta đã bước đầu tạo nên dấu ấn Việt Nam qua
các hoạt động này. Năm 2002 Việt Nam là nước chủ
nhà của Đại hội đồng Tổ chức liên nghị viện
ASEAN (AIPO) lần thứ 23, một tổ chức nghị viện
hoạt động song song với ASEAN. Với những sáng
kiến thiết thực, cụ thể như tôn vinh những người
có nhiều đóng góp cho AIPO (Mr AIPO), xây dựng
có chế trao đổi thường xuyên giữa ban thư ký
ASEAN và AIPO, chúng ta đã tạo thêm sức nặng cho
hoạt động của tổ chức này. Cũng với tinh thần
đó, tại Đại hội đồng AIPO 25 tổ chức tại
Campuchia tháng 9 năm 2004 chúng ta đã phối hợp
chặt chẽ với nước chủ nhà và có những đóng góp
rõ rệt vào việc tìm ra tiếng nói chung cho một
số vấn đề còn tranh cãi như sáng kiến của ta về
việc lập Ban nghiên cứu về khả năng thành lập
Quốc hội ASEAN. Cuối tháng 3 năm 2004, Việt Nam
lại đứng ra tổ chức một hội nghị liên quốc hội
quan trọng, Hội nghị đối tác nghị viện Á - Âu
lần thứ 3 (ASEP III). Trong bối cảnh tiến trình
hợp tác Á - Âu (ASEM) đang có xu hướng đi vào
chiều sâu sau hơn 8 năm hoạt động, ASEP III có
vai trò quan trọng đưa hợp tác quốc hội giữa các
nước á- Âu đi vào khuôn khổ định kỳ và ổn định,
thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình hợp tác Á - Âu.
ASEP III đã đáp ứng được yêu cầu đề ra là góp
phần tạo điều kiện thuận lợi cho ASEM-5. Tuyên
bố ASEP III kêu gọi các nước thành viên ASEM
tham dự ASEM-5 đông đủ, ở cấp cao. Các đoàn đều
hoan nghênh thành công của ASEP III vì đã tạo ra
được sự gắn kết giữa ASEP và ASEM. Và vào d?u
nam 2005 này, Việt Nam lại đứng ra tổ chức một
hội nghị liên nghị viện quan trọng nữa, kỳ họp
lần thứ 13 của Diễn đàn nghị viện châu Á - Thái
bình dương (APPF). Qua hơn một thập kỷ tồn tại
và phát triển, APPF đã từng bước lớn mạnh và đến
nay đã thu hút được sự tham gia của 28 nước
thành viên trong khu vực. Với mục tiêu thúc đẩy
đối thoại giữa các nghị sĩ và nghị viện trên các
lĩnh vực an ninh, chính trị, kinh tế, thương mại
và văn hoá, APPF đã có những đóng góp thiết thực
vào việc duy trì hoà bình, ổn định và phát triển
chung trong khu vực. Với việc đứng ra đăng cai
kỳ họp lần thứ 13 của APPF, Việt Nam chứng tỏ
quyết tâm của mình tham gia tích cực và có trách
nhiệm vào các hoạt động ngoại giao nghị viện
quốc tế. Thành công của APPF một lần nữa khẳng
định vị thế và dấu ấn của chúng ta trong các
hoạt động ngoại giao nghị viện trong những năm
đầu của thế kỷ này. Đó chính là cơ sở để Việt
Nam tiếp tục hội nhập quốc tế một cách chủ động
và mạnh mẽ hơn nữa nhằm phục vụ mục tiêu chiến
lược mà Đảng đã vạch ra là làm cho dân giầu,
nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
|