Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

DẤU ẤN NGOẠI GIAO NGHỊ VIỆN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

(Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển"

Hà Nội, 23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh, 27/12/2005)

Vũ Mão

Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội

                                                                                                           

Có thể nói năm 1995 đã đánh dấu một bước đột phá quan trọng trong chiến lược  mở cửa và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Cùng với việc gia nhập ASEAN tháng 7 năm 1995, tháng 9 năm đó, Tổ chức liên nghị viện các nước ASEAN (AIPO) đã kết nạp Việt Nam làm thành viên chính thức tại Đại hội đồng lần thứ 16 ở Singapore. Đó  là dấu mốc quan trọng trong quá trình hoạt động ngoại giao nghị viện của Việt Nam. Cùng với ngoại giao chính phủ và ngoại giao nhân dân, ngoại giao nghị viện cũng bắt đầu khởi sắc với những hoạt động đa dạng, và phong phú góp phần quan trọng vào mặt trận ngoại giao tổng hợp của đất nước. Mười năm qua, ngoại giao nghị viện  đã tham gia tích cực vào các hoạt động ngoại giao nghị viện quốc tế đa phương cũng như song phương, tạo nên một dấu ấn riêng của Việt Nam và góp phần nâng cao hình ảnh cũng như vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Ngoại giao nghị viện thế giới trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh

Sau chiến tranh lạnh, xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã đặt ra những cơ hội và thách thức mới cho tất cả các quốc gia. Trong bối cảnh đó, nghị viện các quốc gia ngày càng đóng một vai trò tích cực trong việc đánh giá những lựa chọn chính sách quốc gia, kể cả chính sách đối ngoại mà từ trước đến nay vẫn được coi là lĩnh vực riêng của chính phủ. Tại mỗi quốc gia, dư luận xã hội ngày càng quan tâm đến chính sách của nhà nước, nhất là chính sách đối ngoại vì người dân hiểu rằng đời sống hàng ngày của họ sẽ bị ảnh hưởng bởi chính sách của các nước láng giềng. Cử tri ngày càng trông đợi vào các nghị sĩ  bảo vệ quyền lợi cho mình bằng cách tác động vào chính sách của chính phủ. Từ yêu cầu đó, quan hệ giữa các nghị sĩ và các nghị viện được tăng cường nhanh chóng và được thể chế hoá thông qua các tổ chức và diễn đàn liên nghị viện quốc tế cũng như khu vực. Thuật ngữ “ngoại giao nghị viện” ra đời trong bối cảnh đó và bao gồm cả các quan hệ nghị viện truyền thống và những mối quan hệ mới nẩy sinh để các nghị sĩ có thể cùng nhau giải quyết những vấn đề vượt ra khỏi biên giới của mỗi quốc gia[1]. Mục tiêu của ngoại giao nghị viện là đưa ra những sáng kiến để tác động tới những quyết định của chíh phủ và tìm ra những giải pháp thực tiễn cho những vấn đề toàn cầu cũng như khu vực.

Từ đầu thế kỷ 21, cùng với các hoạt động của Liên hiệp quốc với mục tiêu thiên niên kỷ và Đại hội đồng thiên niên kỷ, Liên minh nghị viện thế giới đã tổ chức các hội nghị của những người đứng đầu nghị viện các nước thành viên để bàn thảo về những vấn đề quốc tế quan trọng. Cuộc họp đầu tiên được tiến hành vào tháng 8 năm 2000. Những người đứng đầu nghị viện các nước đã kêu gọi các thành viên nâng cao trách nhiệm trong quan hệ quốc tế và gợi ý rằng mục tiêu này có thể được thực hiện thông qua việc các nghị viện đóng một vai trò tích cực hơn ở cấp quốc gia, khu vực cũng như trên thế giới.

·         Ở cấp quốc gia các thành viên có thể rà soát, cải tiến vả sử dụng tốt hơn những thủ tục tại nghị viện để tác động có hiệu quả đến những chính sách đối ngoại, được thông tin đầy đủ và cập nhật hơn về những cuộc đàm phán quốc tế đang diễn ra và tham gia vào việc thông qua các điều ước quốc tế cũng như quá trình thực hiện những điều ước đó

·         Ở cấp khu vực, các thành viên có thể sử dụng tốt hơn những cơ chế nghị viện khu vực sẵn có và thông qua các tổ chức đó tác động đến những tổ chức liên chính phủ tương ứng.

·         Ở cấp quốc tế, các thành viên có thể tăng cường vai trò của Liên minh nghị viện thế giới với tư cách là tổ chức hợp tác liên nghị viện quốc tế và là nơi truyền đạt tầm nhìn cũng như nguyện vọng của các nước thành viên tới các tổ chức liên chính phủ.[2]

Tại hội nghị lần thứ hai các nhà lãnh đạo nghị viện thế giới tổ chức ở New York tháng 9 năm 2005, mục tiêu đối ngoại được nêu lên rõ ràng và ở mức độ cao hơn theo đó các nhà lãnh đạo nghị viện sẽ chuyển cho Liên hiệp quốc một cách nhìn toàn diện về đóng góp của nghị viện các quốc gia trên thế giới trong việc củng cố  hệ thống đa phương cũng như tăng cường hơn nữa, hoà bình, an ninh, dân chủ, nhân quyền và phát triển theo những cam kết quốc tế đã được ký kết.[3] Có thể thấy rằng từ sau chiến tranh lạnh, ngoại giao nghị viện và vai trò của các tổ chức nghị viện quốc tế cũng như khu vực ngày càng trở nên quan trọng trong quan hệ quốc tế.

 

Hoạt động và đóng góp của Quốc hội Việt Nam trên các diễn đàn nghị viện đa phương

Quốc hội Việt Nam tham gia và đăng cai  nhiều diễn đàn nghị viện đa phương quốc tế và khu vực nhằm không ngừng khẳng định và nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Bên cạnh những Diễn đàn đa phương mà Việt Nam đã tham gia từ trước khi Đổi mới, trong những năm 90 của thế kỷ trước, Quốc hội Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của nhiều Diễn đàn đa phương và có những đóng góp hết sức cụ thể cho các diễn đàn, tổ chức nghị viện này, tạo dấu ấn rõ nét của Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển của các diễn đàn, tổ chức đó như IPU, AIPO, AAPP...

Từ năm 1979, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU). IPU được thành lập từ năm 1889 và hiện có 141 Nghị viện thành viên. Kể từ khi thành thành viên của IPU, Quốc hội ta đã tham gia đầy đủ các kỳ họp và đã có những đóng góp tích cực vào hoạt động của Liên minh, được bạn bè quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Tháng 9/2000, lần đầu tiên Chủ tịch Quốc hội nước ta đã dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam tham gia Hội nghị IPU lần thứ 100 tổ chức tại Mát-xcơ-va, Nga và Hội nghị các vị đứng đầu cơ quan lập pháp các nước trên thế giới được tổ chức tại trụ sở Liên Hợp Quốc tại New York. Quốc hội ta đã tranh thủ diễn đàn Nghị viện rộng rãi và uy tín này để giới thiệu với bạn bè và dư luận quốc tế về chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá và chủ động hội nhập của Đảng và Nhà nước ta, thông báo những thành tựu của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam cũng như quan điểm và lập trường của Việt Nam về các vấn đề quốc tế mà các bên cùng quan tâm. Thông qua diễn đàn IPU, quan hệ song phương của Quốc hội nước ta với Quốc hội/Nghị viện nhiều nước được thiết lập và tăng cường. Tổng thư ký IPU đã thăm Việt Nam, đánh giá cao tinh thần trách nhiệm và đóng góp của Quốc hội ta cho diễn đàn Nghị viện toàn cầu này. Tại nhiệm kỳ Quốc hội khoá X, Văn phòng Quốc hội Việt Nam đã chính thức tham gia Hiệp hội tổng thư ký Nghị viện các nước (ASGP).

Một diễn đàn Nghị viện đa phương quan trọng ở khu vực Đông Nam á là Tổ chức liên minh Nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam á (AIPO). Năm 1995 ngay khi nước ta trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội ASEAN, Quốc hội nước ta cũng trở thành thành viên chính thức của Tổ chức AIPO từ  đó. AIPO được thành lập từ năm 1977 và cho đến nay đã hội tụ đủ 10 thành viên trong Hiệp hội ASEAN, trong đó Bru-nây và Mi-an-ma là quan sát viên đặc biệt của Tổ chức. AIPO có quan hệ đối tác chặt chẽ với các quan sát viên gồm Nghị viện Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Canađa, Ôt-xtrây-li-a, Pa-pua Niu Ghi-nê, Niu Di-lân và Nghị viện châu Âu. Sau khi ta tham gia đại gia đình các nước ASEAN, Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEAN-6 tại Hà Nội, thông qua tuyên bố chung và chương trình Hành động Hà Nội, góp phần quan trọng vào việc duy trì đoàn kết nội bộ trong ASEAN, giữ vững các nguyên tắc cơ bản của Hiệp hội và thúc đẩy các sáng kiến về thu hẹp khoảng cách giữa các nước thành viên trong Hiệp hội. Việt Nam cũng đã hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch luân phiên của Hiệp hội ASEAN và Chủ tịch diễn đàn an ninh khu vực (ARF) nhiệm kỳ 2000 - 2001. Song song với các hoạt động của Chính phủ, sau khi tham gia AIPO, Quốc hội ta đã có nhiều nỗ lực đóng góp vào sự phát triển chung và góp phần tăng cường tinh thần đoàn kết trong AIPO bằng việc đăng cai tổ chức Hội nghị chuyên đề AIPO về “Vai trò của các cơ quan lập pháp trước cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính khu vực” năm 1999 và Hội nghị chuyên đề về chống ma tuý năm 2002. Qua các hội nghị này các nước trong khu vực trao đổi kinh nghiệm và những giải pháp góp phần giúp chính phủ các nước trong khu vực sớm  hoạch định và đưa ra được các chính sách, các chương trình kinh tế-xã hội phù hợp với tình hình cụ thể mỗi nước. Quốc hội nước ta đã hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch AIPO nhiệm kỳ 2001 - 2002 và đã tổ chức thành công Kỳ họp Đại hội đồng AIPO lần thứ 23 tại Hà Nội vào tháng 9/2002.

Bên cạnh IPU và AIPO, Quốc hội Việt Nam còn tham gia Liên minh Nghị viện Cộng đồng Pháp ngữ (APF), Diễn đàn Nghị sỹ châu á - Thái Bình Dương (APPF) và Hiệp hội các Nghị viện châu á vì hoà bình (AAPP). Từ khi tham gia APF năm 1991, Quốc hội nước ta đã có nhiều hoạt động tích cực trong APF. Phân ban Việt Nam đã tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành và Chủ tịch Phân ban được bầu vào cương vị Phó Chủ tịch Liên minh Nghị viện. Hoạt động của Phân ban Việt Nam đã được triển khai theo tinh thần của Tuyên bố Hà Nội năm 1997 của Hội nghị cấp cao Pháp ngữ, thúc đẩy hợp tác để cùng phát triển và dân chủ gắn liền với phát triển. Phân ban đã đảm nhiệm 4 báo cáo chuyên đề trước Đại hội đồng APF về chuyển giao công nghệ, hợp tác Nam - Nam, đầu tư đa phương và toàn cầu hoá kinh tế với đầu tư đa phương và những nỗ lực để thu hẹp các hố ngăn cách về phát triển.

Với Diễn đàn Nghị viện châu Á - Thái Bình Dương (APPF), Quốc hội Việt Nam là thành viên sáng lập của APPF từ năm  1993. Diễn đàn là một cơ chế để nghị sỹ các nước trong khu vực thảo luận trao đổi quan điểm về một số vấn đề quan trọng và cấp bách của khu vực như an ninh, hoà bình, xây dựng khu vực phi hạt nhân và cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, hợp tác kinh tế, chống độc quyền, tự do hoá thương mại, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. APPF hoạt động theo nguyên tắc đối thoại mang tính xây dựng và thẳng thắn với nhiều chủ đề thảo luận. APPF có đại diện của 25 quốc gia tham gia Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Tại diễn đàn này, hoạt động đối ngoại của Quốc hội nước ta đã góp phần củng cố mối quan hệ nghị viện với Quốc hội một số nước có vị trí và vai trò quan trọng ở khu vực như Mỹ, Nga, Nhật, Ca-na-đa, Trung Quốc, Hàn Quốc. Tại Hội nghị thường niên ở Pê-ru (1/1999), Quốc hội Việt Nam được bầu vào Ban chấp hành APPF nhiệm kỳ 1999 - 2001.

 

Thay lời kết luận

Có thể thấy rằng từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, ngoại giao nghị viện đã trở thành một thực tế quan trọng trong quan hệ quốc tế. Trên các diễn đàn đa phương, tương ứng với mỗi  diễn đàn của các chính phủ lại có một diễn đàn của quốc hội như tương ứng với Liên hiệp quốc là Liên minh nghị viện thế giới (IPU), với ASEM là đối tác nghị viện Á - Âu (ASEF) và với APEC là Diễn đàn nghị viện châu á- Thái bình dương (APPF). Các diễn đàn nghị viện đa phương này có những đóng góp đáng kể  vào quá trình hợp tác quốc tế, vùa hỗ trợ vừa tạo sức đẩy cho hợp tác giữa chính phủ các nước. Quan hệ song phương giữa các nghị viện các nước cũng có những bước tiến mới cả về lượng và chất. Vai trò ngày càng tăng của ngoại giao nghị viện là một thực tế khách quan để tạo thêm những kênh mới nhằm giải quyết những thách thức của sự đa dạng trong quan hệ quốc tế.

Trong bối cảnh đó, ngoại giao nghị viện của Việt Nam đã có những bước khởi sắc, góp phần quan trọng vào việc phát huy sức mạnh tổng hợp của ngoại giao Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế và khu vực. Nhiệm kỳ của Quốc hội khoá XI (2002-2007) cũng là thời kỳ mà Việt Nam đứng ra đăng cai một loại diễn đàn nghị viện đa phương quan trọng. Với vai trò là nước chủ nhà, chúng ta đã bước đầu tạo nên dấu ấn Việt Nam qua các hoạt động này. Năm 2002 Việt Nam là nước chủ nhà của Đại hội đồng Tổ chức liên nghị viện ASEAN (AIPO) lần thứ 23, một tổ chức nghị viện hoạt động song song với ASEAN. Với những sáng kiến thiết thực, cụ thể như tôn vinh những người có nhiều đóng góp cho AIPO (Mr AIPO), xây dựng có chế trao đổi thường xuyên giữa ban thư ký ASEAN và AIPO, chúng ta đã tạo thêm sức nặng cho hoạt động của tổ chức này. Cũng với tinh thần đó, tại Đại  hội đồng AIPO 25 tổ chức tại Campuchia tháng 9 năm 2004 chúng ta đã phối hợp chặt chẽ với nước chủ nhà và  có những đóng góp rõ rệt vào việc tìm ra tiếng nói chung cho một số vấn đề còn tranh cãi như sáng kiến của ta về việc lập Ban nghiên cứu về khả năng thành lập Quốc hội ASEAN. Cuối tháng 3 năm 2004, Việt Nam lại đứng ra tổ chức một hội nghị liên quốc hội quan trọng, Hội nghị đối tác nghị viện Á - Âu lần thứ 3 (ASEP III). Trong bối cảnh tiến trình hợp tác Á - Âu (ASEM) đang có xu hướng đi vào chiều sâu sau hơn 8 năm hoạt động, ASEP III có vai trò quan trọng đưa hợp tác quốc hội giữa các nước á- Âu đi vào khuôn khổ định kỳ và ổn định, thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình hợp tác Á - Âu. ASEP III đã đáp ứng được yêu cầu đề ra là góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho ASEM-5. Tuyên bố ASEP III kêu gọi các nước thành viên ASEM tham dự ASEM-5 đông đủ, ở cấp cao. Các đoàn đều hoan nghênh thành công của ASEP III vì đã tạo ra được sự gắn kết giữa ASEP và ASEM. Và vào d?u nam 2005 này, Việt Nam lại đứng ra tổ chức một hội nghị liên nghị viện quan trọng nữa, kỳ họp lần thứ 13 của Diễn đàn nghị viện châu Á - Thái bình dương (APPF). Qua hơn một thập kỷ tồn tại và phát triển, APPF đã từng bước lớn mạnh và đến nay đã thu hút được sự tham gia của 28 nước thành viên trong khu vực. Với mục tiêu thúc đẩy đối thoại giữa các nghị sĩ và nghị viện trên các lĩnh vực an ninh, chính trị, kinh tế, thương mại và văn hoá, APPF đã có những đóng góp thiết thực vào việc duy trì hoà bình, ổn định và phát triển chung trong khu vực. Với việc đứng ra đăng cai kỳ họp lần thứ 13 của APPF, Việt Nam chứng tỏ quyết tâm của mình tham gia tích cực và có trách nhiệm vào các hoạt động ngoại giao nghị viện quốc tế. Thành công của APPF một lần nữa khẳng định vị thế và dấu ấn của chúng ta trong các hoạt động ngoại giao nghị viện trong những năm đầu của thế kỷ này. Đó chính là cơ sở để Việt Nam tiếp tục hội nhập quốc tế một cách chủ động và mạnh mẽ hơn nữa nhằm phục vụ mục tiêu chiến lược mà Đảng đã vạch ra là làm cho dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. 

 

[1] Báo cáo ca U ban ngh vin và quan h qun chúng,  Liên minh ngh vin các nước Tây Âu (WEU), 2000.

[2] Xem trang web của IPU http:// www.ipu.org

[3] Như trên

   

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện