Về hoạt động
của đại biểu Quốc hội tại địa phương
Lý Văn Hạnh
Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Quảng Ngãi
Hiện nay, nếu nói đại biểu Quốc hội phải làm gì
trong thời gian giữa hai kỳ họp thì đã rõ với
những quy định cụ thể nằm trong Quy chế hoạt
động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc
hội và trong Luật hoạt động giám sát của Quốc
hội. Đó là đại biểu Quốc hội phải định kỳ tiếp
dân; Tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp Quốc
hội; Giám sát việc thi hành pháp luật trên địa
bàn, giám sát việc ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của HĐND và UBND tỉnh, giám sát việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và
nghiên cứu đóng góp ý kiến xây dựng các dự án
luật trước khi trình Quốc hội cho ý kiến hoặc
xem xét thông qua.
Tuy nhiên, đại biểu Quốc hội phải thực hiện các
nhiệm vụ trên đây như thế nào để đạt hiệu quả
thiết thực, để xứng đáng với vai trò là người
đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân
thì xem ra đến bây giờ vẫn chưa có câu trả lời
dứt khoát. Từ thực tế hoạt động của các đại biểu
Quốc hội Đoàn Quảng Ngãi trong những năm qua có
thể cho thấy phần nào điều đó.
Về tiếp dân, Đoàn đại biểu Quốc hội từ nhiều năm
nay đã tổ chức cho đại biểu Quốc hội tiếp công
dân định kỳ vào ngày 30 hàng tháng tại Trụ sở
tiếp công dân của tỉnh. Nếu chúng ta yên tâm
cho rằng làm như thế là đã hoàn thành nhiệm vụ
tiếp công dân của đại biểu Quốc hội thì không
sai nhưng chưa đủ. Trụ sở tiếp công dân của tỉnh
nào cũng nằm ở trung tâm thành phố, thị xã tỉnh
lỵ. Do đó không phải công dân ở mọi nơi trên địa
bàn tỉnh đều có thể đến với đại biểu Quốc hội.
Nhiều người dù có nhu cầu đề đạt nguyện vọng
hoặc muốn kiến nghị, yêu cầu một vấn đề nào đó
không phải bao giờ cũng có thể khắc phục được
những khó khăn về tàu xe hoặc những bận rộn
chuyện cơm áo hàng ngày.
Về tiếp xúc cử tri, Đoàn đại biểu Quốc hội dù
rất nghiêm túc trong việc yêu cầu đại biểu Quốc
hội thực hiện lịch tiếp xúc cử tri trước và sau
kỳ họp Quốc hội; địa điểm tiếp xúc dù đã được bố
trí ở địa bàn từng xã, phường, thị trấn cho gần
dân và cho sát với cơ sở hơn, nhưng số lượng
điểm tiếp xúc trong mỗi đợt buộc phải có hạn đã
đưa đến tình trạng tiếp xúc cử tri của đại biểu
Quốc hội gần giống như những cuộc “cưỡi ngựa xem
hoa”. Đoàn đại biểu Quốc hội cũng đã gửi cho
HĐND và UBND cấp xã, cấp huyện những nội dung
trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri, nhưng các
thông tin đó không phải bao giờ cũng đến được
với dân. Ngoài ra, với cử tri ở các xã vùng sâu,
vùng xa và miền núi, địa điểm tiếp xúc tại trung
tâm của xã cũng là quá xa, quá mất thời gian để
có thể đi đến nơi đối với nhiều người. Mặt khác,
những công nhân trong nhà máy, xí nghiệp, những
người làm nghề buôn bán trong khu chợ, những học
sinh, sinh viên trong các trường học, các nhà
doanh nghiệp trên địa bàn... chắc chắn cũng có
những yêu cầu, kiến nghị, cũng mong muốn được
được đại biểu Quốc hội lắng nghe ý kiến của họ.
Về hoạt động giám sát, Đoàn đại biểu Quốc hội
xây dựng kế hoạch giám sát trên cơ sở Nghị quyết
của Quốc hội về chương trình giám sát hàng năm
để có thể thực hiện giám sát trên địa bàn những
vấn đề mà Quốc hội đã lựa chọn. Làm như thế là
đúng, thể hiện trách nhiệm của đại biểu Quốc hội
trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết của
Quốc hội, nhưng vẫn chưa đủ. Nhiều vấn đề bức
xúc ở địa phương như đền bù, di dân tái định cư,
về quy hoạch treo, về quản lý đất đai, về những
khuất tất trong các thôn xóm do cách nghĩ, cách
làm chưa đúng của các cấp chính quyền gây ra cho
những người thấp cổ, bé miệng... là vấn đề đang
từng ngày, từng giờ gây khó khăn, thiệt thòi,
thậm chí oan ức cho dân. Hoặc những vấn đề lớn
lao, hệ trọng như những khó khăn, vướng mắc có
thể làm ảnh hưởng tiến độ xây dựng nhà máy lọc
dầu Dung Quất, những công trình xây dựng không
đảm bảo chất lượng... là những vấn đề rất thiết
thực ở từng địa phương mà các đại biểu Quốc hội
cần giám sát để có kiến nghị kịp thời với các cơ
quan chức năng.
Còn công tác xây dựng các dự án luật giữa hai kỳ
họp, Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp với các Sở
ban ngành có liên quan để tổ chức lấy ý kiến là
cách làm truyền thống. Đoàn đại biểu Quốc hội
còn tổ chức lấy ý kiến trong đội ngũ chuyên viên
am hiểu pháp luật và các Chi hội Luật gia thông
qua các đơn đặt hàng. Nhưng xem ra chất lượng
các báo cáo tổng hợp ý kiến xây dựng luật của
Đoàn đại biểu Quốc hội vẫn còn nhiều hạn chế.
Trong quá trình thảo luận các dự án luật tại Hội
trường, các đại biểu Quốc hội không phải bao giờ
cũng có thể sử dụng những nội dung trong báo cáo
tổng hợp của Đoàn để tham gia ý kiến với Quốc
hội nhằm hoàn chỉnh các dự án luật đã chứng minh
hạn chế trên.
Rõ ràng, các đại biểu Quốc hội tại địa phương
tuy có nhiều cố gắng, nhưng chưa thể khẳng định
là đã làm tròn vai trò người đại diện cho ý chí
và nguyện vọng của nhân dân địa phương bầu ra
mình. Chưa làm tròn vai trò trong phạm vi địa
phương thì càng không thể nói đã làm tròn vai
trò người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của
nhân dân cả nước. Do đó chắc chắn sẽ có ảnh
hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của Quốc hội
với vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân.
Phải chăng, các hoạt động tiếp dân, tiếp xúc cử
tri và hoạt động giám sát là những nội dung công
tác thể hiện rõ nhất vai trò người đại diện của
dân, đòi hỏi đại biểu Quốc hội phải có nhiều
cách làm và làm với tinh thần hết sức hết lòng
vì dân. Đại biểu Quốc hội phải tiếp cận với đời
sống của dân, lắng nghe tiếng nói của dân để từ
đó đưa ra kiến nghị đối với các cơ quan chức
năng về những gì dân yêu cầu. Hoạt động giám sát
của đại biểu Quốc hội cũng phải xuất phát từ đời
sống của dân, từ những yêu cầu phát triển sản
xuất và cải thiện điều kiện xã hội ở cơ sở. Nội
dung giám sát càng cụ thể, hiệu quả thu lại sẽ
càng thiết thực. Thậm chí công tác xây dựng pháp
luật của đại biểu Quốc hội cũng phải đi từ cơ sở
mới có thể nhận ra những đòi hỏi của cuộc sống
hoặc những bất cập của các quy phạm pháp luật để
đề xuất việc sửa đổi, bổ sung các dự án luật. Do
đó, vấn đề đại biểu Quốc hội thực hiện chức
năng, nhiệm vụ như thế nào là vấn đề cần được
đặt ra trong lúc này và nó phải được đặt ra
thường xuyên mới mong đại biểu Quốc hội xứng
đáng với vai trò là người đại biểu của nhân dân.
Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân số 12, ngày 12.1.2006 |