|
Hiến pháp 1946, đạo luật cơ bản, văn bản chính trị
– pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta (Phần 1)
Trần Minh
Với thắng lợi của
cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng Giêng năm 1946, QH
Khóa I – QH đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa ra đời đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong
quá trình phát triển của cách mạng nước ta. Một
trong những nhiệm vụ cấp bách của QH Khóa I là xây
dựng một bản Hiến pháp của nước Việt Nam mới –
Hiến pháp dân chủ, tiến bộ của một nước độc lập,
tự do. Sau một thời gian nghiên cứu, chuẩn bị dưới
sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chủ tịch, dự thảo Hiến
pháp đã được trình QH thông qua tại kỳ họp thứ 2
ngày 9.11.1946. Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã
thể hiện một cách sâu sắc quan điểm và tư tưởng
lớn của Đảng và Bác Hồ, đó là: Đoàn kết dân tộc,
không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp,
toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; Bảo đảm các quyền
tự do, dân chủ, bình đẳng của nhân dân trên tất cả
các mặt của đời sống xã hội, kinh tế, chính trị,
văn hóa; Thực hiện quyền lực nhân dân, xây dựng
chính quyền nhà nước của dân, do dân, vì dân, bảo
đảm để nhân dân giải quyết các vấn đề quan trọng
của đất nước.
Hiến pháp của thời
kỳ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân là Văn bản
chính trị – pháp lý đầu tiên của nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa, đã xác lập những nguyên tắc cơ bản
về thể chế chính trị, tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân.
Về chính thể: Hiến
pháp đã khẳng định “Nước Việt Nam là một nước dân
chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của
toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi
giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.
Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên, ý chí sắt đá,
không gì lay chuyển nổi của dân tộc Việt Nam vì
một nước Việt Nam độc lập, thống nhất đã được
khẳng định “Đất nước Việt Nam là một khối thống
nhất, Trung – Nam – Bắc không thể phân chia”.
Về nghĩa vụ và
quyền lợi của công dân: Hiến pháp đã xác định một
trong những nghĩa vụ quan trọng, có tính chất hàng
đầu của công dân Việt Nam lúc bấy giờ là “bảo vệ
Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp
luật”, và “công dân Việt Nam có nghĩa vụ phải đi
lính”.
Ngoài quy định
nghĩa vụ của công dân đối với đất nước, đối với
chế độ, Hiến pháp đồng thời đã quy định rõ các
quyền lợi của công dân sống trong một đất nước độc
lập, tự do. Các quyền đó là: Quyền bình đẳng “Tất
cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương
diện chính trị, kinh tế, văn hóa”, “tất cả công
dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều
được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc
tùy theo tài năng và đức hạnh của mình”, “dân tộc
thiểu số được giúp đỡ về mọi mặt...”, “đàn bà
ngang quyền đàn ông về mọi phương diện”. Công dân
Việt Nam có quyền “tự do ngôn luận, tự do xuất
bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng,
tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”;
Quyền “bất khả xâm phạm thân thể khi chưa có quyết
định của cơ quan tư pháp, bất khả xâm phạm về nhà
ở và thư tín; Hiến pháp cũng quy định những quyền
lợi cụ thể của công dân được Nhà nước bảo đảm như
“quyền tư hữu tài sản, quyền được giúp đỡ của
những người già, tàn tật, quyền được săn sóc, giáo
dưỡng của trẻ em, quyền được học tập, học trò
nghèo được Chính phủ giúp đỡ...”.
Một trong những
quyền rất quan trọng và cơ bản của công dân là
quyền bầu cử, ứng cử. Hiến pháp quy định nguyên
tắc dân chủ nhất trong bầu cử đó là: “Chế độ bầu
cử là phổ thông đầu phiếu. Bỏ phiếu phải tự do,
trực tiếp và kín”, “tất cả công dân Việt Nam, từ
18 tuổi trở lên, không phân biệt gái, trai, đều có
quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những
người mất công quyền. Người ứng cử phải là người
có quyền được bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi và
phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Ngoài quy
định về quyền bầu cử, ứng cử, Hiến pháp cũng quy
định quyền của nhân dân trong việc “bãi miễn các
đại biểu mình đã bầu ra...”.
Về QH: Theo Hiến
pháp 1946, QH được gọi là Nghị viện nhân dân, “là
cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa”, có quyền “giải quyết mọi vấn đề
chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu
quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ
ký với nước ngoài...”. Việc gọi QH là Nghị viện
nhân dân là do điều kiện lịch sử cụ thể khó khăn
và phức tạp lúc bấy giờ. Điều đó thể hiện tư tưởng
đoàn kết dân tộc, sự mềm dẻo trong chính sách của
Đảng và Bác Hồ vĩ đại. Tuy gọi là Nghị viện nhưng
Nghị viện của nước ta lúc ấy không phải là Nghị
viện kiểu dân chủ tư sản mà là Nghị viện nhân dân
– dân chủ nhân dân. Hiến pháp quy định về tổ chức,
cơ chế hoạt động, quyền hạn của Nghị viện, quyền
hạn của Ban Thường trực, quyền và trách nhiệm của
Nghị viện (đại biểu) như “Nghị viện nhân dân do
công dân Việt Nam bầu ra. Ba năm bầu một lần. Cứ 5
vạn dân thì có một Nghị viện...”, “Nghị viện nhân
dân bầu một Nghị viện trưởng, 2 Phó nghị trưởng,
12 ủy viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết để lập
thành Ban Thường trực...”, “phải có quá nửa tổng
số Nghị viện tới họp, hội nghị mới được biểu
quyết. Nghị viện quyết nghị theo quá nửa số nghị
viện có mặt. Nhưng muốn tuyên chiến thì phải có
2/3 số Nghị viện có mặt bỏ phiếu thuận”, “Những
việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân
dân phúc quyết, nếu 2/3 tổng số Nghị viện đồng ý”,
“khi nào 2/3 tổng số Nghị viện đồng ý, Nghị viện
có thể tự giải tán. Ban Thường vụ thay mặt Nghị
viện tuyên bố tự giải tán...”.
(còn nữa)
Nguồn: Báo Người
đại biểu nhân dân số 205, thứ năm, ngày 27-10-2005
|