Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

Hiến pháp 1946, đạo luật cơ bản, văn bản chính trị – pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta (Phần 2)

Trần Minh 

Về Chính phủ: Hiến pháp đã ghi “Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa”, “Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Phó chủ tịch và Nội các... Nội các có Thủ tướng, các bộ trưởng, thứ trưởng. Có thể có Phó thủ tướng”, “Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chọn trong Nghị viện nhân dân và phải được 2/3 tổng số Nghị viện bỏ phiếu thuận; Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước là 5 năm...”, “Phó chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong nhân dân và bầu theo lệ thường, nhiệm kỳ của Phó chủ tịch theo nhiệm kỳ của Nghị viện...”.

Hiến pháp quy định quyền hạn của Chính phủ trong việc thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện; Đề nghị những dự án sắc luật ra trước Nghị viện; Đề nghị những dự án sắc luật ra trước Ban Thường trực trong lúc Nghị viện không họp mà gặp trường hợp đặc biệt; Bãi bỏ mệnh lệnh và nghị quyết của cơ quan cấp dưới nếu cần thiết; Bổ nhiệm hoặc cách chức các nhân viên trong các cơ quan hành chính hoặc chuyên môn; Thi hành luật động viên và mọi phương sách cần thiết để giữ gìn đất nước; Lập dự án ngân sách hằng năm...

Hiến pháp quy định việc Nội các phải từ chức nếu không được sự tín nhiệm của Nghị viện “trong hạn 24 giờ sau khi Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các, thì Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền đưa vấn đề tín nhiệm ra Nghị viện thảo luận lại. Sau cuộc thảo luận và biểu quyết này, nếu Nội các mất tín nhiệm thì phải từ chức”.

Về quyền hạn của Chủ tịch Nước, Hiến pháp quy định Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có những quyền rất to lớn: “thay mặt cho nước; Giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái trong lục quân, hải quân, không quân; Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, nhân viên Nội các và nhân viên cao cấp thuộc các cơ quan Chính phủ; Chủ tọa Hội đồng Chính phủ ban bố các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị, thưởng huy chương và các bằng cấp danh dự; Đặc xá; Ký hiệp ước với nước ngoài; Phái đại biểu Việt Nam đến nước ngoài và tiếp nhận đại biểu ngoại giao của các nước; Tuyên chiến hay đình chiến khi Nghị viện không họp...”.

Về HĐND và UB hành chính: Theo Hiến pháp 1946, hệ thống tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UB hành chính được quy định như sau: Về phương diện hành chính nước Việt Nam gồm có ba bộ: Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ. Bộ chia thành tỉnh, tỉnh chia thành huyện, huyện chia thành xã. HĐND có ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã, do đầu phiếu phổ thông và trực tiếp bầu ra. HĐND tỉnh, thành phố, thị xã, xã cử ra UB hành chính. Ở cấp bộ và huyện, chỉ có UB hành chính.

Về nhiệm vụ của HĐND, Hiến pháp quy định HĐND quyết nghị về những vấn đề thuộc địa phương mình; Những nghị quyết ấy không được trái với chỉ thị của các cấp trên.

Về nhiệm vụ của UB hành chính, Hiến pháp quy định UB hành chính có trách nhiệm thi hành các mệnh lệnh của cấp trên; Thi hành các nghị quyết của HĐND địa phương mình sau khi được cấp trên chuẩn y; Chỉ huy công việc hành chính ở địa phương.

Về cơ quan Tư pháp, Hiến pháp quy định hệ thống tổ chức và thẩm quyền của cơ quan Tư pháp như sau: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gồm có: Tòa án tối cao; Các Tòa án phúc thẩm; Các Tòa ánh đệ nhị và sơ cấp. Thẩm phán do Chính phủ bổ nhiệm. Việc xét xử chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp...

Gần 60 năm đã trôi qua, nhưng tư tưởng về độc lập dân tộc, dân chủ của nhân dân, quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân và những nội dung pháp lý mang tính dân chủ, tiến bộ thể hiện trong bản Hiến pháp 1946 vẫn còn nguyên ý nghĩa chính trị – pháp lý sâu sắc. Đánh dấu bước khởi đầu của nền lập hiến cách mạng Việt Nam, Hiến pháp 1946 đã đặt nền móng quan trọng trong quá trình lập hiến của Nhà nước ta. Những nội dung của Hiến pháp 1946 đã được kế thừa, hoàn thiện và phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng của đất nước. Chính vì vậy, ngay từ lúc Hiến pháp 1946 ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc và cách mạng Việt Nam, Người trực tiếp chỉ đạo xây dựng Hiến pháp đã nói: “... Hiến pháp 1946 là Bản hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà; Là một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á – Đông. Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới rằng nước Việt Nam đã độc lập, dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do, phụ nữ Việt Nam đã được ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp.

Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân số 206, thứ sáu, ngày 28-10-2005

 

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện