|
Hiến pháp 1946, đạo luật cơ bản, văn bản chính trị
– pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta (Phần 2)
Trần Minh
Về Chính phủ: Hiến pháp đã ghi “Cơ quan hành chính
cao nhất của toàn quốc là Chính phủ Việt Nam dân
chủ cộng hòa”, “Chính phủ gồm có Chủ tịch nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa, Phó chủ tịch và Nội
các... Nội các có Thủ tướng, các bộ trưởng, thứ
trưởng. Có thể có Phó thủ tướng”, “Chủ tịch nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa chọn trong Nghị viện
nhân dân và phải được 2/3 tổng số Nghị viện bỏ
phiếu thuận; Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước là 5
năm...”, “Phó chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa trong nhân dân và bầu theo lệ thường, nhiệm kỳ
của Phó chủ tịch theo nhiệm kỳ của Nghị viện...”.
Hiến pháp quy định quyền hạn của Chính phủ trong
việc thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị
viện; Đề nghị những dự án sắc luật ra trước Nghị
viện; Đề nghị những dự án sắc luật ra trước Ban
Thường trực trong lúc Nghị viện không họp mà gặp
trường hợp đặc biệt; Bãi bỏ mệnh lệnh và nghị
quyết của cơ quan cấp dưới nếu cần thiết; Bổ nhiệm
hoặc cách chức các nhân viên trong các cơ quan
hành chính hoặc chuyên môn; Thi hành luật động
viên và mọi phương sách cần thiết để giữ gìn đất
nước; Lập dự án ngân sách hằng năm...
Hiến pháp quy định việc Nội các phải từ chức nếu
không được sự tín nhiệm của Nghị viện “trong hạn
24 giờ sau khi Nghị viện biểu quyết không tín
nhiệm Nội các, thì Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa có quyền đưa vấn đề tín nhiệm ra Nghị
viện thảo luận lại. Sau cuộc thảo luận và biểu
quyết này, nếu Nội các mất tín nhiệm thì phải từ
chức”.
Về quyền hạn của Chủ tịch Nước, Hiến pháp quy định
Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có những
quyền rất to lớn: “thay mặt cho nước; Giữ quyền
Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc
cách chức các tướng soái trong lục quân, hải quân,
không quân; Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, nhân
viên Nội các và nhân viên cao cấp thuộc các cơ
quan Chính phủ; Chủ tọa Hội đồng Chính phủ ban bố
các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị, thưởng
huy chương và các bằng cấp danh dự; Đặc xá; Ký
hiệp ước với nước ngoài; Phái đại biểu Việt Nam
đến nước ngoài và tiếp nhận đại biểu ngoại giao
của các nước; Tuyên chiến hay đình chiến khi Nghị
viện không họp...”.
Về HĐND và UB hành chính: Theo Hiến pháp 1946, hệ
thống tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và
UB hành chính được quy định như sau: Về phương
diện hành chính nước Việt Nam gồm có ba bộ: Bắc
bộ, Trung bộ, Nam bộ. Bộ chia thành tỉnh, tỉnh
chia thành huyện, huyện chia thành xã. HĐND có ở
tỉnh, thành phố, thị xã và xã, do đầu phiếu phổ
thông và trực tiếp bầu ra. HĐND tỉnh, thành phố,
thị xã, xã cử ra UB hành chính. Ở cấp bộ và huyện,
chỉ có UB hành chính.
Về nhiệm vụ của HĐND, Hiến pháp quy định HĐND
quyết nghị về những vấn đề thuộc địa phương mình;
Những nghị quyết ấy không được trái với chỉ thị
của các cấp trên.
Về nhiệm vụ của UB hành chính, Hiến pháp quy định
UB hành chính có trách nhiệm thi hành các mệnh
lệnh của cấp trên; Thi hành các nghị quyết của
HĐND địa phương mình sau khi được cấp trên chuẩn
y; Chỉ huy công việc hành chính ở địa phương.
Về cơ quan Tư pháp, Hiến pháp quy định hệ thống tổ
chức và thẩm quyền của cơ quan Tư pháp như sau:
Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gồm có: Tòa án tối
cao; Các Tòa án phúc thẩm; Các Tòa ánh đệ nhị và
sơ cấp. Thẩm phán do Chính phủ bổ nhiệm. Việc xét
xử chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không
được can thiệp...
Gần 60 năm đã trôi qua, nhưng tư tưởng về độc lập
dân tộc, dân chủ của nhân dân, quyền lực Nhà nước
thuộc về nhân dân và những nội dung pháp lý mang
tính dân chủ, tiến bộ thể hiện trong bản Hiến pháp
1946 vẫn còn nguyên ý nghĩa chính trị – pháp lý
sâu sắc. Đánh dấu bước khởi đầu của nền lập hiến
cách mạng Việt Nam, Hiến pháp 1946 đã đặt nền móng
quan trọng trong quá trình lập hiến của Nhà nước
ta. Những nội dung của Hiến pháp 1946 đã được kế
thừa, hoàn thiện và phát triển trong các Hiến pháp
Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng của đất nước.
Chính vì vậy, ngay từ lúc Hiến pháp 1946 ra đời,
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân
tộc và cách mạng Việt Nam, Người trực tiếp chỉ đạo
xây dựng Hiến pháp đã nói: “... Hiến pháp 1946 là
Bản hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà; Là
một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi
Á – Đông. Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó
đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp
đó tuyên bố với thế giới rằng nước Việt Nam đã độc
lập, dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do,
phụ nữ Việt Nam đã được ngang hàng với đàn ông để
được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân.
Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt
chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần
liêm khiết, công bình của các giai cấp.
Nguồn: Báo Người
đại biểu nhân dân số 206, thứ sáu, ngày 28-10-2005
|