|
CUỘC
TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN NĂM 1946 -
MỘT MỐC SON LỊCH SỬ NHẢY VỌT VỀ THỂ CHẾ DÂN CHỦ
PGS LÊ MẬU HÃN
Trong Sắc lệnh về Tổng tuyển cử năm 1945, Chủ
tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Tổng tuyển cử là một
dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những
người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước
nhà". Cuộc Tổng tuyển cử này chính là một mốc
son lịch sử nhảy vọt về thể chế dân chủ của Việt
Nam.
Cuộc Tổng khởi nghĩa dân tộc Tháng Tám năm 1945
thắng lợi, chính quyền cách mạng được thành lập
trong cả nước. Ngày 25-8-1945, Chủ tịch Ủy ban
Giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh trở về Hà Nội.
Theo đề nghị của Người, Ủy ban tự cải tổ, mời
thêm một số nhân sĩ tham gia lập Chính phủ lâm
thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (28-8-1945),
một chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng
trách chỉ đạo quốc dân, đợi ngày triệu tập được
Quốc hội để cử ra một Chính phủ dân chủ cộng hòa
chính thức.
Ngày 30-8-1945, tại TP Huế,
trước hàng vạn quần chúng đến dự, Phái đoàn
Chính phủ Trung ương do đồng chí Trần Huy Liệu,
Bộ trưởng Bộ Thông tin - Tuyên truyền làm Trưởng
đoàn, thay mặt Chính phủ, đã chấp nhận Tuyên cáo
thoái vị của Hoàng đế Bảo Ðại để Chính phủ dân
chủ cộng hòa điều khiển quốc dân; triệt để ủng
hộ Chính phủ giữ vững nền độc lập nước nhà; giao
nộp ấn, kiếm cho Phái đoàn để từ nay trở đi được
làm dân tự do của một nước độc lập. Sự thoái vị
của Bảo Ðại có ý nghĩa "là đã "hợp pháp hóa",
theo một số truyền thống ngày nay đã được thừa
nhận trên thế giới, chính quyền cách mạng đã
được thừa nhận, hợp pháp hóa một cách vẻ vang...".
Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt
Chính phủ long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập,
tuyên bố về quyền dân tộc của các nước trên thế
giới là bất khả xâm phạm. Ðó là "Tất cả các dân
tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc
nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và
quyền tự do".
Các nguyên tắc dân tộc, bình đẳng đã được các
nước Ðồng minh công nhận ở các Hội nghị
Tê-hê-răng và Cựu kim sơn quyết không thể không
công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam. Dân
tộc Việt Nam phải được tự do! Dân tộc Việt Nam
phải được độc lập!
Chính vì lẽ đó, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa trịnh trọng tuyên bố với thế
giới rằng: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do
và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do
độc lập".
Quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam được
khẳng định trong Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch
Hồ Chí Minh công bố ngày 2-9-1945 đã đặt cơ sở
pháp lý quan trọng ngay từ đầu khai sinh nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Việt Nam đã thành một nước độc lập, tự do. Chính
phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới
thành lập là cơ quan điều hành nhà nước cao nhất
giữ trọng trách lịch sử, chỉ đạo toàn dân thực
thi ngay các nhiệm vụ cấp bách về nội trị, ngoại
giao, về quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội đợi
đến ngày bầu Quốc hội, cơ quan đại biểu cao nhất
của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao
nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để cử ra
một Chính phủ chính thức, hợp pháp, hợp hiến.
Việc quy định Hiến pháp, thành lập Chính phủ
chính thức là một trong những nhiệm vụ hàng đầu
để củng cố và tăng cường chính quyền của nhân
dân, cho nên ngay ngày 3-9-1945, trong phiên họp
đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu
rõ, dưới chế độ chuyên chế của thực dân và phong
kiến "nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta
không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta
phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính
phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử
với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân
trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và
bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo,
dòng giống...".
Ðề nghị đó có giá trị lịch sử như một "Tuyên bố
lập hiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngày 8-9-1945, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số
14/SL quy định sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu
Quốc hội. Sắc lệnh cũng quy định Quốc hội có
toàn quyền ấn định Hiến pháp cho nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa. Một Ủy ban dự thảo Hiến pháp
gồm bảy thành viên do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm
Trưởng ban đã được thành lập theo Sắc lệnh số
34/SL ngày 20-9-1945. Ngày 17-10-1945, Chính phủ
ký Sắc lệnh số 51/SL quy định tổng tuyển cử bằng
phổ thông đầu phiếu. Ðây là những sắc lệnh quan
trọng đầu tiên về xây dựng quyền làm chủ của
công dân Việt Nam đối với vận mệnh đất nước qua
việc bầu cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân,
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chủ tịch Hồ Chí Minh
nói rõ: "Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể
quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có
đức, để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc
Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc
nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân
thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai,
giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng
phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai
quyền đó. Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là
tự do, bình đẳng, tức là dân chủ đoàn kết".
Cuộc chuẩn bị Tổng tuyển cử diễn ra rất khẩn
trương trong điều kiện vừa kháng chiến ở miền
nam, vừa phải giải quyết các nhiệm vụ nội trị,
ngoại giao, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội
trong cả nước. Ðây thật sự là một cuộc đấu tranh
rất gay go, phức tạp. Dựa vào các thế lực của
quân đội nước ngoài có mặt trên đất nước ta lúc
bấy giờ, các phần tử phản bội Tổ quốc, các tổ
chức đối lập, nhất là Việt Quốc, Việt Cách ra
sức chống đối Tổng tuyển cử, đưa ra những yêu
sách vô lý như đòi chiếm một phần ba số ghế đại
biểu trong Quốc hội, đòi giữ các Bộ Tài chính,
Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục, Bộ Thanh niên trong
Chính phủ...
Chính phủ đã kiên quyết bác bỏ mọi yêu sách vô
lý và chống lại mọi âm mưu phá hoại của Việt
Quốc và Việt Cách, đồng thời kiên trì và khôn
khéo nhân nhượng để tạo sự ổn định tình hình cho
cuộc Tổng tuyển cử. Ðại diện của Việt Minh và
Việt Quốc, Việt Cách đã thương lượng, ký các văn
bản ghi nhận tinh thần, nguyên tắc và các biện
pháp hợp tác, trong đó có các điểm quan trọng:
coi độc lập và đoàn kết trên hết, ủng hộ Tổng
tuyển cử, đình chỉ công kích lẫn nhau, mở rộng
Chính phủ lâm thời... Chính vì vậy, ngày
1-1-1946, Chính phủ lâm thời tự cải tổ thành
Chính phủ liên hiệp lâm thời, mở rộng thêm một
số thành viên của Việt Quốc, Việt Cách. Chính
phủ liên hiệp lâm thời gồm 18 thành viên, vẫn do
Hồ Chí Minh giữ chức Chủ tịch kiêm Ngoại giao,
Nguyễn Hải Thần (Việt Cách) là Phó Chủ tịch...
Công tác chuẩn bị Tổng tuyển cử được Chính phủ
chỉ đạo chặt chẽ từ Trung ương đến các địa
phương. Các ban bầu cử ở các làng, xã do Ủy ban
Nhân dân trực tiếp đảm nhiệm.
Những người có tài, có đức muốn lo việc nước đã
ra ứng cử hoặc được quần chúng giới thiệu ra ứng
cử. Những người có năng lực hành chính trong các
Ủy ban Nhân dân, những thân hào, thân sĩ ra ứng
cử cùng đứng tên chung một sổ quốc gia liên hiệp
với những người ứng cử của Việt Minh.
Cuộc vận động và tuyên truyền về bầu cử và ứng
cử diễn ra sôi nổi và phong phú khắp cả nước.
Các cơ quan thông tin đại chúng, nhất là các báo
Cứu Quốc, Sự Thật giữ vai trò quan trọng trong
việc hướng dẫn, cổ vũ quần chúng, thông tin về
Tổng tuyển cử trong cả nước và đấu tranh phê
phán sự xuyên tạc của các lực lượng chính trị
đối lập. Ðặc biệt, tờ Nhật báo Quốc hội chỉ ra
trong thời kỳ Tổng tuyển cử nhằm mục đích nêu rõ
giá trị của cuộc Tổng tuyển cử, giới thiệu khả
năng, thành tích và chương trình của những người
ứng cử...
Danh sách những người ứng cử ở các tỉnh, thành
phố... được công bố công khai để nhân dân tự do
lựa chọn.
Ngày 6-1-1946, cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên -
Quốc hội lập hiến của nước Việt Nam diễn ra
trong cả nước, kể cả các vùng đang có chiến sự ở
Nam Bộ, Nam Trung Bộ, ở Tây Nguyên... Ở Hà Nội,
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng hàng vạn cử tri đã
thực hiện quyền lợi công dân trong ngày lịch sử
6-1-1946, ngày hội dân chủ cao nhất của mọi công
dân. Người đi bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội ở
phòng bỏ phiếu đặt tại nhà số 10 phố Hàng Vôi
(nay là phố Lý Thái Tổ). Sau đó, Người còn đến
thăm một số phòng bỏ phiếu ở phố Hàng Bạc, Hàng
Gai, Hàng Trống, Thụy Khuê, Ô Ðông Mác.
Cuộc bầu cử tại các tỉnh không có chiến sự ở
miền bắc và miền trung diễn ra an toàn, mặc dù
một số nơi phải đấu tranh quyết liệt để ngăn
chặn sự phá hoại của bọn đối lập cực đoan. Riêng
ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, cuộc bầu
cử diễn ra vô cùng khó khăn, quyết liệt do sự
đánh phá của thực dân Pháp. Ở nhiều nơi, máu của
cán bộ, chiến sĩ của chúng ta đã đổ. Tại Sài Gòn
- Chợ Lớn, 42 cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong khi
làm nhiệm vụ Tổng tuyển cử, trong đó có đồng chí
Nguyễn Văn Tư, Ủy viên Ban Quản trị Tổng Công
đoàn Nam Bộ. Ở Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Tân
An, Tây Nguyên, quân đội Pháp cũng ném bom, bắn
phá, làm một số người chết và bị thương.
Cuộc vận động Tổng tuyển cử bầu Quốc hội nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 thật sự là
một cuộc đấu tranh chính trị vô cùng khó khăn và
không kém phần quyết liệt, thậm chí đã đổ máu để
thực thi quyền dân chủ chính trị của mọi công
dân nước Việt Nam độc lập, tự do ngay trong
những tháng đầu cách mạng mới thành công.
Kết quả, cuộc đấu tranh đó đã thành công rực rỡ.
Ở 71 tỉnh, thành phố trong cả nước, 89% số cử
tri đã đi bầu cử, bầu được 333 đại biểu, trong
đó 57% số đại biểu thuộc các đảng phái yêu nước
và cách mạng khác nhau, 43% không đảng phái, 10
đại biểu nữ, 34 đại biểu các dân tộc thiểu số.
Trong cuộc Tổng tuyển cử này, mọi công dân Việt
Nam đều tự do và bình đẳng thực hiện quyền bầu
cử và ứng cử vào Quốc hội. Trong số hàng nghìn
người ra ứng cử, nhân dân đã tự mình lựa chọn
bầu được 333 đại biểu. Riêng ở Hà Nội, cử tri đã
chọn được sáu đại biểu trong số 74 người ứng cử
ở thành phố này. Quốc hội đã hội tụ các đại biểu
của cả ba miền bắc, trung, nam, đại diện cho ý
chí của dân tộc, có đại diện của các thế hệ
người Việt Nam, đại diện của Ðảng Cộng sản, Ðảng
Dân chủ, của Việt Minh, các ngành, các giới, các
giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số,
các tôn giáo; có những nhà tư sản dân tộc, công
thương, những nhân sĩ, trí thức, kể cả sự có mặt
của Vĩnh Thụy, người vừa mới tuyên cáo thoái vị
trước đó mấy tháng và những người vốn là quan
lại cấp cao của chế độ cũ...
Thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử dẫn đến kỳ họp thứ
nhất của Quốc hội ngày 2-3-1946 là một bước tiến
của tổ chức cơ quan nhà nước cao nhất của Việt
Nam. Quốc hội đã bầu ra Ban Thường trực Quốc hộ
do học giả Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban và thành
lập Chính phủ chính thức - Chính phủ liên hiệp
kháng chiến do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ
tịch. Tổ chức nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đã có cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là
Quốc hội và cơ quan hành chính cao nhất là Chính
phủ, một Nhà nước của dân tộc, do dân tộc và vì
dân tộc, có đủ tư cách pháp lý và uy tín để thực
hiện những nhiệm vụ lịch sử trọng đại của đất
nước. Ðứng trước tình thế nước nhà đang bị thực
dân Pháp xâm lược, Quốc hội đã công nhận Chính
phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí
Minh đứng đầu, một vị Chủ tịch được Quốc hội tôn
vinh "xứng đáng với Tổ quốc" và "trao quyền
bính" cho Chính phủ tùy theo tình thế để thực
hiện nhiệm vụ đưa kháng chiến đến thắng lợi và
nước nhà đến độc lập hoàn toàn.
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất
có nhiệm vụ và đã thông qua bản Hiến pháp đầu
tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một
Hiến pháp dân chủ, khẳng định quyền dân tộc độc
lập, thống nhất lãnh thổ, xây dựng thể chế dân
chủ cộng hòa, một chế độ bảo đảm quyền tự do của
mọi công dân không phân biệt nam nữ, giàu nghèo,
đặc biệt ưu đãi đối với đồng bào các tộc thiểu
số. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ, Ðây là bản "Hiến
pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà" và cũng là
bản Hiến pháp đầu tiên ở Ðông - Nam Á. Hiến pháp
đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã được
độc lập, dân Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do.
Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt
chẽ giữa các tộc người ở Việt Nam và một tinh
thần liêm khiết, công bằng của các giai cấp.
Quốc hội đã chuẩn y Quyết định ủy nhiệm cho
Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội dựa vào
các nguyên tắc đã định trong Hiến pháp để ban
hành các luật. Với quyết định đó, Quốc hội tiếp
tục hoạt động, gánh vác trách nhiệm mới, làm
nhiệm vụ lập hiến và lập pháp phù hợp với điều
kiện lịch sử cụ thể Việt Nam lúc bấy giờ.
Thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của Việt
Nam năm 1946 đã bầu ra Quốc hội, cơ quan quyền
lực nhà nước cao nhất. Quốc hội đã cử ra Chính
phủ chính thức, ấn định cho Việt Nam một Hiến
pháp dân chủ, công bằng của các giai cấp là một
mốc son đánh dấu bước nhảy vọt lịch sử về thể
chế dân chủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Thắng lợi đó là một minh chứng hùng hồn về giá
trị sáng tạo và tính thực tiễn của tư tưởng Nhà
nước pháp quyền của dân tộc, do dân tộc và vì
dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bản án chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt
Nam, Phần II, NXB Lao động, H.1997,
tr.102.
Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, NXB CTQG,
H.1995.
|