|
QUỐC
HỘI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG THAM NHŨNG
Mai Thúc Lân
Từ giữa nhiệm kỳ Quốc hội khoá VIII, vấn đề
chống tham nhũng đã được nêu lên trong các phiên
họp tai hội trường với nhiều ý kiến tâm huyết và
sâu sắc của nhiều đại biểu. Ngày đó, vụ án của
thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp Thân Trung Hiếu về việc
khai thác, mua bán gỗ trái phép đã được đề cập
như là một vụ tham nhũng điển hình có sự tham
gia của cán bộ cao cấp. Một số ý kiến chất vấn
khá gay gắt Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân
tối cao Trần Quyết vì sao vụ án đó lại không đưa
ra xét xử theo Luật Hình sự. Anh Trần Quyết đã
phải giải trình cụ thể về mức độ sai phạm của
Thân Trung Hiếu và nói rõ với mức độ sai phạm đó
chỉ đến mức thi hành kỷ luật hành chính. Anh
Quyết cũng đã lấy danh dự của một Viện trưởng,
của một cán bộ cách mạng luôn luôn đi đầu trên
trận tuyến chống tiêu cực mà nói với Quốc hội là
trong vụ án này, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
cũng như cá nhân Viện trưởng không hề có ý nương
nhẹ, bao che mà đã xem xét đúng người, đúng tội,
Quốc hội mới cho qua.
Kể ra như thế để thấy là từ ngày đó, Quốc hội
đã đấu ttanh quyết liệt với tệ tham nhũng, mặc
dù những vụ tham nhũng lúc đó so với những vụ
tham nhũng bây giờ thì còn rất nhỏ. Tôi nhớ là
trong một phiên họp thảo luận về tình hình,
nhiệm vụ kinh tế- xã hội, ngân sách ( vào cuối
năm 1991 ),nhiều đại biểu đã đề cập đến những
thất thoát, tiêu cực trong việc xây dựng các
công trình và tỏ ra rất bức xúc, yêu cầu Chính
phủ phải có giải pháp để chấm dứt tình trạng đó.
Anh Vũ Đình Cự, lúc đó là Phó Chủ nhiệm Uỷ Ban
Khoa học và công nghệ của Quốc hội đã nêu ý kiến
có thể coi đó là một đề tài khoa hoc nên giao
cho một đơn vị hoặc một cơ quan khoa học nào
nghiên cứu đề xuất giải pháp chông thất thoát,
tiêu cực trong xây dựng. Và nếu đề tài có tính
khả thi, thực hiện có hiệu quả thì cần thưởng
cho họ một cách thích đáng, có thể là một phần
ba số thu được từ thất thoát. Nhưng đó cũng chỉ
là một ý tưởng nên đã lặng lẽ trôi qua.
Đến Quốc hội khoá IX (1992- 1997) trong bài phát
biểu trước Quốc hội khi nhận chức Thủ tướng, anh
Võ Văn Kiệt đã gọi tệ tham nhũng là quốc nạn.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7 ghi
rõ quan liêu tham nhũng là một trong 4 nguy cơ.
Và trong các phiên thảo luận của Quốc hội, vấn
đề chống tham nhũng lại được lên án khá gay gắt,
nhưng tham nhũng cứ phát triển ngày càng rộng
hơn, lớn hơn. Trong phiên họp cuối năm 1993,
thay mặt Uỷ Ban Kinh tế Ngân sách của Quốc hội,
tôi đọc thuyết trình về Nhiệm vụ năm 1994, khi
đề cập đến tệ tham nhũng, bản thuyết trình có
nhận xét là “hầu như chúng ta bất lực với cuộc
đấu tranh chống tham nhũng”. Khi giải lao, một
số đại biểu nói với tôi: “Sao ông bi quan thế,
ta có Đảng, có chính quyền, có các cơ quan pháp
luật... làm sao lại bất lực với việc chống tham
nhũng được”. Nhưng cũng có nhiều đại biểu đồng
tình cho là đã nêu đúng thực trạng và muốn chống
tham nhũng có hiệu quả, cần phải quyết liệt hơn
nữa. Ngày đó, đã có một số ý kiến nêu lên là
Quốc hội cần ra một nghị quyết về chống tham
nhũng,nhưng cũng lại có nhiều ý kiến cho là tình
hình chưa đến mức phải ra nghị quyết. Nên để
Chính phủ lập Ban Chỉ đạo chống tham nhũng ở
Trung ương và các Ban chống tham nhũng ở các Bộ,
các địa phương do các Bộ trưởng và Chủ tịch Uy
Ban Nhân dân tỉnh làm trưởng ban.
Những tưởng là tệ tham nhũng sẽ được hạn chế và
đẩy lùi, nhưng ngược lại nó vẫn cứ phát triển.
Trong một kỳ họp sau đó, các đại biểu đã chất
vấn anh Nguyễn Kỳ Cẩm là phó ban thường trực
chống tham nhũng của chính phủ vì sao hoạt động
của ban không có hiệu lực, không có hiệu quả.
Anh Cẩm đã phát biểu một cách thẳng thắn và dí
dỏm là làm sao có hiệu quả, hiệu lực được khi
cái ban này là cái ban “không quân, không quyền,
không quyết”. Cuộc thảo luận về chống tham nhũng
trong phiên họp ấy đã trở nên rất bức xúc, rất
quyết liệt. Có ý kiến nêu lên là chúng ta đề ra
chống tham nhũng nhưng “ai chống, chống ai?”. Và
chống tham nhũng theo kiểu “cả làng đánh cướp”,
nghĩa là ai cũng hô đánh, nhưng chẳng ai đánh cả
thì làm sao chống được! Vì tình hình ngày càng
phức tạp, nhưng luật về chống tham nhũng chưa
thể xây dựng và ban hành ngay được, nên Quốc hội
khoá IX đã nhất trí sửa đổi, bổ sung bộ Luật
Hình sự, trong đó có thêm mục Các tội phạm về
tham nhũng và mục Các tội phạm khác về chức vụ
đã đề ra các hình phạt rất nghiêm khắc trong các
điều 278 (Tội tham ô tài sản), điều 279 (Tội
nhận hối lộ), điều 283 (Tội lợi dụng chức vụ,
quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để
trục lợi) điều 289 (Tội đưa hối lộ), điều 290
(Tội môi giới hối lộ)... Quốc hội thảo luận sôi
nổi và tán thành với những hình phạt nghiêm khắc
đối với các tội danh liên quan đến tham nhũng
nhằm tỏ rõ thái độ của Quốc hội trong đấu tranh
chống tham nhũng, đồng thời cũng để răn đe những
kẻ rắp tâm cố tình vi phạm.
Từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khoá X, Quốc hội đã
giao cho Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp
lệnh chông tham nhũng với các điều khoản cụ thể.
Pháp lệnh đã tạo một hành lanh pháp lý nghiêm
khắc, chặt chẽ để bảo đảm cho cuộc đấu tranh
chống tham nhũng đạt hiệu quả hơn. Trong các
cuộc họp của nhiệm kỳ Quốc hội khoá X, khi thảo
luận về tinh hình kinh tế xã hội, ngân sách, về
hoạt động của các cơ quan pháp luật... vấn đề
chống tham nhũng lại được nêu ra với nhiều ý
kiến bức xúc.
Nhưng rồi nạn tham nhũng vẫn phát triển với
những vụ việc ngày càng lớn hơn, nghiêm trọng
hơn và lan ra trong hầu hết các lĩnh vực, từ
kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế cho đến thanh
tra, toà án, kiểm sát, từ Trung uơng đến cơ sở.
Ý kiến chung của xã hội cho là để tình hình tham
nhũng diễn biến ngày càng xấu và phức tạp như
thế là do việc chống tham nhũng từ cấp lãnh đạo
cao nhất vẫn chưa thật kiên quyết, chưa thật
đồng bộ, chưa phát động được lực lượng nhân dân
vào cuộc đấu tranh sinh tử này. Hầu như vừa qua
nói nhiều, nhưng làm chưa được bao nhiêu, vẫn
còn né tránh, bao che... nên những kẻ có ý đồ
tham nhũng vẫn không chùn tay.
Nhiệm kỳ khoá XI này, Quốc hôị đang đưa toàn văn
dự thảo Luật phòng chống tham nhũng ra cho toàn
dân thảo luận đóng góp ý kiến để chuẩn bị cho
Quốc hội thông qua vào kỳ họp cuối năm nay.
Dự thảo luật nếu được Quốc hội thông qua sẽ thay
thế Pháp lệnh trước đây và đã được thiết kế đến
88 điều, nhiều hơn Pháp lệnh đến 50 điều. Dư
luận chung cho là việc ban hành luật này là cần
thiết, coi như Quốc hội đã tuyên chiến với nạn
tham nhũng, như đại biểu Quốc hội Dương Trung
Quốc đã phát biểu trên báo chí “đấu tranh này là
trận cuối cùng” vì đã ra luật rồi mà không chống
được tham nhũng thì coi như hết cách. Song vấn
đề quan trọng hơn là có luật rồi nhưng tổ chức
thi hành luật thế nào cho có hiệu quả mới là
điều cử tri cả nước quan tâm. Vì dù luật có đầy
đủ, cụ thể đến đâu nhưng việc tổ chức thi hành
luật không nghiêm minh, không chặt chẽ, không
kiên quyết thì luật cũng dễ trở thành vô hiệu.
Nếu thời gian qua,việc thi hành Pháp lệnh chống
tham nhũng ở các bộ, các ngành, các địa phương
nghiêm túc, minh bạch... thì đã hạn chế được
nhiều vụ tham nhũng lớn mà báo chí, công luận
qua đã phanh phui. Đương nhiên, luật càng chặt
chẽ, cụ thể thì sẽ hỗ trợ rất nhiều cho việc đấu
tranh chống tham nhũng. Và theo tôi, việc tổ
chức Ban phòng, chống tham nhũng theo cả hai dự
án được nêu ra lấy ý kiến trong dự thảo luật là
sẽ không cải thiện được tình hình,là lại đi vào
“vết xe cũ”, là “đánh bùn sang ao”, là “vừa đá
bóng, vừa thổi còi”. Cần phải có một tổ chức đủ
mạnh, đủ quyền hạn, nhân lực, phương tiện... để
chỉ đạo thực hiện luật phòng chống tham nhũng.
Ban chống tham nhũng phải do Quốc hội lập ra,
trực thuộc Quốc hội. Nếu không được như thế, ít
ra Quốc hội phải thành lập một Uỷ ban chuyên
trách làm công tác giám sát việc thi hành luật
phòng chống tham nhũng gồm các đại biểu Quốc hội
ở các cơ quan Đảng, đoàn thể, các cơ quan bảo vệ
pháp luật. Quyền hạn, trách nhiệm, tổ chức hoạt
động của cơ quan này do Quốc hội quy định, nhất
là quyền hạn đối với việc yêu cầu các cơ quan
hữu quan, các cơ quan pháp luật xử lý các vụ
tham nhũng được phát hiện.
Cùng với việc ban hành luật phòng chống tham
nhũng, việc thành lập ban chỉ đạo thi hành luật
hoặc Uỷ ban chuyên trach giám sát việc thi hành
luật này, Quốc hội khoá XI sẽ ghi một dấu ấn
lịch sử của mình trong cuộc đấu tranh chống tham
nhũng, đem lại niềm tin tưởng cho cử tri cả nước.
Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân, số 156 ngày
31-8-2005 |