Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

Việc đầu tiên sau ngày Tuyên ngôn độc lập 

Nguyễn Chí Dũng

Lễ kỷ niệm sáu năm nhà nước dân chủ cộng hoà đầu tiên của nước ta - sáu mươi năm sau Lễ tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử - năm nay được tổ chức một cách long trọng, không thiếu gì, từ lễ đài đến các cuộc diễu hành lực lượng và sự đón nhận hồ hởi, tự hào của nhân dân cả nước. Đằng sau những hình thức long trọng không kém so với những ngày đầu lịch sử đó, có hàng loạt những đổi thay mà mỗi một người lại có những cảm nhận khác nhau. Vắng bóng trên lễ đài là những nhân vật còn hoặc không còn nhưng đã vĩnh viễn đi vào lịch sử lập quốc hào hùng. Vắng bóng trong hàng ngũ diễu hành là những người hoặc đã ngã xuống trong nhiều cuộc chiến tranh hoặc còn sống ở đâu đó với những ký ức thiêng liêng trong hiện tại của thời kỳ Đổi mới. Bề dày lịch sử đó đã để lại cho hậu thế một bài học sâu sắc rằng, NHÂN DÂN là sức mạnh làm nên những trang lịch sử oai hùng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn và tầm nhìn của Đảng và Bác Hồ, và về một nền dân chủ thực sự mà người dân tự giành lấy cương vị chủ nhân và thực sự đã làm chủ vận mệnh dân tộc.

Từ hôm nay học lại bài học của những ngày đầu lập quốc, có một sự kiện đáng nhắc để suy ngẫm về quan hệ Đảng-Nhà nước và Nhân dân trong nền dân chủ khai sinh ấy. Đó là một sự kiện trung tâm của những ngày đầu Tháng Chín, sau khi công bố với thế giới và công chúng Việt Nam bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, một bản tuyên bố giành quyền tự quyết của dân tộc, thì vị Chủ tịch của Chính phủ lâm thời- Hồ Chí Minh - đã long trọng đề nghị tại phiên họp Chính phủ lâm thời đầu tiên ngày 3/9/1945 về việc “tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để lập ra một Hiến pháp dân chủ và một chính phủ chính thức (Hồ Chí Minh. Toàn tập, NXB Sự thật, Hà nội, 1987, Tập 4, tr.6-7).

Cảm nhận sự kiện nói trên có thể theo nhiều cách khác nhau, chúng tôi chỉ xin nêu ở đây hai điều cảm nhận về quan niệm NHÂN DÂN trong một nền dân chủ đích thực trong giai đoạn lịch sử thời lập quốc, và  quan niệm về một chính phủ hợp pháp để tiếp tục học bài học của ký ức về mối liên hệ giữa nhà nước và NHÂN DÂN trong bối cảnh hiện nay.

Thứ nhất, trong cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, nhân dân là lực lượng tham gia thực sự chủ động với nhiệt tình cách mạng vô bờ. Tuy nhiên, khi giành được chính quyền, thì bên ngoài, các thế lực ngoại bang, bên trong là các đảng phái chính trị đã tìm mọi cách để lái chính quyền này theo các mục đích chính trị riêng. Thời đó, ai cũng biết rằng để thành lập một nhà nước dân tộc độc lập, phải có lãnh thổ, có dân cư và quan trọng nhất, chính quyền hợp pháp phải dành được sự công nhận của dân. Tuy nhiên, sự khác biệt lớn nhất giữa Đảng cộng sản và các đảng phái chính trị khác thời kỳ này là ở cách nhìn nhận về vai trò của NHÂN DÂN đối với chính quyền. Đảng cộng sản xác định mục đích tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, giữ cho được chính quyền cách mạng của nhân dân vừa giành được, do vậy, phải coi chính quyền là công cụ sắc bén và khối đại đoàn kết toàn dân, hoà hợp dân tộc là phương thức duy nhất đúng để giữ chính quyền (Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000 tr.29). Đảng cộng sản chủ trương hợp pháp hoá và tăng cường chính quyền thông qua thực hiện bầu cử dân chủ, phải “xúc tiến việc đi đến Quốc hội để quy định Hiến pháp, bầu chính phủ chính thức” (Văn kiện Đảng 1945-1954, Ban NSLSĐTW, Hà Nội, 1977, T1 Tr 28). Trong lúc đó, các thế lực phản động trong các đảng phái chính trị Việt Quốc, Việt Cách lại có động cơ chia sẻ quyền lực trong chính quyền, và do động cơ đó, họ coi nhẹ vai trò của nhân dân. Họ chủ trương chống lại Tổng tuyển cử. Trên các tờ báo phản động thời đó như Việt Nam, Thiết thực, Đồng Tâm, các phái muốn chia sẻ quyền lực trong chính quyền đã lập luận rằng, do trình độ dân trí thấp, trên 90% dân mù chữ, nên nhân dân không đủ năng lực thực hiện quyền bầu cử, ứng cử (LSQHVN. Sđd. tr.33). Trong khi đó, Cụ Hồ Chí Minh đề nghị tại phiên họp Chính phủ một ngày sau Tuyên ngôn độc lập rằng, mọi công dân đủ 18 tuổi, không phân biệt trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống đều có quyền ứng cử và bầu cử. Đây là sự khác biệt thứ nhất trong sự nhìn nhận về Dân - Dân trí và Dân chủ trong chính trị. Nhấn mạnh sự khác biệt này, Báo Cứu quốc 24/11/1945 của Việt Minh bình luận rằng “căn cứ vào phong trào đánh Pháp đuổi Nhật vừa qua, ta thấy dân chúng đã có ý thức chính trị một cách khá dồi dào…đủ để phân biệt ai là thù, ai là bạn, ai xứng đáng là đại biểu chân chính của mình… họ chưa biết đọc, biết viết, chưa biết bàn luận những chuyện xa xôi, nhưng có một điều mà họ biết chắc chắn, biết rõ ràng hơn ai hết là quyền lợi của họ...” (LSQHVN. Sđd. tr.33). Lập luận khác của các thế lực chính trị muốn nhanh chóng xí chỗ trong chính quyền mới là: cần tập trung chống Pháp xâm lược mà không nên mất thì giờ vào bầu cử (LSQHVN. Sđd. tr.33). Đó là sự khác biệt thứ hai, theo đó, họ cho rằng, chính quyền không cần nhân dân thừa nhận. Thực chất, đó là một chính quyền không hợp pháp theo cách dân chủ. Còn Cụ Hồ Chí Minh đã khôn khéo ghi nhận nguyên tắc dân chủ để lập chính quyền hợp pháp tại một trong những Sắc lệnh đầu tiên của Chính phủ lâm thời (SL-14 ngày 8/9/45) rằng “nhân dân Việt Nam do Quốc dân đại hội thay mặt là quyền lực tối cao để ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ cộng hoà” (Việt Nam dân quốc Công báo, ngày 29/9/1945). Như vậy, sự kiện đầu tiên sau khi công bố bản Tuyên ngôn độc lập và mọi sự dàn xếp chính trị trong suốt 79 ngày sau đó cho đến khi thực hiện cuộc Tổng tuyển cử, đã thể hiện bản chất của một nhà nước dân chủ nhân dân thực sự, một thử thách chính trị-pháp lý giữa các đảng phái chính trị tham chính thời bấy giờ. Trong sự thử thách này, kết quả Tổng tuyển cử đã cho thấy Đảng cộng sản và Việt Minh đã thành công trong bài học tin vào dân và dựa vào dân để xây dựng một chính quyền hợp pháp và vững mạnh.

Nói đến bài học tin dân và nguyên tắc dân chủ của thời lập quốc, đồng thời ngẫm lại lập luận của phái phản động thời đó về cái gọi là dân trí thấp thì không nên theo lối dân chủ, cũng nên nhắc lại rằng hiện tượng lấy ý kiến nhân dân vào lập pháp lần đầu tiên của Nhà nước ta có lẽ là Bản dự án Hiến pháp đầu tiên được công bố trên báo Cứu quốc ngày 10-11-45 kèm thông cáo của Chính phủ (lâm thời) như sau:  “…muốn cho tất cả nhân dân Việt nam dự vào việc lập Hiến pháp của nước nhà nên Chính phủ công bố bản dự án Hiến pháp này để mọi người được đọc kỹ càng và được tự do bàn bạc phê bình, Uỷ ban dự thảo Hiến pháp sẽ tập hợp các đề nghị sửa đổi và ý kiến của nhân dân rồi trình lên Toàn quốc đại hội bàn luận”. Nếu thấm nhuần bài học lịch sử này, chúng ta có lẽ khỏi phải bàn thêm về “dân trí” hoặc những lo ngại “mất thời gian của dân” hoặc “tốn tiền” trong các đề tài nghiên cứu về lấy ý kiến nhân dân vào các dự án luật và văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian gần đây.

Thứ hai, giả thử Việt Minh ưng theo đề nghị của các đảng phái chính trị khác mà bỏ qua Tổng tuyển cử, thì kết cục sẽ là một chính phủ về bên ngoài thì không được thừa nhận và bên trong cũng chỉ là một chính phủ không hợp pháp. Đây là một tình huống hiểm nghèo, vì sau Tuyên ngôn độc lập - mới chỉ là tuyên ngôn của một dân tộc về quyền tự quyết, chưa có quốc gia nào thừa nhận và đặt quan hệ với nước ta, bên trong lại có nhiều lực lượng chống phá Đảng cộng sản và Việt Minh tới mức độ Đảng cộng sản, vì đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết nên phải tuyên bố rút vào hoạt động bí mật (LSQHVN. Sđd. tr.28). Vì vậy, quyết định thông qua Tổng tuyển cử để thành lập Quốc hội, thông qua Hiến pháp chính là nhằm thành lập một Chính phủ hợp pháp thông qua sự uỷ nhiệm của nhân dân bằng lá phiếu. Tổng tuyển cử vừa là giải pháp chính trị, vừa là giải pháp pháp lý cho nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà non trẻ. Báo Cứu quốc ngày 24/11/1945 đã bình luận rằng: “.. chỉ Tổng tuyển cử mới để cho dân chúng có dịp nói hết những ý muốn của họ và chỉ có chính phủ lập ra bởi Tổng tuyển cử mới là đại diện chân chính và trung thành của toàn thể quốc dân, trao cho dân ta một Hiến pháp ấn định rõ ràng quyền lợi của quốc dân và của chính phủ”.  Tư tưởng này, cách thức này chính là dân chủ-pháp quyền thực sự; trong đó phương thức dân chủ là nền tảng hợp pháp của pháp quyền. Nhấn mạnh bản chất dân chủ nền tảng này đối với tính hợp pháp của chính quyền và sự tham gia của người dân vào chính quyền, Cụ Hồ lý giải thật đơn giản rằng “…trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì có quyền đi bầu cử.. vì lẽ đó cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ, đoàn kết ” (HCM TT. Sđd .t4, tr.72).

Cuối cùng, cuộc đấu tranh chính trị của Đảng cộng sản và Việt Minh với các đảng phái khác, sau 79 ngày, đã ngã ngũ với kết quả: trong 71 tỉnh thành cả nước đã có 89% tổng số cử tri đi bỏ phiếu, tuyệt đại đa số bầu một lần, cả nước đã bầu được 333 đại biểu trong đó có 57% thuộc đảng phái, 43% không đảng phái, có 10 đại biểu nữ và 34 đại biểu dân tộc thiểu số (LSQHVN. Sđd. tr 52). Hơn cả sự thắng lợi của Đảng cộng sản, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên chính là sự thắng lợi của thể chế dân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Trong bối cảnh ngàn cân treo sợi tóc, bài học của Đảng là tin vào dân và thông qua dân chủ để dân tin vào Đảng. Quyết định tổ chức bằng được cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên này của Đảng là một quyết định dũng cảm và táo bạo, nhưng không phiêu lưu mạo hiểm, vì Đảng đã tin vào dân, biết khơi nguồn và tổ chức nhân lên gấp bội sức mạnh của nhân dân, trong bối cảnh có nhiều lực lượng chính trị chống đối và số đảng viên cộng sản thời kỳ này không quá 5000 người, lại phải hoạt động bí mật, nhưng vẫn trực tiếp lãnh đạo thành công cuộc Tổng tuyển cử. Đó là bài học vô cùng quý báu và có giá trị thời sự ở Việt Nam cũng như trên chính trường thế giới hiện đại.

 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số Hiến kế lập pháp, tháng 9-2005

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện