|
Việc đầu tiên sau ngày Tuyên ngôn độc lập
Nguyễn Chí Dũng

Lễ kỷ niệm sáu năm nhà nước dân chủ cộng hoà đầu
tiên của nước ta - sáu mươi năm sau Lễ tuyên ngôn
độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử - năm nay
được tổ chức một cách long trọng, không thiếu gì,
từ lễ đài đến các cuộc diễu hành lực lượng và sự
đón nhận hồ hởi, tự hào của nhân dân cả nước. Đằng
sau những hình thức long trọng không kém so với
những ngày đầu lịch sử đó, có hàng loạt những đổi
thay mà mỗi một người lại có những cảm nhận khác
nhau. Vắng bóng trên lễ đài là những nhân vật còn
hoặc không còn nhưng đã vĩnh viễn đi vào lịch sử
lập quốc hào hùng. Vắng bóng trong hàng ngũ diễu
hành là những người hoặc đã ngã xuống trong nhiều
cuộc chiến tranh hoặc còn sống ở đâu đó với những
ký ức thiêng liêng trong hiện tại của thời kỳ Đổi
mới. Bề dày lịch sử đó đã để lại cho hậu thế một
bài học sâu sắc rằng, NHÂN DÂN là sức mạnh làm nên
những trang lịch sử oai hùng, dưới sự lãnh đạo
đúng đắn và tầm nhìn của Đảng và Bác Hồ, và về một
nền dân chủ thực sự mà người dân tự giành lấy
cương vị chủ nhân và thực sự đã làm chủ vận mệnh
dân tộc.
Từ hôm nay học lại bài học của những ngày đầu lập
quốc, có một sự kiện đáng nhắc để suy ngẫm về quan
hệ Đảng-Nhà nước và Nhân dân trong nền dân chủ
khai sinh ấy. Đó là một sự kiện trung tâm của
những ngày đầu Tháng Chín, sau khi công bố với thế
giới và công chúng Việt Nam bản Tuyên ngôn độc lập
của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, một bản tuyên
bố giành quyền tự quyết của dân tộc, thì vị Chủ
tịch của Chính phủ lâm thời- Hồ Chí Minh - đã long
trọng đề nghị tại phiên họp Chính phủ lâm thời đầu
tiên ngày 3/9/1945 về việc “tổ chức càng sớm
càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông
đầu phiếu” để lập ra một Hiến pháp dân chủ và
một chính phủ chính thức (Hồ Chí Minh. Toàn tập,
NXB Sự thật, Hà nội, 1987, Tập 4, tr.6-7).
Cảm nhận sự kiện nói trên có thể theo nhiều cách
khác nhau, chúng tôi chỉ xin nêu ở đây hai điều
cảm nhận về quan niệm NHÂN DÂN trong một nền dân
chủ đích thực trong giai đoạn lịch sử thời lập
quốc, và quan niệm về một chính phủ hợp pháp để
tiếp tục học bài học của ký ức về mối liên hệ giữa
nhà nước và NHÂN DÂN trong bối cảnh hiện nay.
Thứ nhất,
trong cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ
tay phát xít Nhật, nhân dân là lực lượng tham gia
thực sự chủ động với nhiệt tình cách mạng vô bờ.
Tuy nhiên, khi giành được chính quyền, thì bên
ngoài, các thế lực ngoại bang, bên trong là các
đảng phái chính trị đã tìm mọi cách để lái chính
quyền này theo các mục đích chính trị riêng. Thời
đó, ai cũng biết rằng để thành lập một nhà nước
dân tộc độc lập, phải có lãnh thổ, có dân cư và
quan trọng nhất, chính quyền hợp pháp phải dành
được sự công nhận của dân. Tuy nhiên, sự khác biệt
lớn nhất giữa Đảng cộng sản và các đảng phái chính
trị khác thời kỳ này là ở cách nhìn nhận về vai
trò của NHÂN DÂN đối với chính quyền. Đảng cộng
sản xác định mục đích tiếp tục cuộc cách mạng dân
tộc, giữ cho được chính quyền cách mạng của nhân
dân vừa giành được, do vậy, phải coi chính quyền
là công cụ sắc bén và khối đại đoàn kết toàn dân,
hoà hợp dân tộc là phương thức duy nhất đúng để
giữ chính quyền (Lịch sử Quốc hội Việt Nam
1946-1960, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000
tr.29). Đảng cộng sản chủ trương hợp pháp hoá và
tăng cường chính quyền thông qua thực hiện bầu cử
dân chủ, phải “xúc tiến việc đi đến Quốc hội để
quy định Hiến pháp, bầu chính phủ chính thức”
(Văn kiện Đảng 1945-1954, Ban NSLSĐTW, Hà Nội,
1977, T1 Tr 28). Trong lúc đó, các thế lực phản
động trong các đảng phái chính trị Việt Quốc, Việt
Cách lại có động cơ chia sẻ quyền lực trong chính
quyền, và do động cơ đó, họ coi nhẹ vai trò của
nhân dân. Họ chủ trương chống lại Tổng tuyển cử.
Trên các tờ báo phản động thời đó như Việt Nam,
Thiết thực, Đồng Tâm, các phái muốn chia sẻ
quyền lực trong chính quyền đã lập luận rằng, do
trình độ dân trí thấp, trên 90% dân mù chữ, nên
nhân dân không đủ năng lực thực hiện quyền bầu cử,
ứng cử (LSQHVN. Sđd. tr.33). Trong khi đó, Cụ Hồ
Chí Minh đề nghị tại phiên họp Chính phủ một ngày
sau Tuyên ngôn độc lập rằng, mọi công dân đủ 18
tuổi, không phân biệt trai gái, giàu nghèo, tôn
giáo, dòng giống đều có quyền ứng cử và bầu cử.
Đây là sự khác biệt thứ nhất trong sự nhìn nhận về
Dân - Dân trí và Dân chủ trong chính trị. Nhấn
mạnh sự khác biệt này, Báo Cứu quốc
24/11/1945 của Việt Minh bình luận rằng “căn cứ
vào phong trào đánh Pháp đuổi Nhật vừa qua, ta
thấy dân chúng đã có ý thức chính trị một cách khá
dồi dào…đủ để phân biệt ai là thù, ai là bạn, ai
xứng đáng là đại biểu chân chính của mình… họ chưa
biết đọc, biết viết, chưa biết bàn luận những
chuyện xa xôi, nhưng có một điều mà họ biết chắc
chắn, biết rõ ràng hơn ai hết là quyền lợi của
họ...” (LSQHVN. Sđd. tr.33). Lập luận khác của
các thế lực chính trị muốn nhanh chóng xí chỗ
trong chính quyền mới là: cần tập trung chống Pháp
xâm lược mà không nên mất thì giờ vào bầu cử
(LSQHVN. Sđd. tr.33). Đó là sự khác biệt thứ hai,
theo đó, họ cho rằng, chính quyền không cần
nhân dân thừa nhận. Thực chất, đó là một chính
quyền không hợp pháp theo cách dân chủ. Còn Cụ Hồ
Chí Minh đã khôn khéo ghi nhận nguyên tắc dân chủ
để lập chính quyền hợp pháp tại một trong những
Sắc lệnh đầu tiên của Chính phủ lâm thời (SL-14
ngày 8/9/45) rằng “nhân dân Việt Nam do Quốc
dân đại hội thay mặt là quyền lực tối cao để ấn
định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ cộng
hoà” (Việt Nam dân quốc Công báo, ngày
29/9/1945). Như vậy, sự kiện đầu tiên sau khi công
bố bản Tuyên ngôn độc lập và mọi sự dàn xếp chính
trị trong suốt 79 ngày sau đó cho đến khi thực
hiện cuộc Tổng tuyển cử, đã thể hiện bản chất của
một nhà nước dân chủ nhân dân thực sự, một thử
thách chính trị-pháp lý giữa các đảng phái chính
trị tham chính thời bấy giờ. Trong sự thử thách
này, kết quả Tổng tuyển cử đã cho thấy Đảng cộng
sản và Việt Minh đã thành công trong bài học tin
vào dân và dựa vào dân để xây dựng một chính quyền
hợp pháp và vững mạnh.
Nói đến bài học tin dân và nguyên tắc dân chủ của
thời lập quốc, đồng thời ngẫm lại lập luận của
phái phản động thời đó về cái gọi là dân trí thấp
thì không nên theo lối dân chủ, cũng nên nhắc lại
rằng hiện tượng lấy ý kiến nhân dân vào lập
pháp lần đầu tiên của Nhà nước ta có lẽ là Bản
dự án Hiến pháp đầu tiên được công bố trên báo
Cứu quốc ngày 10-11-45 kèm thông cáo của Chính
phủ (lâm thời) như sau: “…muốn cho tất cả nhân
dân Việt nam dự vào việc lập Hiến pháp của nước
nhà nên Chính phủ công bố bản dự án Hiến pháp này
để mọi người được đọc kỹ càng và được tự do bàn
bạc phê bình, Uỷ ban dự thảo Hiến pháp sẽ tập hợp
các đề nghị sửa đổi và ý kiến của nhân dân rồi
trình lên Toàn quốc đại hội bàn luận”. Nếu
thấm nhuần bài học lịch sử này, chúng ta có lẽ
khỏi phải bàn thêm về “dân trí” hoặc những lo ngại
“mất thời gian của dân” hoặc “tốn tiền” trong các
đề tài nghiên cứu về lấy ý kiến nhân dân vào các
dự án luật và văn bản quy phạm pháp luật trong
thời gian gần đây.
Thứ hai,
giả thử Việt Minh ưng theo đề nghị của các đảng
phái chính trị khác mà bỏ qua Tổng tuyển cử, thì
kết cục sẽ là một chính phủ về bên ngoài thì không
được thừa nhận và bên trong cũng chỉ là một chính
phủ không hợp pháp. Đây là một tình huống hiểm
nghèo, vì sau Tuyên ngôn độc lập - mới chỉ là
tuyên ngôn của một dân tộc về quyền tự quyết, chưa
có quốc gia nào thừa nhận và đặt quan hệ với nước
ta, bên trong lại có nhiều lực lượng chống phá
Đảng cộng sản và Việt Minh tới mức độ Đảng cộng
sản, vì đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết nên
phải tuyên bố rút vào hoạt động bí mật (LSQHVN.
Sđd. tr.28). Vì vậy, quyết định thông qua Tổng
tuyển cử để thành lập Quốc hội, thông qua Hiến
pháp chính là nhằm thành lập một Chính phủ hợp
pháp thông qua sự uỷ nhiệm của nhân dân bằng lá
phiếu. Tổng tuyển cử vừa là giải pháp chính trị,
vừa là giải pháp pháp lý cho nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà non trẻ. Báo Cứu quốc ngày
24/11/1945 đã bình luận rằng: “.. chỉ Tổng
tuyển cử mới để cho dân chúng có dịp nói hết những
ý muốn của họ và chỉ có chính phủ lập ra bởi Tổng
tuyển cử mới là đại diện chân chính và trung thành
của toàn thể quốc dân, trao cho dân ta một Hiến
pháp ấn định rõ ràng quyền lợi của quốc dân và của
chính phủ”. Tư tưởng này, cách thức này chính
là dân chủ-pháp quyền thực sự; trong đó phương
thức dân chủ là nền tảng hợp pháp của pháp quyền.
Nhấn mạnh bản chất dân chủ nền tảng này đối
với tính hợp pháp của chính quyền và sự tham gia
của người dân vào chính quyền, Cụ Hồ lý giải thật
đơn giản rằng “…trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là
người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng
cử, hễ là công dân thì có quyền đi bầu cử.. vì lẽ
đó cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng,
tức là dân chủ, đoàn kết ” (HCM TT. Sđd .t4,
tr.72).
Cuối cùng, cuộc đấu tranh chính trị của
Đảng cộng sản và Việt Minh với các đảng phái khác,
sau 79 ngày, đã ngã ngũ với kết quả: trong 71 tỉnh
thành cả nước đã có 89% tổng số cử tri đi bỏ
phiếu, tuyệt đại đa số bầu một lần, cả nước đã bầu
được 333 đại biểu trong đó có 57% thuộc đảng phái,
43% không đảng phái, có 10 đại biểu nữ và 34 đại
biểu dân tộc thiểu số (LSQHVN. Sđd. tr 52). Hơn cả
sự thắng lợi của Đảng cộng sản, cuộc Tổng tuyển cử
đầu tiên chính là sự thắng lợi của thể chế dân chủ
đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Trong bối cảnh
ngàn cân treo sợi tóc, bài học của Đảng là tin vào
dân và thông qua dân chủ để dân tin vào Đảng.
Quyết định tổ chức bằng được cuộc Tổng tuyển cử
đầu tiên này của Đảng là một quyết định dũng cảm
và táo bạo, nhưng không phiêu lưu mạo hiểm, vì
Đảng đã tin vào dân, biết khơi nguồn và tổ chức
nhân lên gấp bội sức mạnh của nhân dân, trong bối
cảnh có nhiều lực lượng chính trị chống đối và số
đảng viên cộng sản thời kỳ này không quá 5000
người, lại phải hoạt động bí mật, nhưng vẫn trực
tiếp lãnh đạo thành công cuộc Tổng tuyển cử. Đó là
bài học vô cùng quý báu và có giá trị thời sự ở
Việt Nam cũng như trên chính trường thế giới hiện
đại.
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số Hiến kế
lập pháp, tháng 9-2005 |