|
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam -
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Nguyễn Duy Quý *
1- Về phương diện lý luận, nhà nước pháp quyền
không phải là một kiểu nhà nước. Nhà nước pháp
quyền là giá trị phổ biến, là biểu hiện của một
trình độ phát triển dân chủ
Trong ý nghĩa này, nhà nước pháp quyền được nhìn
nhận như một cách thức tổ chức nền dân chủ, cách
thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân
chủ. Điều này có nghĩa là nhà nước pháp quyền gắn
liền với một nền dân chủ. Tuy không phải là một
kiểu nhà nước được xác định theo lý luận về hình
thái kinh tế - xã hội, nhưng nhà nước pháp quyền
không thể xuất hiện trong một xã hội phi dân chủ.
Sự phủ nhận quan điểm xem nhà nước pháp quyền như
một kiểu nhà nước có ý nghĩa nhận thức luận quan
trọng trong việc nhìn nhận đúng bản chất của nhà
nước pháp quyền. Ý nghĩa nhận thức luận này bao
hàm các khía cạnh sau:
- Chỉ từ khi xuất hiện dân chủ tư sản, mới có cơ
hội và điều kiện để xuất hiện nhà nước pháp quyền.
Do vậy, trên thực tế, nhà nước pháp quyền tư sản
đang được tuyên bố xây dựng ở hầu hết các quốc gia
tư bản phát triển và đang phát triển.
- Nhà nước pháp quyền, với tính chất là cách thức
tổ chức và vận hành của một chế độ nhà nước và xã
hội, không những được xây dựng ở chế độ tư bản mà
còn được xây dựng ở chế độ xã hội chủ nghĩa. Như
vậy, trong nhận thức lý luận cũng như trong thực
tiễn, có nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Ngoài các giá trị phổ biến, nhà nước pháp quyền
còn bao hàm các giá trị đặc thù. Tính đặc thù của
nhà nước pháp quyền được xác định bởi nhiều yếu
tố. Các yếu tố này, về thực chất, là rất đa dạng,
phong phú và phức tạp, được xác định bởi các điều
kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, tâm lý xã hội và
môi trường địa lý của mỗi dân tộc. Chúng không chỉ
tạo ra các đặc sắc, tính riêng biệt của mỗi dân
tộc trong quá trình dựng nước, giữ nước và phát
triển mà còn quyết định mức độ tiếp thu và dung
nạp các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền.
Việc thừa nhận tính đặc thù của nhà nước pháp
quyền có ý nghĩa nhận thức luận quan trọng. Với ý
nghĩa này, nhà nước pháp quyền là một phạm trù vừa
mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù; vừa là
giá trị chung của nhân loại, vừa là giá trị riêng
của mỗi dân tộc, quốc gia. Do vậy, không thể có
một nhà nước pháp quyền như một mô hình chung,
thống nhất cho mọi quốc gia, dân tộc. Mỗi quốc
gia, dân tộc, tùy thuộc vào các đặc điểm lịch sử,
chính trị, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển
mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước pháp
quyền thích hợp.
2- Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp
quyền đang được đặt ra như một tất yếu lịch sử và
tất yếu khách quan
Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng nhà nước
pháp quyền ở Việt Nam bắt nguồn từ chính lịch sử
xây dựng và phát triển của Nhà nước ta. Ngay từ
khi thành lập và trong quá trình phát triển, Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã và luôn là một
nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức
và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp
và pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến
pháp và pháp luật. Các đạo luật tổ chức Quốc hội,
Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân
và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây
dựng trên cơ sở các Hiến pháp năm 1946, năm 1959,
năm 1980 và năm 1992. Những lần Hiến pháp được sửa
đổi và thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp
luật cho tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ
quan nhà nước. Vì vậy, có thể nói, quá trình xây
dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một quá
trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc
lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Quá trình này
đã trải qua hơn nửa thế kỷ với nhiều giai đoạn
phát triển đặc thù. Ngày nay, quá trình này đang
được tiếp tục ở một tầng cao phát triển mới với
nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách mới.
Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước
pháp quyền ở Việt Nam xuất phát từ định hướng xã
hội chủ nghĩa mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một
chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Chúng ta ý thức sâu sắc
rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội có tính
mục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ
có thể là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và một nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh. Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát
từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hóa.
Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta
phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách
pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước không ngừng vững
mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hành
dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững
chắc vào đời sống quốc tế.
3- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta là một nhà
nước vừa phải thể hiện được các giá trị phổ biến
của nhà nước pháp quyền đã được xác định trong lý
luận và thực tiễn của một chế độ dân chủ hiện đại,
vừa phải khẳng định được bản sắc, đặc điểm của
riêng mình
Sự khác nhau cơ bản giữa nhà nước pháp quyền tư
sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói
chung, trong đó có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam nói riêng, đã được các đề tài của
Chương trình KX.04 khái quát trên những nét chính
sau:
Một là, cơ sở kinh tế của nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế
thị trường không phủ nhận các quy luật khách quan
của thị trường, mà là cơ sở để xác định sự khác
nhau giữa kinh tế thị trường trong chủ nghĩa tư
bản và kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã hội.
Do vậy, đặc tính của nền kinh tế thị trường xã hội
chủ nghĩa tạo ra sự khác nhau giữa nhà nước pháp
quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, đồng thời tạo ra nét đặc trưng của nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Hai là, cơ sở chính trị của nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ nhất nguyên.
Chế độ dân chủ nhất nguyên là điều kiện cơ bản để
tạo ra một đời sống dân chủ có tính thống nhất
cao, một hệ thống chính trị thống nhất và là một
đòi hỏi có tính nội tại của chế độ nhà nước và chế
độ xã hội trong các điều kiện xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Do vậy, sự nhất nguyên chính trị phải luôn
là thuộc tính của nhà nước xã hội chủ nghĩa - một
nhà nước đòi hỏi tính thống nhất và tính tổ chức
cao trong tổ chức cũng như trong hoạt động của mọi
cấu trúc nhà nước để có thể đạt được các mục tiêu
của chủ nghĩa xã hội.
Tính nhất nguyên chính trị được thể hiện trong
việc khẳng định vai trò lãnh đạo của một đảng duy
nhất cầm quyền ở Việt Nam. Bản chất của một nền
dân chủ không lệ thuộc vào chế độ đa đảng hay chế
độ một đảng, mà lệ thuộc vào chỗ đảng cầm quyền
đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực nhà
nước vào những mục đích gì trên thực tế. Vì vậy,
điều kiện để xây dựng nhà nước pháp quyền không
thể là chế độ đa đảng hay chế độ một đảng và không
thể coi đó là căn cứ để đánh giá tính chất và
trình độ của một nền dân chủ. Sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản - đảng duy nhất cầm quyền đối với đời
sống xã hội và đời sống nhà nước không những không
trái với bản chất nhà nước pháp quyền nói chung mà
còn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá
trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở
nước ta.
Ba là, cơ sở xã hội của nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa là khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Với khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhà nước pháp
quyền có được cơ sở xã hội rộng lớn và khả năng to
lớn trong việc tập hợp, tổ chức các tầng lớp nhân
dân thực hành và phát huy dân chủ.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
tuy không loại bỏ được sự phân tầng xã hội theo
hướng phân hóa giàu, nghèo nhưng có khả năng xử lý
tốt hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
công bằng xã hội. Những mâu thuẫn xã hội phát sinh
trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường
do được điều tiết thông qua pháp luật, chính sách
và các công cụ khác của nhà nước nên ít có nguy cơ
trở thành các mâu thuẫn đối kháng và tạo ra các
xung đột có tính chất chia rẽ xã hội. Đây là một
trong những điều kiện để bảo đảm ổn định chính
trị, đoàn kết các lực lượng xã hội vì các mục tiêu
chung của sự phát triển.
Tính nhất nguyên chính trị và sự lãnh đạo của một
đảng duy nhất cầm quyền tạo ra khả năng đồng thuận
xã hội, tăng cường khả năng hợp tác, giúp đỡ lẫn
nhau giữa các giai tầng, các cộng đồng dân cư và
các dân tộc. Nhờ vậy, nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa có được sự ủng hộ rộng rãi từ phía xã
hội, nguồn sức mạnh từ sự đoàn kết toàn dân, phát
huy được sức sáng tạo của các tầng lớp dân cư
trong việc thực hành và phát huy dân chủ.
4- Một số vấn đề về xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật của nước ta hiện nay
Để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta
hiện nay, một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp
thiết là chúng ta phải sớm xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật.
Nhu cầu đổi mới tư duy pháp lý đã được đặt ra và
quán triệt trong giai đoạn đấu tranh loại bỏ cơ
chế pháp lý của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
bao cấp, xây dựng cơ chế pháp lý cho cơ chế kinh
tế mới. Ngày nay, một lần nữa nhu cầu đổi mới tư
duy pháp lý lại được đặt ra với tính cấp thiết
mạnh mẽ, kiên quyết, vượt ra khỏi khuôn khổ có
tính truyền thống lâu nay trong việc xây dựng pháp
luật và thi hành pháp luật. Tư duy pháp lý mới có
thể được phác thảo trên những nét chính sau:
1- Xác định và quán triệt cơ sở lý thuyết cho mô
hình luật pháp nước ta trong giai đoạn phát triển
đến 2010 và các giai đoạn tiếp theo. Điều này có
nghĩa là chúng ta cần nhanh chóng xác định mô hình
luật pháp nước ta được xây dựng theo lý thuyết
nào. Dĩ nhiên, chúng ta không thể áp dụng một cách
máy móc các mô hình lý thuyết hiện đang được áp
dụng ở các quốc gia trên thế giới. Nhưng chúng ta
cũng không thể không tính đến sự ảnh hưởng và chi
phối của các lý thuyết này đối với sự vận động của
đời sống pháp luật hiện đại. Vì vậy, việc nghiên
cứu xây dựng các cơ sở lý thuyết cho mô hình luật
pháp nước ta cần đặt trong mối quan hệ giữa hai
yếu tố: dân tộc và hiện đại.
Cần có các nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm lịch sử
của các thế hệ người Việt Nam trong tiến trình xây
dựng và thực thi các thể chế pháp lý. Các kinh
nghiệm làm luật và thi hành luật trong các giai
đoạn lịch sử cho thấy, các thế hệ người Việt Nam
khá thành công trong việc tiếp thu các giá trị
pháp lý nước ngoài, làm nên một bản sắc pháp lý
Việt Nam. Xin hãy lấy Quốc triều hình luật thời Lê
(Bộ Luật Hồng Đức) để suy ngẫm: Bộ Luật Hồng Đức,
theo đánh giá của sử gia Phan Huy Chú, "Thật là
cái mẫu mực để trị nước, các khuôn phép để buộc
dân". Điều cần nhấn mạnh là, mặc dù chịu ảnh hưởng
của tư tưởng pháp lý và các quy tắc pháp luật của
Trung Hoa thời phong kiến, nhưng Bộ Luật Hồng Đức
vẫn là bộ luật của người Việt Nam, là sản phẩm văn
hóa của người Việt Nam, chứ không phải là sự sao
chép máy móc pháp luật của nhà Đường hay nhà Minh.
Trong lịch sử, dân tộc ta đã rất thông minh và chủ
động trong việc tiếp thu pháp luật nước ngoài để
cách tân đất nước. Ngày nay, chúng ta cũng cần
tiếp thu có chọn lọc các giá trị pháp luật nước
ngoài một cách chủ động và thông minh để tiếp tục
củng cố và phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc
tiếp thu các giá trị và kinh nghiệm pháp luật nước
ngoài cần tuân theo ba điều kiện cơ bản: Thứ
nhất, tư tưởng của pháp luật du nhập phải
tương đồng với ý thức pháp lý đang thống trị ở
nước tiếp nhận. Thứ hai, pháp luật du nhập
phải tương đồng với cấu trúc, hình thái và phương
thức tổ chức quyền lực nhà nước tại quốc gia sở
tại. Thứ ba, pháp luật du nhập phải phù hợp
với phương thức sản xuất xã hội, phải được số đông
thành viên trong xã hội chấp nhận và ủng hộ.
2- Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh
toàn cầu hóa, bảo đảm sự tương thích của pháp luật
quốc gia với các không gian pháp lý có tính quốc
tế đang đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh việc đổi
mới công tác lập pháp. Việc đổi mới công tác lập
pháp có thể khái quát trên một số nét sau:
Một là, đổi mới công tác kế hoạch lập pháp:
Kế hoạch làm luật nếu chỉ được tiến hành trên cơ
sở đề xuất của các cơ quan hữu quan để tập hợp,
cân đối và thông qua sẽ không thể khắc phục được
tình trạng không hoàn thành kế hoạch, vì không ít
dự án luật được đăng ký theo kiểu "giữ chỗ" và
trên thực tế, rất khó xây dựng do chưa xác định
được đầy đủ tính chất, mục tiêu, đối tượng điều
chỉnh và phương pháp điều chỉnh. Sự đăng ký văn
bản theo kiểu "ghi danh" đã không ràng buộc một
cách chặt chẽ trách nhiệm của cơ quan đề xuất dự
luật. Để khắc phục tình trạng này, nên chăng, thay
vì xây dựng và thông qua kế hoạch làm luật hằng
năm và 5 năm thường lệ, Quốc hội chỉ cần thông qua
các sáng kiến pháp luật. Cá nhân, cơ quan (theo
quy định của pháp luật) nêu sáng kiến pháp luật có
trách nhiệm lập luận các căn cứ về sự cần thiết
của mục tiêu, đối tượng cần điều chỉnh và tính khả
thi của công tác xây dựng văn bản; trên cơ sở đó,
Quốc hội thảo luận, thông qua và giao trách nhiệm
xây dựng dự thảo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân
phù hợp.
Hai là, thay đổi quan niệm về quy mô các đạo luật:
Thực tiễn làm luật ở nước ta thời gian qua cho
thấy, các đạo luật được xây dựng và thông qua phần
nhiều đều có dung lượng khá lớn các quy phạm và
đối tượng điều chỉnh; phạm vi điều chỉnh cũng khá
lớn. Chính sự đầu tư "nhân, tài, vật, lực" cho các
đạo luật có quy mô lớn đã làm cho công việc soạn
thảo các dự thảo văn bản bị kéo dài, tính chất
đồng bộ và thống nhất của dự thảo trong mối quan
hệ với các đạo luật khác nhiều khi không được bảo
đảm. Đặc biệt, các đạo luật lớn vì phức tạp nên
thường phải tranh luận, thảo luận nhiều thời gian
mới mong đạt được sự thống nhất các quan điểm và
cách thức thể hiện. Do vậy, việc chuẩn bị xây dựng
dự thảo tại các ban soạn thảo, thẩm định, thảo
luận, chỉnh lý và thông qua tại Quốc hội thường
kéo dài. Khoảng cách giữa nhu cầu cấp bách phải
điều chỉnh và khả năng điều chỉnh của đạo luật
ngày càng xa đã dẫn đến tình trạng, đợi được luật
ra đời, cuộc sống đã biến chuyển sang một mức độ
phát triển khác. Để khắc phục tình trạng này, thay
vì xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô
lớn, nên tập trung xây dựng và thông qua các đạo
luật có quy mô điều chỉnh hẹp. Một đạo luật với ít
các điều khoản sẽ được nhanh chóng xây dựng, đáp
ứng kịp thời các nhu cầu điều chỉnh pháp luật, dễ
dàng tương thích với các không gian pháp lý quốc
tế. Tính hữu ích của một đạo luật ít điều khoản
không chỉ thể hiện ở sự gọn nhẹ về nội dung, dễ
xây dựng, mà còn thể hiện ở việc dễ kiểm soát tính
đồng bộ và thống nhất, dễ sửa đổi khi có nhu cầu
và dễ áp dụng trên thực tế.
Ba là, đổi mới cách thức và quy trình thông qua
luật:
Phong cách làm luật lâu nay của cơ quan lập pháp
thể hiện ở các hoạt động thảo luận của các đại
biểu Quốc hội, thẩm định của các ủy ban của Quốc
hội, giải trình tiếp thu của cơ quan soạn thảo, đã
rất khó nâng cao được chất lượng và hiệu quả của
đạo luật. Sự thảo luận chủ yếu ở dạng câu chữ đã
chiếm khá nhiều thời gian, trong khi nội dung dự
thảo lại ít được chú ý. Do vậy, ý kiến thảo luận
của đại biểu Quốc hội đối với các dự thảo chất
lượng chưa cao. Để khắc phục tình trạng này, trước
khi dự thảo luật được đưa ra thảo luận tại Quốc
hội, cần tiến hành thẩm định về mặt khoa học bởi
các nhóm chuyên gia từ các viện nghiên cứu, các
trường đại học với nhiệm vụ đánh giá về phương
diện khoa học toàn bộ dự án luật, từ hình thức
biểu đạt, cấu trúc đến nội dung các điều luật,
nhằm phát hiện ra các lỗi cả về kỹ thuật văn bản,
lẫn nội dung văn bản. Sự thẩm định khoa học về dự
thảo văn bản do các nhóm chuyên gia thực hiện một
cách độc lập vừa là cơ sở để ban soạn thảo chỉnh
lý văn bản, vừa là tài liệu tham khảo cho các đại
biểu Quốc hội khi thảo luận dự thảo. Mặt khác, để
nâng cao chất lượng các đạo luật, quy trình thông
qua dự thảo cần được tiến hành theo hai bước: thảo
luận, thông qua tại một ủy ban tương ứng của Quốc
hội và thảo luận, thông qua tại phiên họp toàn thể
của Quốc hội. Như vậy, chỉ khi nào dự thảo được
thông qua tại một ủy ban của Quốc hội thì mới được
xem xét, thảo luận, thông qua tại Quốc hội. Quy
định như vậy không chỉ nêu cao vai trò làm luật
của các ủy ban của Quốc hội, mà còn tiết kiệm thời
gian làm việc của Quốc hội, nâng cao hiệu quả của
đạo luật.
Bốn là, tăng cường lắng nghe ý kiến nhân dân đóng
góp xây dựng các dự thảo luật:
Các dự thảo luật một khi được xây dựng ngắn gọn,
ít điều khoản sẽ rất dễ dàng cho nhân dân tiếp
cận. Sự tham gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp
luật của đông đảo các tầng lớp nhân dân là điều
kiện quan trọng để pháp luật phản ánh đúng ý chí,
nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm cho pháp luật
thật sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Cần quy định, việc lấy ý kiến của nhân dân (chứ
không chỉ là lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức
hay của một số cán bộ) đối với các dự án luật là
điều kiện bắt buộc trong quá trình xây dựng dự
thảo. Đặc biệt, việc tiếp thu ý kiến của nhân dân
vào các dự thảo (tiếp thu ý kiến nào, không tiếp
thu ý kiến nào, vì sao) phải được thông báo công
khai và minh bạch. Có như vậy, nhân dân mới cảm
thấy ý kiến của mình được tôn trọng và mặt khác,
mới củng cố niềm tin của họ vào luật pháp.
* GS, VS, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Nguồn: Tạp chí Cộng sản, số tháng 12-2005
|