|
ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP CỦA
QUỐC HỘI
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ TRONG
GIAI ĐOẠN MỚI
Nguyễn Văn Yểu (*)
Trong bộ máy nhà nước, Quốc hội
là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan
duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Trong
những năm qua, hoạt động lập pháp của Quốc hội
đã được thường xuyên coi trọng và đạt được kết
quả rất đáng khích lệ, góp phần quan trọng vào
việc phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở pháp lý cho
việc phát triển văn hóa, xã hội, tăng cường quốc
phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an
toàn xã hội, đồng thời không ngừng mở rộng quan
hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Hệ thống pháp luật không ngừng được xây dựng,
hoàn thiện. Quy trình xây dựng pháp luật đã được
chính quy hóa bằng việc Quốc hội ban hành Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và
được tiếp tục đổi mới một bước thông qua việc
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật này vào
cuối năm 2002. Do vậy, chất lượng hoạt động lập
pháp đã được nâng lên một bước. Nếu tính về số
lượng văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội ban hành chúng ta có thể
thấy, chất lượng và số lượng các văn bản quy
phạm pháp luật được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội thông qua ngày càng tăng lên. Trong
nhiệm kỳ khóa IX, Quốc hội đã thông qua 41 luật
và bộ luật, Quy chế hoạt động của các cơ quan
Quốc hội, Nội quy kỳ họp Quốc hội; Ủy ban Thường
vụ Quốc hội thông qua 44 pháp lệnh. Trong nhiệm
kỳ khóa X, Quốc hội đã thông qua 35 luật và bộ
luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua 44
pháp lệnh. Từ đầu nhiệm kỳ khóa XI đến nay, Quốc
hội đã thông qua 47 luật và bộ luật, 3 quy chế,
1 nội quy; Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua
27 pháp lệnh.
Tuy nhiên, hoạt động lập pháp vẫn
chưa đáp ứng kịp với yêu cầu của việc tiếp tục
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt
Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân. Đến nay, mặc dù Nhà nước ta đã ban
hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản
pháp luật hiện hành, song hệ thống pháp luật vẫn
chưa hoàn chỉnh, chưa đồng bộ, vẫn còn có chỗ
chồng chéo, mâu thuẫn; một số quy định trong văn
bản pháp luật mới ban hành chất lượng chưa cao,
chưa sát với cuộc sống, tính khả thi thấp hoặc
nhiều quy định mang tính nguyên tắc chung, chưa
cụ thể để thi hành, áp dụng được ngay, mà còn
phải ban hành nhiều văn bản cụ thể hóa, hướng
dẫn thi hành. Trong khi đó, nhiều văn bản hướng
dẫn lại ban hành không kịp thời nên pháp luật
chậm đi vào cuộc sống và không tránh khỏi có
những cách hiểu, cách làm khác nhau, dẫn đến sơ
hở, lợi dụng trong việc thi hành pháp luật. Đây
là một trong những nguyên nhân không nhỏ làm cho
pháp luật chậm phát huy trong thực tiễn cuộc
sống.
Từ tình hình trên và yêu cầu của
việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân đã đặt ra sự cần
thiết phải tiếp tục đổi mới và nâng cao chất
lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội, một trong
những nhiệm vụ quan trọng để góp phần vào việc
bảo đảm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước, xây dựng, kiện toàn bộ
máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực
và hiệu quả. Các nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VIII và lần thứ IX của Đảng đã
đề ra chủ trương: Coi trọng tổng kết thực
tiễn Việt Nam, nâng cao chất lượng xây dựng pháp
luật, ban hành các văn bản luật với những quy
định cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện. Giảm dần các
luật, pháp lệnh chỉ dừng lại ở nguyên tắc chung
mà muốn thực hiện được phải có nhiều văn bản
hướng dẫn thi hành. Đồng thời, phải tăng cường
công tác lập pháp, xây dựng chương trình dài hạn
về lập pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi
mới quy trình ban hành và hướng dẫn thi hành
luật. Chúng ta cần phấn đấu đến năm 2020,
cùng với việc cơ bản hoàn thành sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà nước ta
có một hệ thống luật tương đối đầy đủ, đồng bộ,
thống nhất, bảo đảm để tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội, về cơ bản, đều được điều chỉnh
bằng các luật, bộ luật, (các văn bản pháp quy do
Chính phủ ban hành chủ yếu là để hướng dẫn đội
ngũ cán bộ, công chức trong thi hành công vụ; Ủy
ban Thường vụ Quốc hội không còn phải ra pháp
lệnh), nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của quá
trình đổi mới đất nước, phục vụ sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Trên tinh thần các tư tưởng chỉ
đạo nêu trên, việc đổi mới hoạt động lập pháp
của Quốc hội cần bảo đảm các yêu cầu sau:
Một là, bảo đảm tính nhân dân và
tính dân chủ trong hoạt động lập pháp.
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất,
cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, vì vậy,
trong hoạt động lập pháp là hoạt động mà Quốc
hội biến ý chí của nhân dân thành ý chí của Nhà
nước, thành quy định của pháp luật, phải thể
hiện rõ tính nhân dân. Cần phát huy tốt hơn và
nhiều hơn quyền làm chủ của nhân dân qua các
hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp
để nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng pháp
luật. Quốc hội phải nắm bắt được ý dân về những
vấn đề mà cuộc sống đòi hỏi cần có sự điều chỉnh
của pháp luật để ban hành, sửa đổi hoặc bổ sung
kịp thời những quy định của pháp luật. Các văn
bản luật phải thể hiện ý chí, lợi ích chung của
nhân dân, bảo đảm kết hợp và cân bằng một cách
hài hòa giữa lợi ích của các tầng lớp nhân dân
vì sự phát triển của cả cộng đồng, của cả xã
hội.
Hai là, bảo đảm sự lãnh đạo của
Đảng trong hoạt động lập pháp.
Cũng như các mặt hoạt động khác của Quốc hội,
hoạt động lập pháp của Quốc hội phải bảo đảm sự
lãnh đạo của Đảng. Đảng lãnh đạo Quốc hội thể
chế hóa đầy đủ, kịp thời các đường lối, chính
sách của Đảng thành các quy định của pháp luật
và đưa đường lối, chính sách của Đảng vào cuộc
sống. Việc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong
hoạt động lập pháp vừa mang tính nguyên tắc, vừa
là điều kiện để Nhà nước ta xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, có chất
lượng theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, bảo đảm tiếp tục nâng cao
chất lượng lập pháp.
Việc nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của
Quốc hội phải phấn đấu để có thể đáp ứng được
các yêu cầu: xây dựng được hệ thống các văn bản
luật đồng bộ, thống nhất và đầy đủ; mỗi đạo luật
trong hệ thống pháp luật phải có chất lượng tốt;
việc ban hành các văn bản luật phải kịp thời, ưu
tiên những lĩnh vực trọng tâm, đồng thời coi
trọng tính đồng bộ, toàn diện; bảo đảm tiết kiệm
về vật chất và thời gian trong hoạt động xây
dựng pháp luật. Các văn bản luật cần bảo đảm yêu
cầu cụ thể, dễ thực hiện để khi luật được ban
hành và có hiệu lực có thể thực hiện được ngay
mà không phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành.
Ngôn ngữ sử dụng trong luật phải chính xác, phổ
thông, cách diễn đạt đơn giản, dễ hiểu. Nội dung
các văn bản luật phải xuất phát từ nhu cầu khách
quan, từ những đòi hỏi của cuộc sống, bảo đảm
tính khoa học và tính khả thi.
Để thực hiện được những yêu cầu
nêu trên, đòi hỏi phải có sự cố gắng, nỗ lực của
Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và từng đại
biểu Quốc hội; sự cố gắng, nỗ lực của Chính phủ
và các cơ quan khác của Nhà nước; sự tham gia
thiết thực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức xã hội. Đồng thời, phải có một quy trình
xây dựng pháp luật hoàn chỉnh, khoa học ở tất cả
các bước của hoạt động lập pháp và bảo đảm các
điều kiện cho hoạt động của các cơ quan được
phân công thực hiện.
Trong phương hướng đổi mới và
nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp, cần chú
trọng những vấn đề sau:
1- Về chương trình xây dựng pháp
luật
Cần coi trọng nâng cao chất lượng
việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
dài hạn và hằng năm của Quốc hội. Các chương
trình này phải căn cứ vào kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội, yêu cầu quản lý nhà nước, định
hướng xây dựng pháp luật được xác định trong các
văn kiện của Đảng. Cần bảo đảm tính liên tục, kế
thừa trong công tác xây dựng pháp luật; dự báo
và xác định một cách toàn diện, đầy đủ những nhu
cầu xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật, đồng
thời thể hiện tính đồng bộ, thống nhất trong hệ
thống pháp luật. Trong chương trình xây dựng
pháp luật, phải xác định các lĩnh vực ưu tiên và
khả năng thực thi. Việc xác định tính cần thiết
ban hành một văn bản pháp luật cần được giải
quyết ngay từ khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội lập
dự kiến và Quốc hội quyết định chương trình. Có
như vậy mới đáp ứng được yêu cầu của công tác
xây dựng pháp luật, bảo đảm tính khoa học, chặt
chẽ và tính khả thi của chương trình đã được
Quốc hội thông qua.
2- Về việc soạn thảo, thẩm tra và
xem xét, thông qua các dự án luật, pháp lệnh
Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật đã quy định tương đối cụ thể về thẩm
quyền, thủ tục, trình tự ban hành luật, pháp
lệnh. Tuy nhiên, để có thể xây dựng được những
văn bản luật, pháp lệnh có chất lượng cao, các
cơ quan hữu quan phải thực hiện tốt trách nhiệm
của mình trong mỗi giai đoạn của quy trình xây
dựng luật, pháp lệnh.
- Trong hoạt động soạn thảo và
thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, cần sớm phân
công hợp lý cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra
đối với các dự án luật, pháp lệnh để tạo điều
kiện cho các cơ quan hữu quan sớm có kế hoạch
phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai thực
hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Đặc
biệt coi trọng việc nâng cao chất lượng soạn
thảo các dự án luật, pháp lệnh. Thủ trưởng các
cơ quan được phân công chuẩn bị dự án luật, pháp
lệnh phải coi đây là một trong những nhiệm vụ
quan trọng trong công tác của cơ quan mình; tập
trung đầu tư nhiều thời gian, công sức trong
việc soạn thảo dự án nhằm đẩy nhanh tiến độ
chuẩn bị, đáp ứng được yêu cầu về thời gian,
đồng thời nâng cao chất lượng soạn thảo cả về
nội dung và kỹ thuật văn bản, để bảo đảm khi xem
xét, thông qua luật, pháp lệnh, Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội chỉ tập trung vào nội dung
chính sách của dự án. Trong quá trình xây dựng
các dự án luật, pháp lệnh, cần quán triệt đầy đủ
các quan điểm được thể hiện trong các nghị
quyết, chỉ thị của Đảng. Phải căn cứ vào những
quy định của Hiến pháp và kế thừa những nội dung
đúng đắn, phù hợp của các văn bản pháp luật hiện
hành trong từng lĩnh vực. Trên cơ sở đó, xác
định phạm vi, đối tượng của từng dự án luật,
pháp lệnh để nghiên cứu, xem xét vấn đề gì quy
định mới, vấn đề gì phải sửa đổi, bổ sung. Chú
trọng công tác khảo sát, tổng kết thực tiễn, tổ
chức hội thảo khoa học có chất lượng thiết thực,
bảo đảm các dự án luật, pháp lệnh có luận cứ
khoa học, căn cứ thực tiễn, góp phần nâng cao
chất lượng biên soạn, bảo đảm thời gian của việc
chuẩn bị và trình các dự án. Cần tập hợp trí tuệ
của các nhà khoa học, trưng tập các chuyên gia
có kinh nghiệm về các lĩnh vực trong việc xây
dựng dự án pháp luật. Việc tham khảo kinh nghiệm
của nước ngoài phải có chọn lọc, phù hợp với
thực tiễn Việt Nam.
Cần tăng cường phối hợp chặt chẽ
giữa các cơ quan hữu quan nhằm bảo đảm thực hiện
đúng tiến độ và nâng cao chất lượng của văn bản
pháp luật. Tiếp tục kiện toàn Vụ Pháp chế của
các bộ, cơ quan ngang bộ để làm tốt chức năng
tham mưu cho bộ trưởng về công tác xây dựng pháp
luật; nâng cao chất lượng thẩm định của Bộ Tư
pháp, tăng cường hoạt động của Chính phủ trong
việc xem xét, thảo luận đối với các dự án luật,
pháp lệnh do Chính phủ trình hoặc việc tham gia
ý kiến đối với các dự án do cơ quan, tổ chức
khác và đại biểu Quốc hội trình. Đề cao trách
nhiệm của Ban Xây dựng pháp luật thuộc Văn phòng
Chính phủ trong việc tham mưu giúp Chính phủ đối
với công tác xây dựng pháp luật, nhằm đáp ứng
yêu cầu đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị, nâng cao
chất lượng soạn thảo.
Công tác thẩm tra các dự án luật,
pháp lệnh của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của
Quốc hội cần được tổ chức bảo đảm chiều sâu. Các
dự án, một mặt, cần được xem xét về sự phù hợp
với quan điểm, đường lối của Đảng; mặt khác, xem
xét về tính hợp hiến, tính đồng bộ, thống nhất,
tính khoa học, sự phù hợp với thực tiễn, với ý
chí, nguyện vọng của nhân dân. Việc cân nhắc,
xem xét một cách thận trọng tất cả các ý kiến
khác nhau trong quá trình xây dựng dự án sẽ làm
cho hoạt động thẩm tra ngày càng phong phú, khoa
học, chặt chẽ và toàn diện hơn. Bên cạnh đó, cần
bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa Hội đồng Dân
tộc và các Ủy ban của Quốc hội trong việc thẩm
tra các dự án có nội dung liên quan đến nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực; chủ động phối hợp với các
cơ quan hữu quan trong toàn bộ quá trình chuẩn
bị các dự án về lĩnh vực mình phụ trách.
- Việc tổ chức lấy ý kiến góp ý
vào các dự án luật, pháp lệnh cần hết sức coi
trọng. Mỗi đợt lấy ý kiến phải bảo đảm mục đích
huy động được trí tuệ của các ngành, các cấp và
của nhân dân; đồng thời cũng là đợt sinh hoạt,
tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ
trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà
nước đối với từng lĩnh vực trong nhân dân. Chính
vì vậy, việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân phải
được tiến hành một cách thực chất, có kế hoạch,
yêu cầu cụ thể, căn cứ vào nội dung từng dự án
luật, pháp lệnh mà xác định đối tượng cần tập
trung thảo luận, tránh hình thức và tổ chức cập
rập, thiếu chỉ đạo cụ thể, làm mất nhiều thời
gian, tiền của, công sức mà kết quả thu được
không nhiều. Trong việc tổ chức, cần xác định cụ
thể trách nhiệm của từng cơ quan hữu quan đối
với công tác chuẩn bị và nêu lên các vấn đề cần
tập trung thảo luận, đóng góp; việc tập hợp,
tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu ý kiến chỉnh lý
vào dự án luật, pháp lệnh phải được tiến hành
chu đáo, kịp thời.
Việc tổ chức Hội nghị đại biểu
Quốc hội chuyên trách để thảo luận, đóng góp ý
kiến vào các dự án luật và việc tổ chức để đại
biểu Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội tham
gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật một cách
thường xuyên giữa hai kỳ họp đã bước đầu được
thực hiện có kết quả tốt, cần tiếp tục rút kinh
nghiệm, đổi mới cách làm để đạt hiệu quả ngày
càng tốt hơn.
- Việc xem xét, thông qua các dự
án luật tại kỳ họp Quốc hội cần được tiếp tục
đổi mới mạnh mẽ theo hướng tại kỳ họp, Quốc hội
chỉ tập trung thảo luận về quan điểm, chính
sách, nội dung cơ bản của luật và thông qua các
dự án luật. Bởi vậy, các công việc chuẩn bị phải
được tiến hành thật chu đáo, đầy đủ trước kỳ họp
Quốc hội. Thực tế đã chứng minh, nếu việc chỉnh
lý các dự án luật được tiến hành một cách cẩn
trọng, kỹ lưỡng; kỹ thuật văn bản bảo đảm chất
lượng, việc giải trình, tiếp thu được tiến hành
nghiêm túc, đầy đủ, chặt chẽ, thuyết phục thì
việc xem xét, thông qua luật của Quốc hội sẽ
được nhanh hơn và chất lượng dự án luật được
nâng lên. Để làm tốt việc này, cơ quan chủ trì
thẩm tra, cơ quan trình dự án, Bộ Tư pháp, Ủy
ban Pháp luật của Quốc hội và Ban Công tác lập
pháp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần tiếp tục
phát huy đầy đủ hơn nữa trách nhiệm của mình
trong việc giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội nghiên
cứu chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật trình Quốc
hội. Cần nghiên cứu, rút kinh nghiệm cách thức
tổ chức thảo luận đồng thời tại một số địa điểm
đối với các dự án luật được Quốc hội cho ý kiến
lần đầu.
3- Nâng cao chất lượng đại biểu
Quốc hội và kiện toàn các cơ quan của Quốc hội
Đây là yếu tố quan trọng để đổi
mới và nâng cao chất lượng các hoạt động của
Quốc hội, trong đó có hoạt động lập pháp. Cần
tiếp tục đổi mới phương thức lựa chọn, hiệp
thương, giới thiệu ứng cử viên đại biểu Quốc hội
nhằm bảo đảm nâng cao chất lượng của đại biểu
(đại biểu Quốc hội phải là những người có phẩm
chất chính trị và đạo đức tốt, có năng lực,
trình độ, có điều kiện tham gia các hoạt động
của Quốc hội); đồng thời, chú ý đúng mức đến cơ
cấu, tính đại diện trong Quốc hội; giảm hợp lý
số đại biểu Quốc hội thuộc các cơ quan quản lý
hành chính nhà nước. Trong thời gian tới, cần
nghiên cứu tăng dần số đại biểu Quốc hội hoạt
động chuyên trách lên một tỷ lệ thích hợp trong
Quốc hội, phù hợp với thực tiễn nước ta (có thể
là 40% hoặc 50% tổng số đại biểu Quốc hội).
Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của
Quốc hội cần được kiện toàn theo hướng tăng dần
số đại biểu Quốc hội làm việc chuyên trách. Các
Ủy ban cần bố trí các thành viên hoạt động
chuyên trách với số lượng từ 15 đến 20 người;
bảo đảm cho Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của
Quốc hội thực sự là những cơ quan hoạt động
thường xuyên, là những cơ quan tư vấn có hiệu
quả cho Quốc hội. Đồng thời, nghiên cứu thành
lập một số ủy ban mới như: Ủy ban Ngân sách
(tách từ Ủy ban Kinh tế), Ủy ban Tư pháp (tách
từ Ủy ban Pháp luật).
4- Tiếp tục củng cố và tăng cường
bộ máy giúp việc của Quốc hội
Để đáp ứng yêu cầu phục vụ hoạt
động của Quốc hội, trong đó có hoạt động lập
pháp, đòi hỏi bộ máy giúp việc của Quốc hội phải
được tăng cường những cán bộ chuyên môn, nghiệp
vụ có trình độ cao, am hiểu thực tiễn sâu sắc,
đủ sức để nghiên cứu, tham mưu đáp ứng kịp thời
những yêu cầu mà Quốc hội đề ra. Cần có cơ chế
để có thể huy động được các nhà khoa học, các
chuyên gia làm cộng tác viên của các cơ quan của
Quốc hội trong việc xây dựng pháp luật. Đẩy mạnh
công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực lập
pháp. Trách nhiệm của bộ máy giúp việc trong
việc bảo đảm thông tin cho Quốc hội cũng là yếu
tố quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động
lập pháp của Quốc hội. Cần cung cấp đầy đủ thông
tin về kinh nghiệm lập pháp của quốc hội các
nước, thông tin về những vấn đề thuộc nội dung
các dự án luật và các vấn đề có liên quan để
giúp đại biểu Quốc hội nghiên cứu và quyết định
đối với từng dự án luật.
(*) Ủy viên Trung ương Đảng, Phó
Chủ tịch Quốc hội
Nguồn:
http://www.tapchicongsan.org.vn |