|
Cụ Vũ Đình Hòe: Hiến pháp 1946, công cụ màu nhiệm
để đoàn kết toàn dân
|
 |
Vào năm mới 2006, cụ Vũ Ðình Hòe, một nhân sĩ
trí thức đi theo cách mạng bước sang tuổi 95 đại
thọ. Tuổi cao song minh mẫn, vị Bộ trưởng Tư
pháp đầu tiên của nước ta đã dành cho chúng tôi
cuộc trò chuyện thân tình và sâu sắc nhân dịp kỷ
niệm 60 năm Quốc hội Việt Nam.
|
Khẳng định: Quốc dân Ðại hội Tân Trào là "Tiền
thân" của Quốc hội Việt Nam, cụ nói:
- Cuối năm 1944 trước thời cuộc chuyển biến thuận
lợi, cơ hội ngàn năm có một không còn xa nữa,
"phen này dù có phải đốt cháy cả dãy núi Trường
Sơn thì dân ta cũng phải giành cho được độc lập"
(Lời Hồ Chủ tịch).
Chủ tịch Mặt trận Việt Minh gửi thư cho quốc dân
đồng bào nêu sự cần thiết phải thành lập ngay "một
cơ cấu đại biểu cho toàn dân" để có đủ sức mạnh
đoàn kết dân tộc đấu tranh giành độc lập, tự do.
Cơ cấu tổ chức đó gồm tất cả các đảng phái cách
mạng và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra
"thì mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh
đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao
thiệp với các hữu bang" (Theo sách "Lịch sử Quốc
hội")...
Hoa chiến thắng nở dồn dập, quân đội Liên Xô tiến
vào Berlin, trùm phát xít Hitler tự tử. Ðế quốc Mỹ
ném bom nguyên tử xuống đất Nhật. Vua Nhật cúi đầu
xin hàng. Ðại hội Quốc dân Tân Trào họp gấp, ra
lệnh Tổng khởi nghĩa dưới sự chỉ huy của Ủy ban
Dân tộc Giải phóng Việt Nam mới được Ðại hội bầu
ra. Hồ Chí Minh, Chủ tịch Ủy ban Dân tộc Giải
phóng tuyên bố với quốc dân rằng "Ủy ban Dân tộc
Giải phóng Việt Nam, tức như Chính phủ Lâm thời
của ta lúc này. Hãy đoàn kết chung quanh nó, làm
cho chính sách và mệnh lệnh của nó được thi hành
khắp nước".
Chương trình 44 điểm, Ðại hội vừa quyết định, thì
Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam có trách nhiệm
thực hiện dần. Vậy ta có đủ lý lẽ để coi Quốc dân
Ðại hội Tân Trào là Quốc hội lâm thời của nước ta,
hoặc nói cho có hình tượng, là "Tiền thân của Quốc
hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa". Và chương trình 44
điểm, tức như "Hiến pháp lâm thời" hoặc "tiền
thân" của Hiến pháp 1946.
Chính phủ lâm thời, Quốc hội lâm thời, Hiến pháp
lâm thời. Danh xưng "lâm thời" (hoặc "tiền thân")
không phải chỉ có nghĩa hình thức pháp lý, mà
chúng mang nội dung của sự vật cách mạng. Chúng
thoát thai từ thực tiễn máu lửa chiến đấu của cả
khối 20 triệu đồng bào. Sau 80 năm mong đợi chịu
đựng biết bao hy sinh, gian khổ, rồi 5 năm thai
nghén, mang nặng đẻ đau, Mẹ Việt Nam mới sinh hạ
được đứa con cứng cáp, kháu khỉnh đến thế: Ðại hội
Quốc dân Tân Trào!
- PV:
Chức năng lập pháp của Quốc hội khóa I và ý
nghĩa của công tác lập pháp lúc bấy giờ được đánh
giá như thế nào, thưa cụ?
- Cụ Vũ Ðình Hòe:
Tôi nghĩ rằng không phải chỉ đến khi Quốc hội
chính thức ra đời sau Tổng tuyển cử (6-1-1946),
mới xuất hiện chức năng lập pháp và công tác lập
pháp. Quốc dân Ðại hội Tân Trào (tiền thân của
Quốc hội) đã bắt đầu làm "luật" rồi, tuy mới là
"Luật lâm thời".
Ðạo luật chính thức đầu tiên, đạo luật vĩ đại,
mang nội dung chính trị pháp lý cao siêu (nhiều
nhà chính trị và sử học trong và ngoài nước công
nhận như thế), đó là: Tuyên ngôn Ðộc lập 2-9-45.
Ðạo luật này còn cơ bản hơn cả Hiến pháp. Toàn thể
thành viên của Chính phủ lâm thời ký tên vào đó.
Nó làm nền cho Hiến pháp 1946, lại là "Vương miện
dát kim cương" đội lên đầu Hiến pháp Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa.
Dưới ánh sáng rực rỡ của Tuyên ngôn Ðộc lập và dựa
vào Chương trình 44 điểm của Quốc dân Ðại hội Tân
Trào, Chính phủ nhân dân lâm thời với sự gợi ý và
hướng dẫn của Tổng bộ Việt Minh và Hồ Chủ tịch,
chế định một loạt văn bản có tính chất lập pháp.
Ðó là, ví dụ, Sắc luật ban hành thể lệ cuộc Tổng
tuyển cử bầu Quốc hội, những sắc luật thủ tiêu các
ngành trong bộ máy cai trị đàn áp, bóc lột của
thực dân Pháp và phong kiến Nam Triều, các sắc
luật giảm tô, hoãn nợ, chia lại công điền, tịch
thu các đồn điền của Pháp tạm cấp cho dân cày
nghèo, sắc luật xóa bỏ sưu thuế bất công, phu
phen, lao dịch, đầy ải...
Ðồng thời có một loạt sắc luật xác lập các cấp Hội
đồng Nhân dân và Ủy ban hành chính theo hai nguyên
lý dân chủ mới của bộ máy quản lý xã hội: Chính
quyền trực tiếp và chính quyền tập trung, v.v. và
v.v. Ðến khi toàn dân đã bầu ra Quốc hội chính
thức, và Quốc hội bầu ra Chính phủ chính thức, gọi
là Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, cùng với Ban
Cố vấn Chính phủ, thì công tác lập pháp càng được
đẩy mạnh.
Trong năm 1946 công tác dự thảo Hiến pháp được
tiến hành khẩn trương và phiên họp cuối năm dành
gần hết thời gian cho việc thảo luận và biểu quyết
Hiến pháp. Rồi dựa trên tinh thần Hiến pháp năm
1946, Quốc hội thông qua được bản Dự án Lao động,
đặc biệt quyết định và ban hành Luật Cải cách
ruộng đất, giải quyết nguyện vọng ngàn đời của
người nông dân không có ruộng hoặc ít ruộng, gây
phấn khởi cho đồng bào dẫn đến đại thắng Ðiện Biên
Phủ lẫy lừng.
Trong hoàn cảnh chiến tranh giữ nước ác liệt kéo
dài (nội bộ Quốc hội lúc đầu lại có một số phần tử
đối lập gây rối) mà Quốc hội giữ được tinh thần
đoàn kết nhất trí, đã ra được những văn bản luật
(gồm cả những Nghị quyết có tính chất luật) hết
sức quan trọng quan hệ đến vận mệnh quốc gia, thì
ta phải đánh giá đó là một kỳ công phi thường đáng
khâm phục biết bao.
Ðối với vận mệnh quốc gia, cũng không nên quên hai
Hiệp định (văn bản pháp luật quốc tế) là Hiệp định
sơ bộ 06-03-1946 và Hiệp định Geneva 20-07-1954.
Tuy Quốc hội không đóng vai trò chính yếu nhưng có
theo dõi việc đấu tranh ngoại giao và cuối cùng
biểu quyết chuẩn y việc ký kết của Chính phủ, rồi
làm nhiệm vụ giải thích trong nhân dân và giám sát
sự thi hành. Ðó cũng là trong phạm vi công tác lập
pháp hiểu theo nghĩa rộng.
Ta hãy đối chiếu hoạt động lập pháp (nghĩa rộng
lẫn nghĩa hẹp) của Quốc hội với câu của Chủ tịch
Hồ Chí Minh viết trong lời nói đầu của Hiến pháp
năm 1946, nguyên văn như sau:
"Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là
bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến
thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ".
Ðối chiếu xong, dù thận trọng đến đâu, tôi dám
chắc ai ai cũng phải kết luận rằng Quốc hội Khóa I
đã hoàn thành vẻ vang trách nhiệm trong chức năng
lập pháp của mình và công tác lập pháp ấy rất lớn
lao, tỏa sáng chói lọi...
- PV: Cụ bình luận thế nào về tư tưởng chủ đạo
của Hiến pháp 1946?
- Cụ Vũ Ðình Hòe:
Bác Hồ đã vạch tư tưởng đó khi Bác nhận viết "Lời
mở đầu" của Hiến pháp: Linh hồn của Hiến pháp sẽ
là: "Ðoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi,
gái trai, giai cấp, tôn giáo".
Hiến pháp phải đặt nền tảng cho một chế độ pháp
quyền, đặc thù của nước mình, không "cóp" của ai.
Pháp quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không phải là
võ khí đấu tranh giai cấp trong nội bộ xã hội ta -
mà nó phải là công cụ màu nhiệm để đoàn kết tất cả
các giai cấp, đoàn kết toàn dân, luôn luôn phải
bảo vệ, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc để
cứu nước, dựng nước, giữ nước, mưu cầu Ðộc lập -
Tự do - Hạnh phúc cho toàn dân.
Pháp quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mang nội dung
nhân nghĩa Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy Ðại
Nghĩa - Chí Nhân của dân tộc ta 4.000 năm văn
hiến.
Nhà nước toàn dân, Quốc hội toàn dân, Chính phủ
toàn dân, Pháp quyền toàn dân và cả Ðảng cũng là
Ðảng toàn dân. "Chúng ta, chúng tôi chỉ có một
Ðảng, Ðảng Việt Nam" (lời Bác phát biểu trong cuộc
họp báo đầu năm 1946).
Chính nhờ thấm nhuần được "tư tưởng chủ đạo" ấy mà
Ban soạn thảo Ðiều lệ Tổng tuyển cử đã thảo ra
được những điều khoản chặt chẽ, sắc bén để bảo đảm
cho toàn dân thực thi được đầy đủ quyền bầu cử và
ứng cử cực kỳ rộng rãi, cực kỳ phổ thông, hoàn
toàn tự do, chưa từng thấy ở đâu trên thế giới,
ngay cả ở Liên Xô với nền dân chủ XHCN. Tôi đã kể
chuyện ấy nhiều lần trong các hồi ký của tôi. Cả
những người "mù chữ" cũng được đi bỏ phiếu. Nhiều
vị đại biểu Quốc hội thiện chí thành viên của Ban
Ðiều lệ thắc mắc thì Bác Hồ tự thân đến đánh thông
tư tưởng và họ thông ngay, còn hỉ hả nữa cơ!
Nếu có thể nói về những kỷ niệm, những ấn tượng
sâu đậm, thì chính đó là kỷ niệm sâu đậm nhất của
tôi. Tôi nghĩ rằng toàn bộ nội dung Hiến pháp 1946
đều trực tiếp hoặc gián tiếp, nhiều hay ít, đã thể
hiện được tư tưởng chủ đạo đó của Bác Hồ đã vạch
ra cho Ban soạn thảo từ ngày đầu làm việc.
- PV:
Theo cụ, trong giai đoạn phát triển và hội
nhập kinh tế hiện nay, Hiến pháp 1946 có ý nghĩa
và ảnh hưởng như thế nào?
- Cụ Vũ Ðình Hòe:
Hiến pháp 1946 giữ nguyên giá trị nhân văn và tính
chiến đấu của nó, (cả tính khoa học nữa). Chỉ cần
trong nước mỗi công dân hiểu thấu và quyết tâm
thực hiện lời dạy của Bác Hồ: "Cách mạng tiên cách
tâm".
Ðể đổi mới thật sự, đổi mới toàn diện, đổi mới
triệt để, dân chủ hóa từ gốc đến ngọn theo đúng
Hiến pháp 1946. Còn trên Thế giới thì mọi thành
viên của đại gia đình toàn cầu hóa phải giác ngộ
đúng mức chân lý:
"Thiện căn ở tại lòng ta" - Cái tâm kia mới bằng
ba, bằng ba mươi cái tài!
LÊ MẠNH TUẤN thực hiện
Nguồn: http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/
|