Trang chủ  

Bác Hồ và Đảng CSVN với QH
Quá trình hình thành và sự ra đời của QH
Nội dung và ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên
Quá trình phát triển của QH qua các thời kỳ
Những thành tựu đạt được
Ảnh tư liệu
Các hoạt động kỷ niệm 60 năm QHVN 
 Viết về QHVN
 Các số liệu
Hộp thư góp ý


"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

 

Trích    Tuyên ngôn độc lập

   
Chào mừng bạn đến với Website 60 năm Quốc hội Việt Nam

  
 

 QUỐC HỘI NĂM ĐẦU - TRANG TƯ LIỆU HÀO HÙNG

(Phần 4)

Chân Phương - Quốc Thắng 

Lịch sử Quốc hội tập 1 giai đoạn 1946- 1960 (NXB Chính trị QG, Hà Nội, 1994) do Văn phòng Quốc hội chủ trương xuất bản ở trang 82 trong đề mục dành cho giai đoạn sau kỳ họp thứ nhất viết: Quốc hội với việc củng cố Nhà nước, xây dựng nền dân chủ, thống nhất dân tộc, sẵn sàng kháng chiến trong toàn quốc. Đây là một đề mục công phu, chọn lựa kỹ càng bao quát. Song hậu thế khó mà thấy hết sự cam go của cả một quá trình và những bước đi có tính chất quyết định cho cục diện sau này. Tuy nhiên, là sách sử nên những minh chứng đưa ra ở các trang sau chúng ta có thể hình dung ra được vận nước trong những năm tháng đó.

Hiệp định sơ bộ 6.3.1946 là bước đi ngoạn mục đuổi 20 vạn quân Tàu Tưởng ra khỏi miền Bắc để tránh việc cùng một lúc lực ta còn yếu phải đối phó với nhiều kẻ thù. Sáng 6.3.1946 do Nguyễn Tường Tam vắng mặt và tính có một không hai của tình thế nên Hội đồng Chính phủ họp quyết định tất cả phải ký vào một biên bản đặc biệt:

“Hội đồng Chính phủ Việt Nam, Tối cao cố vấn đoàn đoàn trưởng, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến toàn quốc, trong phiên họp 6.3.1946, sau khi cụ Chủ tịch báo cáo về tình hình ngoại giao, sau khi hỏi ý kiến của toàn thể:

1. Nghị quyết tán thành ký hiệp định đình chiến và mở cuộc đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp, theo những điều kiện Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một quốc gia tự do và Chính phủ việt nam bằng lòng để quân đội pháp thay thế quân đội Trung Hoa (nguyên văn đính theo sau).

2. Ủy quyền cho ông Vũ Hồng Khanh, Phó phủ tịch Ủy ban kháng chiến, thay mặt Hội đồng Chính phủ cùng cụ Chủ tịch Chính phủ ký hiệp định trên với đại biểu Pháp.

3. Nghị quyết này do toàn thể Hội đồng, Ủy ban kháng chiến và Ban Thường trực Quốc hội cộng đồng phụ trách trước quốc dân”.

Với Hiệp định sơ bộ 6.3 nước Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do trong liên bang Đông Dương và trong khối liên hiệp Pháp, một nước có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Việt Nam chấp thuận đề nghị để quân đội Pháp ra miền Bắc vĩ tuyến 16 để thay thế quân đội Tưởng...

Đây là bước hòa để tiến, giành thời gian để chuẩn bị lực lượng.

Ngày 25.4.1946 đồng chí Phạm Văn Đồng, Phó trưởng ban Thường trực Quốc hội sang thăm Pháp.

Ngày 31.5.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường sang Pháp với tư cách thượng khách của nước Pháp. Cùng thời gian này đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam đến Pháp lần thứ 2 để dự vòng đàm phán Việt- Pháp (lúc đầu ta cử Nguyễn Tường Tam làm trưởng đoàn, nhưng Nguyễn Tường Tam bỏ cuộc).

Đến Pari lúc này là đến chốn hang hùm nọc rắn, 25 triệu người dân Việt đếm từng ngày lo lắng:

Cụ Hồ đi lâu quá chưa về

Phố chợ làng quê

Từ cái buổi tinh sương

Cụ Hồ đi vượt trùng dương vạn dặm

Sao mà thấy đêm ngày lê chậm lắm

...

Cụ Hồ ơi. Nếu... ô hay, nhảm mãi

Có trường thành vạn lý chúng con đây

Hai lăm triệu cánh tay này một khối...

Lại thêm một quyết định táo bạo nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tạm ước 14.9.1946 (Phôngtennơblô) giành thêm thời gian để chuẩn bị lực lượng trong nước về mọi mặt: củng cố chính quyền, củng cố lực lượng vũ trang.

Từ ngày 28.10 đến 9.11.1946, theo yêu cầu của Chính phủ, Ban Thường trực Quốc hội đã họp kỳ thứ hai tại thủ đô Hà Nội. Nhiều đại biểu vì lý do kháng chiến ở Nam Bộ không thể về dự chia làm 3 phái: Phái tả có 14 đại biểu Mác xít do ông Nguyễn Văn Tạo đứng đầu; 24 đại biểu Đảng Xã hội do Phan Tử Nghĩa và ông Nguyễn Xiển đứng đầu; 45 đại biểu Đảng Dân chủ do ông Đỗ Đức Dục và ông Tôn Quang Phiệt đứng đầu; Phái giữa gồm 80 đại biểu Việt Minh do ông Phạm  Văn Đồng, Nguyễn Đình Thi, Xuân Thủy đứng đầu; 90 đại biểu không đảng phái; Phái hữu gồm 17 Việt Cách, 20 Việt Quốc và các đại biểu chia chỗ ngồi thành 3 khối: Phái hữu ngồi bên phải, phái giữa ngồi giữa hội trường và phái tả ngồi bên trái hội trường. Các đại biểu Đảng Xã hội đeo caravat đỏ.

Nếu kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 1 diễn ra trong bối cảnh nước nhà đang ở một tình thế nghiêm trọng, nạn xâm lăng đường đe dọa nền độc lập quốc gia, thì kỳ họp thứ 2 bắt đầu vào ngày 28.10.1946, tức là sau khoảng 14 tháng nhà nước non trẻ dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thêm thời gian củng cố, xây dựng nền dân chủ, thống nhất dân tộc, sẵn sàng kháng chiến trong toàn quốc.

Kỳ họp thứ 2 với nhiều nội dung quan trọng, Quốc hội xem xét Báo cáo về hoạt động của Ban Thường trực Quốc hội, Báo cáo về hoạt động của Chính phủ, Báo cáo đặc biệt của Chính phủ về việc giao thiệp với Chính phủ Pháp và thành lập Chính phủ mới... Đặc biệt tại kỳ họp lịch sử này, Quốc hội đã thực hiện chức năng lập hiến xem xét, thông qua bản Hiến pháp đầu tiên “trong cõi Á Đông”.

Trở lại với thời gian trước đó, trong thế nước hiểm nghèo với muôn vàn công việc bề bộn bằng nhãn quan chính trị tinh tường, tỉnh táo và kinh nghiệm hoạt động, tầm hiểu biết sâu, rộng nhiều mặt của vị lãnh tụ thiên tài- Hồ Chí Minh. Chỉ một ngày sau khi tuyên bố độc lập, ngày 3.9.1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Bác đã đề ra nhiệm vụ phải xây dựng một bản Hiến pháp dân chủ, Bác nói:

“Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm, càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”.

Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I trong tình thế nghiêm trọng, không thể kéo dài, nhưng đã kịp thành lập một Ban Thường trực để thay mặt Quốc hội và một Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 vị trong Quốc hội. Trước đó, ngày 20.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 34 thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 vị mà Bác Hồ là Trưởng ban dự thảo. Ban dự thảo đã họp nhiều lần dưới sự chủ tọa của Bác đề dự thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vậy là vấn đề phải có một Hiến pháp dân chủ được manh nha từ rất sớm, năm 1919, trong Yêu sách của nhân dân An Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ tư tưởng về một nhà nước pháp quyền Việt Nam độc lập và thể hiện bằng một lời thơ giản dị trong Việt Nam yêu cầu ca:

Bảy xin Hiến pháp ban hành

Trăm điều phải có thần linh pháp quyền.

Và giờ đây qua hơn một năm chuẩn bị tích cực, Bản Hiến pháp đã được trình ra kỳ họp thứ II Quốc hội khóa I xem xét thông qua. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã xem xét hai bản dự án Hiến pháp, một do tiểu Ban Hiến pháp của Quốc hội dự thảo, một do tiểu Ban Hiến pháp mở rộng (21 người) chuẩn bị. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được Đại hội Đại biểu toàn quốc họp tại Thủ đô Hà Nội thông qua ngày 8.11.1946 và công nhận là chính thức ngày 9.11.1946.

Trong bài phát biểu tại phiên họp bế mạc kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa I Bác đã nói:

“Hơn mười ngày nay, các Đại biểu đã khó nhọc làm việc, Quốc hội đã thu được môt kết quả làm vẻ vang cho đất nước là đã thảo luận xong bản Hiến pháp. Sau khi nước nhà mới được tự do hơn 14 tháng, đã làm thành bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Bản Hiến pháp đó còn là một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông này nữa. Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: Phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được tự do của một quyền công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bằng của các giai cấp”.

55 năm qua kể từ ngày bản Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội thông qua, đất nước đã trải qua bao thử thách khốc liệt để bảo vệ nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; Chúng ta đã có 4 bản Hiến pháp ra đời trong bối cảnh lịch sử khác nhau và mang theo nó nhiệm vụ của Cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn. Tuy nhiên, ý nghĩa lịch sử của bản Hiến pháp đầu tiên, Hiến pháp 1946 vẫn còn nguyên vẹn. Bản Hiến pháp khẳng định một nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc “Sau 80 năm tranh đấu, thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thực dân đồng thời đã gạt bỏ chế độ vua quan, nước nhà bước sang một quãng đường mới” với nhiệm vụ: bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ. 

Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân, số 157 ngày 1-9-2005 

<< Quay lại

 
  

Trở về đầu trang

© 2006 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Trung tâm TT-TV-NCKH & Trung tâm Tin học thuộc VPQH

Phối hợp với Công ty Cổ phần Minh Việt thực hiện