|
QUỐC
HỘI NĂM ĐẦU - TRANG TƯ LIỆU HÀO HÙNG
(Phần 4)
Chân Phương - Quốc Thắng
Lịch sử Quốc hội tập 1 giai đoạn 1946- 1960 (NXB
Chính trị QG, Hà Nội, 1994) do Văn phòng Quốc
hội chủ trương xuất bản ở trang 82 trong đề mục
dành cho giai đoạn sau kỳ họp thứ nhất viết:
Quốc hội với việc củng cố Nhà nước, xây dựng nền
dân chủ, thống nhất dân tộc, sẵn sàng kháng
chiến trong toàn quốc. Đây là một đề mục
công phu, chọn lựa kỹ càng bao quát. Song hậu
thế khó mà thấy hết sự cam go của cả một quá
trình và những bước đi có tính chất quyết định
cho cục diện sau này. Tuy nhiên, là sách sử nên
những minh chứng đưa ra ở các trang sau chúng ta
có thể hình dung ra được vận nước trong những
năm tháng đó.
Hiệp định sơ bộ 6.3.1946 là bước đi ngoạn mục
đuổi 20 vạn quân Tàu Tưởng ra khỏi miền Bắc để
tránh việc cùng một lúc lực ta còn yếu phải đối
phó với nhiều kẻ thù. Sáng 6.3.1946 do Nguyễn
Tường Tam vắng mặt và tính có một không hai của
tình thế nên Hội đồng Chính phủ họp quyết định
tất cả phải ký vào một biên bản đặc biệt:
“Hội đồng Chính phủ Việt Nam, Tối cao cố vấn
đoàn đoàn trưởng, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch và
Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến toàn quốc, trong
phiên họp 6.3.1946, sau khi cụ Chủ tịch báo cáo
về tình hình ngoại giao, sau khi hỏi ý kiến của
toàn thể:
1. Nghị quyết tán thành ký hiệp định đình chiến
và mở cuộc đàm phán chính thức với Chính phủ
Pháp, theo những điều kiện Pháp công nhận nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa là một quốc gia tự do
và Chính phủ việt nam bằng lòng để quân đội pháp
thay thế quân đội Trung Hoa (nguyên văn đính
theo sau).
2. Ủy quyền cho ông Vũ Hồng Khanh, Phó phủ tịch
Ủy ban kháng chiến, thay mặt Hội đồng Chính phủ
cùng cụ Chủ tịch Chính phủ ký hiệp định trên với
đại biểu Pháp.
3. Nghị quyết này do toàn thể Hội đồng, Ủy ban
kháng chiến và Ban Thường trực Quốc hội cộng
đồng phụ trách trước quốc dân”.
Với Hiệp định sơ bộ 6.3 nước Pháp công nhận Việt
Nam là một quốc gia tự do trong liên bang Đông
Dương và trong khối liên hiệp Pháp, một nước có
chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính
riêng. Việt Nam chấp thuận đề nghị để quân đội
Pháp ra miền Bắc vĩ tuyến 16 để thay thế quân
đội Tưởng...
Đây là bước hòa để tiến, giành thời gian để
chuẩn bị lực lượng.
Ngày 25.4.1946 đồng chí Phạm Văn Đồng, Phó
trưởng ban Thường trực Quốc hội sang thăm Pháp.
Ngày 31.5.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường
sang Pháp với tư cách thượng khách của nước
Pháp. Cùng thời gian này đồng chí Phạm Văn Đồng
dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam đến Pháp lần thứ
2 để dự vòng đàm phán Việt- Pháp (lúc đầu ta cử
Nguyễn Tường Tam làm trưởng đoàn, nhưng Nguyễn
Tường Tam bỏ cuộc).
Đến Pari lúc này là đến chốn hang hùm nọc rắn,
25 triệu người dân Việt đếm từng ngày lo lắng:
Cụ Hồ đi lâu quá chưa về
Phố chợ làng quê
Từ cái buổi tinh sương
Cụ Hồ đi vượt trùng dương vạn dặm
Sao mà thấy đêm ngày lê chậm lắm
...
Cụ Hồ ơi. Nếu... ô hay, nhảm mãi
Có trường thành vạn lý chúng con đây
Hai lăm triệu cánh tay này một khối...
Lại thêm một quyết định táo bạo nữa, Chủ tịch Hồ
Chí Minh ký tạm ước 14.9.1946 (Phôngtennơblô)
giành thêm thời gian để chuẩn bị lực lượng trong
nước về mọi mặt: củng cố chính quyền, củng cố
lực lượng vũ trang.
Từ ngày 28.10 đến 9.11.1946, theo yêu cầu của
Chính phủ, Ban Thường trực Quốc hội đã họp kỳ
thứ hai tại thủ đô Hà Nội. Nhiều đại biểu vì lý
do kháng chiến ở Nam Bộ không thể về dự chia làm
3 phái: Phái tả có 14 đại biểu Mác xít do ông
Nguyễn Văn Tạo đứng đầu; 24 đại biểu Đảng Xã hội
do Phan Tử Nghĩa và ông Nguyễn Xiển đứng đầu; 45
đại biểu Đảng Dân chủ do ông Đỗ Đức Dục và ông
Tôn Quang Phiệt đứng đầu; Phái giữa gồm 80 đại
biểu Việt Minh do ông Phạm Văn Đồng, Nguyễn
Đình Thi, Xuân Thủy đứng đầu; 90 đại biểu không
đảng phái; Phái hữu gồm 17 Việt Cách, 20 Việt
Quốc và các đại biểu chia chỗ ngồi thành 3 khối:
Phái hữu ngồi bên phải, phái giữa ngồi giữa hội
trường và phái tả ngồi bên trái hội trường. Các
đại biểu Đảng Xã hội đeo caravat đỏ.
Nếu kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 1 diễn ra
trong bối cảnh nước nhà đang ở một tình thế
nghiêm trọng, nạn xâm lăng đường đe dọa nền độc
lập quốc gia, thì kỳ họp thứ 2 bắt đầu vào ngày
28.10.1946, tức là sau khoảng 14 tháng nhà nước
non trẻ dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, có thêm thời gian củng cố, xây dựng
nền dân chủ, thống nhất dân tộc, sẵn sàng kháng
chiến trong toàn quốc.
Kỳ họp thứ 2 với nhiều nội dung quan trọng, Quốc
hội xem xét Báo cáo về hoạt động của Ban Thường
trực Quốc hội, Báo cáo về hoạt động của Chính
phủ, Báo cáo đặc biệt của Chính phủ về việc giao
thiệp với Chính phủ Pháp và thành lập Chính phủ
mới... Đặc biệt tại kỳ họp lịch sử này, Quốc hội
đã thực hiện chức năng lập hiến xem xét, thông
qua bản Hiến pháp đầu tiên “trong cõi Á Đông”.
Trở lại với thời gian trước đó, trong thế nước
hiểm nghèo với muôn vàn công việc bề bộn bằng
nhãn quan chính trị tinh tường, tỉnh táo và kinh
nghiệm hoạt động, tầm hiểu biết sâu, rộng nhiều
mặt của vị lãnh tụ thiên tài- Hồ Chí Minh. Chỉ
một ngày sau khi tuyên bố độc lập, ngày
3.9.1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng
Chính phủ, Bác đã đề ra nhiệm vụ phải xây dựng
một bản Hiến pháp dân chủ, Bác nói:
“Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế
cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần
chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân
dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ.
Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề
nghị Chính phủ tổ chức càng sớm, càng hay cuộc
tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”.
Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I trong tình thế
nghiêm trọng, không thể kéo dài, nhưng đã kịp
thành lập một Ban Thường trực để thay mặt Quốc
hội và một Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 vị trong
Quốc hội. Trước đó, ngày 20.9.1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã ký sắc lệnh số 34 thành lập Ban dự
thảo Hiến pháp gồm 7 vị mà Bác Hồ là Trưởng ban
dự thảo. Ban dự thảo đã họp nhiều lần dưới sự
chủ tọa của Bác đề dự thảo bản Hiến pháp đầu
tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vậy là
vấn đề phải có một Hiến pháp dân chủ được manh
nha từ rất sớm, năm 1919, trong Yêu sách của
nhân dân An Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ
tư tưởng về một nhà nước pháp quyền Việt Nam độc
lập và thể hiện bằng một lời thơ giản dị trong
Việt Nam yêu cầu ca:
Bảy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền.
Và giờ đây qua hơn một năm chuẩn bị tích cực,
Bản Hiến pháp đã được trình ra kỳ họp thứ II
Quốc hội khóa I xem xét thông qua. Tại kỳ họp
này, Quốc hội đã xem xét hai bản dự án Hiến
pháp, một do tiểu Ban Hiến pháp của Quốc hội dự
thảo, một do tiểu Ban Hiến pháp mở rộng (21
người) chuẩn bị. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa đã được Đại hội Đại biểu toàn quốc họp
tại Thủ đô Hà Nội thông qua ngày 8.11.1946 và
công nhận là chính thức ngày 9.11.1946.
Trong bài phát biểu tại phiên họp bế mạc kỳ họp
thứ 2 Quốc hội khóa I Bác đã nói:
“Hơn mười ngày nay, các Đại biểu đã khó nhọc làm
việc, Quốc hội đã thu được môt kết quả làm vẻ
vang cho đất nước là đã thảo luận xong bản Hiến
pháp. Sau khi nước nhà mới được tự do hơn 14
tháng, đã làm thành bản Hiến pháp đầu tiên trong
lịch sử nước nhà. Bản Hiến pháp đó còn là một
vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á
Đông này nữa. Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn
nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế.
Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc
Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó
tuyên bố với thế giới: Phụ nữ Việt Nam đã được
đứng ngang hàng với đàn ông để được tự do của
một quyền công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh
thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam
và một tinh thần liêm khiết, công bằng của các
giai cấp”.
55 năm qua kể từ ngày bản Hiến pháp đầu tiên
được Quốc hội thông qua, đất nước đã trải qua
bao thử thách khốc liệt để bảo vệ nền độc lập,
toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng cuộc sống ấm no,
hạnh phúc cho nhân dân; Chúng ta đã có 4 bản
Hiến pháp ra đời trong bối cảnh lịch sử khác
nhau và mang theo nó nhiệm vụ của Cách mạng Việt
Nam trong từng giai đoạn. Tuy nhiên, ý nghĩa
lịch sử của bản Hiến pháp đầu tiên, Hiến pháp
1946 vẫn còn nguyên vẹn. Bản Hiến pháp khẳng
định một nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc
“Sau 80 năm tranh đấu, thoát khỏi vòng áp bức
của chính sách thực dân đồng thời đã gạt bỏ chế
độ vua quan, nước nhà bước sang một quãng đường
mới” với nhiệm vụ: bảo toàn lãnh thổ, giành độc
lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền
tảng dân chủ.
Nguồn: Báo Người đại biểu nhân dân, số 157 ngày
1-9-2005 |