|
Quốc hội -
Một quá trình nhận thức mới
|

TS
Nguyễn Sĩ Dũng |
Nhân dịp năm mới, đồng thời cũng là dịp kỉ
niệm 60 năm Ngày thành lập Quốc hội của nước
ta, nhà báo Nguyễn Như Mai có cuộc trao đổi
với Tiế sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, Phó chủ nhiệm Văn
phòng Quốc hội.
- Thưa ông, xin ông nói rất ngắn gọn về bối
cảnh ra đời của Quốc hội đầu tiên của nước
ta
- Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành
công, nhiệm vụ trọng tâm là phải xây dựng
một nhà nước dân chủ. Mà một nhà nước dân
chủ thì chỉ có thể được thành lập thông qua
việc bầu cử của nhân dân. Đó là lý do giải
thích tại sao, vừa giành được chính quyền,
những người làm cách mạng do Hồ Chí Minh
đứng đầu đã nghĩ ngay đến việc phải tổ chức
tổng tuyển cử. Cuộc tổng tuyển cử được tổ
chức rất khẩn trương và trong một tình hình
khá căng thẳng vì bị các thế lực phản động
chống phá. Tuy nhiên, nó đã thành công tốt
đẹp. Những người dân lần đầu tiên được hưởng
quyền dân chủ trong bầu cử đã nhiệt liệt
hưởng ứng cuộc tổng tuyển cử này.
- Quốc hội của chúng ta qua những thời kỳ
khác nhau luôn đại diện cho ý chí của toàn
dân. Tuy nhiên có những năm tháng nhân dân
ta ít quan tâm đến những hoạt động của Quốc
hội. Tại sao vậy?
- Thực ra, nếu các quyết định của Quốc hội
đã có thể đoán được từ trước thì đòi hỏi
người dân phải quan tâm là rất khó khăn.
Tính hình thức trong hoạt động của Quốc hội
trước thời kỳ đổi mới là nguyên nhân của
tình trạng nói trên.
- Có những thời kỳ người dân cho là các đại
biểu chỉ biết giơ tay. Bất cứ chủ trương,
nghị quyết nào cũng đạt 100%, điều đó dường
như không thuyết phục lắm?
- Thuyết phục lắm hay không, thực ra, phụ
thuộc rất lớn vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Vào những thời kỳ đó, rất nhiều chuyện mà
ngày nay chúng ta không thể tưởng tượng nổi
đã từng là những điều được nhiều người chấp
thuận, thậm chí tôn sùng. Gần 20 năm nay hệ
thống biểu quyết điện tử đã thay thế cho
việc biểu quyết bằng cách giơ tay. Hệ thống
này trở nên cần thiết vì các đại biểu Quốc
hội đã có những chính kiến rất khác nhau khi
tham gia biểu quyết. Nếu cứ chuyện gì cũng
nhất trí 100%, thì hệ thống biểu quyết điện
tử chắc chắn chỉ là một thứ công nghệ vô
dụng.
- Ngày nay trong các chương trình nghị sự,
các đại biểu tham gia thảo luận, tranh luận
nhiều hơn. Nhưng cũng có những đại biểu hầu
như không bao giờ có ý kiến. Có hai trường
hợp như sau. Một là trong những cuộc chất
vấn các bộ trưởng, đáng lẽ đại biểu là những
người trong ngành phải thấu hiểu nội tình
hơn, nhưng không dám phê phán ngành mình.
Các đại biểu đương nhiệm trong các bộ ngành
khác thì nể nang, sợ đụng chạm. Theo ông, có
đúng vậy không?
- Ở đời ít ai dại gì chất vấn thủ trưởng của
mình. Và chúng ta không nên buộc tội cho cái
sự khôn ngoan đó của họ. Vấn đề là phải
tránh được tình trạng xung đột lợi ích trong
việc hình thành cơ cấu của Quốc hội. Mỗi khi
còn có các đại biểu kiêm nhiệm - vừa là đại
biểu, vừa là quan chức hành chính (cấp dưới
của các bộ trưởng), thì tình trạng xung đột
lợi ích còn xảy ra. Cụ thể là: chất vấn bộ
trưởng thì tốt cho việc thực hiện chức năng
của đại biểu QH, nhưng dở cho việc thực hiện
chức năng của quan chức hành chính. Nếu bạn
chỉ dành 30% thời gian cho hoạt động của
Quốc hội, nhưng lại dành tới 70% thời gian
cho công việc của Chính phủ thì sự lựa chọn
của bạn đã tương đối rõ. Rõ là cần im lặng
trong các phiên chất vấn.
Sự nể nang chắc chắn cũng ảnh hưởng tiêu cực
đến hoạt động chất vấn. Đây có lẽ cũng là
một nét tâm lý chung của người Việt chúng
ta. Tuy nhiên, nể nang dễ được khắc phục hơn
là tình trạng xung đột lợi ích.
- Trường hợp thứ hai là khi thông qua các bộ
luật, các dự án lớn của nhà nước, phải chăng
trình độ của một số đại biểu chưa đáp ứng
được? Tôi đơn cử, khi thông qua dự án thủy
điện Sơn La cao hay thấp, không phải ai cũng
đủ trình độ xác định nên chọn phương án nào
tốt hơn. Thành ra họ đành bỏ phiếu theo cảm
tính?
- Thế thì ai trong chúng ta có đủ trình độ
để xác định phương án nào là tốt hơn? Nhiều
vấn đề của đất nước là những vấn đề chuyên
môn rất sâu, các vị đại biểu Quốc hội không
thể và không bắt buộc phải là các chuyên gia
của tất cả mọi vấn đề. Điều quan trọng là
chúng ta phải có được một cơ quan nghiên cứu
đủ mạnh để cung cấp các thông tin và tri
thức cần thiết cho các vị đại biểu Quốc hội.
Ngoài ra, điều mà các vị đại biểu bao giờ
cũng có thể thẩm định được là lợi ích của
các tầng lớp nhân dân gắn với dự án đó như
thế nào; lợi ích thực tế thúc đẩy sự lựa
chọn chính sách như vậy là gì. Không trả lời
được hai câu hỏi nói trên thì trình độ cũng
không thể giúp được gì nhiều cho việc biểu
quyết. Nó vẫn là biểu quyết theo cảm tính mà
thôi.
- Nói tóm lại, nếu như trước đây Quốc hội
cần thể hiện ý chí toàn dân thì nay còn phải
thể hiện trí tuệ của toàn dân nữa. Vậy có
thể sau này nên bớt các đại biểu đương chức
trong các cơ quan nhà nước và các đại biểu
theo cơ cấu cũng cần phải có trình độ tối
thiểu như thế nào? Có thể có những “nghị sĩ”
hoạt động chuyên nghiệp như những “chính
khách”?
- Thực ra, nghị sĩ chính là chính khách. Và
các nghị sĩ được bầu trước hết là do họ có
năng khiếu và có khả năng làm chính khách,
chứ không hẳn là do có trí tuệ của Einsten.
Chính khách là những người thấy được nhu cầu
của thời đại và hiểu được ý nguyện của cử
tri. Vì vậy họ cần cho đời sống chính trị
của đất nước. Có thể trí tuệ cũng rất cần
thiết, thế nhưng nghị viện không nên cạnh
tranh với viện hàn lâm khoa học.
Chắc chắn là chúng ta cần có nhiều hơn các
đại biểu chuyên trách. Và đây có thể là một
bước đệm cho việc hình thành các chính khách
chuyên nghiệp.
- Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của
nước ta, quyền thì đã thấy rõ, nhưng lực thì
dường như chưa được như ý vì những đạo luật
khi đi vào cuộc sống chưa phải bao giờ cũng
có hiệu lực cao. Đơn cử như nhiều vấn đề bức
xúc được Quốc hội đề cập đến từ kỳ họp này
đến kỳ họp khác mà vẫn chưa được giải quyết
rốt ráo.
- Quyền và lực nhiều khi gắn bó rất chặt chẽ
với nhau. Không có lực thì chưa chắc đã có
quyền. Ví dụ, khi thẩm định một dự án luật
vấn đề nhiều khi lại hoàn toàn không hẳn là
quyền, mà là tri thức và thủ tục. Tuy nhiên,
việc nhiều đạo luật chưa đi vào cuộc sống
thì chuyện quyền lực của Quốc hội chỉ chịu
trách nhiệm một phần ở đây thôi. Vấn đề còn
có thể nằm cả ở triết lý lập pháp, ở công
nghệ làm luật, ở kỹ thuật soạn thảo văn bản
và đặc biệt ở năng lực thi hành pháp luật.
Mà như vậy thì rất nhiều việc nằm chủ yếu ở
các khâu trước và sau Quốc hội.
- Thời gian qua hoạt động của Quốc hội được
đổi mới rất nhiều. Cũng có thể coi đó là
những cải cách ngày càng tiến bộ hơn. Nhưng
để hòa nhập với thế giới, trong thời gian
tới, Quốc hội sẽ có những cải cách mới về cơ
cấu, về thể thức bầu cử...không? Chẳng hạn,
tăng thêm số đại biểu chuyên nghiệp? Chẳng
hạn, nguyên thủ quốc gia được cử tri bầu
trực tiếp?
- Đây là những câu hỏi mà một công chức thì
không thể có câu trả lời và cũng không có
thẩm quyền để trả lời. Tuy nhiên, để hòa
nhập với thế giới, việc tăng thêm số đại
biểu chuyên nghiệp là có thể hợp lý, còn
việc cử tri trực tiếp bầu nguyên thủ quốc
gia thì chưa chắc đã nhất thiết là như vậy.
Cử tri Anh, cử tri Nhật Bản và cử tri rất
nhiều nước khác có bầu nguyên thủ quốc gia
của mình đâu. Vấn đề là chúng ta chọn mô
hình nhà nước theo thể chế nào.
- Vâng. xin cám ơn ông. Nhận thức về Quốc
hội của nhân dân ta là một quá trình vận
động đi lên. Những điều trao đổi với ông
cũng là những vấn đề nhiều bạn đọc quan tâm.
Hy vọng rằng những câu trả lời của ông sẽ
làm hài lòng họ.
Nguồn: Báo Khoa học và Đời sống, Xuân Bính
Tuất 2006 |