|
Quốc hội khóa I với bản Hiến pháp đầu tiên của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Ngày 9-11-1946, Quốc hội khóa I đã biểu quyết
thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa với 240/242 đại biểu tán thành.
Bản Hiến pháp gồm có Lời nói đầu, bảy chương và 70
điều.
Bản dự án Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đã được soạn thảo xong và được công bố tháng
11-1945. Tiểu ban Hiến pháp do kỳ họp thứ nhất của
Quốc hội (3-1946) cử ra gồm 11 thành viên, đã tiếp
tục nghiên cứu dự thảo Hiến pháp. Ủy ban kiến quốc
của Chính phủ cũng đã tự nghiên cứu và đưa ra một
dự thảo. Căn cứ vào bản dự án của Chính phủ đã đưa
ra, đối chiếu với bản dự thảo của Ủy ban kiến
quốc, tập hợp những kiến nghị phong phú của toàn
dân và tham khảo kinh nghiệm về Hiến pháp các nước
ở Âu - Á, Tiểu ban đã soạn thảo một dự án Hiến
pháp để trình Quốc hội. Trong phiên họp ngày
29-10-1946 Tiểu ban được mở rộng thêm 10 vị đại
biểu cho các nhóm đại biểu trung lập, đại biểu Nam
Bộ, đại biểu đồng bào thiểu số để tham gia tu bổ
thêm bản dự án và Quốc hội khóa I tại kỳ họp thứ
hai (từ 28-10 đến 9-11-1946) bắt đầu thảo luận từ
2-11-1946.
Qua nhiều buổi thảo luận và tranh luận sôi nổi để
bổ sung, sửa đổi từng điều cụ thể, Quốc hội đã
nhất trí thông qua Hiến pháp. Toàn thể Quốc hội
đều công nhận cờ đỏ sao vàng là lá cờ thiêng
liêng của Tổ quốc không thể bàn cãi được và đã
đứng lên nghiêm trang chào lá Quốc kỳ của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thanh hát bài Tiến
quân ca.
Ngày 9-11-1946, Quốc hội đã biểu quyết thông qua
Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với
240 đại biểu tán thành trên 242 đại biểu.
Bản Hiến pháp gồm có Lời nói đầu, bảy chương và 70
điều. Lời nói đầu đã ghi rõ thành quả của cuộc
cách mạng Việt Nam, nhiệm vụ của dân tộc trong
giai đoạn mới và những nguyên tắc xây dựng hiến
pháp:
"Cuộc Cách mạng Tháng Tám đã giành lại chủ quyền
cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân
chủ cộng hòa.
Sau tám mươi năm tranh đấu, dân tộc Việt Nam đã
thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thực dân,
đồng thời đã gạt bỏ chế độ vua quan. Nước nhà đã
bước sang một quãng đường mới.
Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo
toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến
thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ.
Ðược quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến
pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
Quốc hội nhận thấy rằng Hiến pháp Việt Nam phải
ghi lấy những thành tích vẻ vang của cách mạng và
phải xây dựng trên những nguyên tắc sau đây:
- Ðoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi,
gái trai, giai cấp, tôn giáo.
- Ðảm bảo các quyền tự do dân chủ.
- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của
nhân dân.
Với tinh thần đoàn kết phấn đấu sẵn có của toàn
dân, dưới một chính thể dân chủ rộng rãi, nước
Việt Nam độc lập và thống nhất tiến bước trên
đường vinh quang hạnh phúc, cùng nhịp với trào lưu
tiến bộ của thế giới và ý nguyện hòa bình của nhân
loại".
Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa đã quy định Chính thể (Chương I),
Nghĩa vụ và quyền lợi công dân (Chương II), Nghị
viện nhân dân (Chương III), Chính phủ (Chương IV),
Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính (Chương V),
Cơ quan tư pháp (Chương VI), Sửa đổi Hiến pháp
(Chương VII).
Hiến pháp đã ghi rõ về chính thể:
"Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất
cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân
Việt Nam, không
phân biệt nòi giống, gái trai,
giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo" (Ðiều 1).
"Ðất nước Việt Nam là một khối thống nhất, Trung
Nam Bắc không thể phân chia" (Ðiều 2).
"Cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nền đỏ,
giữa có sao vàng năm cánh. Quốc ca là bài Tiến
quân ca. Thủ đô đặt ở Hà Nội" (Ðiều 3).
Về nghĩa vụ và quyền lợi công dân, Hiến
pháp đã khẳng định:
"Mọi công dân Việt Nam phải: - Bảo vệ Tổ quốc; Tôn
trọng Hiến pháp; - Tuân theo pháp luật (Ðiều 4) và
có nghĩa vụ phải đi lính" (Ðiều 5).
"Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi
phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa" (Ðiều
6), "đều được bình đẳng trước pháp luật, đều được
tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy
theo tài năng và đức hạnh của mình" (Ðiều 7);
những dân tộc thiểu số "được giúp đỡ về mọi phương
diện để chóng tiến kịp trình độ chung" (Ðiều 8),
"đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương
diện" (Ðiều 9). "Công dân Việt Nam có quyền: - tự
do ngôn luận; - tự do xuất bản; - tự do tổ chức và
hội họp; - tự do tín ngưỡng; - tự do cư trú, đi
lại trong nước và ra nước ngoài" (Ðiều 10). "Tư
pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam
cầm người công dân Việt Nam. Nhà ở và thư tín của
công dân Việt Nam, không ai được xâm phạm một cách
trái pháp luật (Ðiều 11). "Quyền tư hữu tài sản
của công dân Việt Nam được bảo đảm" (Ðiều 12).
"Quyền lợi các giới cần lao trí thức và chân tay
được bảo đảm" (Ðiều 13). "Công dân già cả hoặc tàn
tật không làm được việc thì được giúp đỡ. Trẻ em
được săn sóc về mặt giáo dưỡng" (Ðiều 14). "Nền sơ
học cưỡng bách và không học phí. Ở các trường sơ
học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học
bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ
giúp. Trường tư được mở tự do và phải dạy theo
chương trình Nhà nước" (Ðiều 15).
"Chế độ bầu cử là phổ thông đầu phiếu. Bỏ phiếu
phải tự do, trực tiếp và kín" (Ðiều 17). "Tất cả
công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên... đều có
quyền bầu cử" (Ðiều 18). "Nhân dân có quyền bãi
miễn các đại biểu mình đã bầu ra..." (Ðiều 20)
"... có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những
việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia..." (Ðiều 21).
Về Nghị viện nhân dân, Hiến pháp ghi:
"Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" (Ðiều 22).
"Nghị viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung
cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết
ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký
với nước ngoài" (Ðiều 23). "Nghị viện nhân dân do
công dân Việt Nam bầu ra. Ba năm bầu một lần"
(Ðiều 24). "Nghị viện nhân dân bầu một Nghị
trưởng, hai Phó Nghị trưởng, 12 Ủy viên chính
thức, 3 Ủy viên dự khuyết để lập thành Ban Thường
vụ. Nghị trưởng và Phó Nghị trưởng kiêm chức
Trưởng và Phó Trưởng Ban Thường vụ" (Ðiều 27).
"Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa
ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số
Nghị viện đồng ý" (Ðiều 32).
"Khi Nghị viện không họp được, Ban Thường vụ cùng
với Chính phủ có quyền quyết định tuyên chiến hay
đình chiến" (Ðiều 38).
Về Chính phủ, Hiến pháp đã ghi:
"Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" (Ðiều
43). "Chính phủ gồm có Chủ tịch nước... Phó Chủ
tịch và nội các. Nội các có Thủ tướng, các Bộ
trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó Thủ tướng" (Ðiều
44). "Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chọn
trong Nghị viện nhân dân và phải được hai phần ba
tổng số nghị viên bỏ phiếu thuận... Chủ tịch nước
Việt Nam được bầu trong thời hạn 5 năm và có thể
được bầu lại" (Ðiều 45).
"Chủ tịch nước Việt Nam chọn Thủ tướng trong Nghị
viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết"... "Thủ tướng
chọn các Bộ trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị
viện biểu quyết toàn thể danh sách" (Ðiều 47).
"Quyền hạn của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa: a) Thay mặt cho nước; b) Giữ quyền Tổng chỉ
huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức
các tướng soái..., c) Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ
tướng, nhân viên nội các và các nhân viên cao cấp
thuộc các cơ quan Chính phủ; d) Chủ tọa Hội đồng
Chính phủ; đ) Ban bố các đạo luật đã được Nghị
viện quyết định...;
k) Tuyên chiến hay đình chiến theo như Ðiều 38 đã
định" (Ðiều 49).
"Quyền hạn của Chính phủ: a) Thi hành các đạo
luật; b) Ðề nghị những dự án luật ra trước Nghị
viện; c) Ðề nghị những dự án sắc luật ra trước Ban
Thường vụ trong lúc Nghị viện không họp mà gặp
trường hợp đặc biệt...; e) Thi hành Luật động viên
và mọi phương sách cần thiết để giữ gìn đất nước;
g) Lập dự án ngân sách hằng năm" (Ðiều 52).
Hiến pháp cũng quy định hệ thống tổ chức và quyền
hạn của Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các
cấp, hệ thống và quyền hạn của cơ quan tư pháp và
những điều quy định về sửa đổi Hiến pháp.
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa là một Hiến pháp dân chủ, phản ánh rõ thắng
lợi của cách mạng Việt Nam, khẳng định quyền dân
tộc độc lập, thống nhất lãnh thổ và quyết tâm bảo
vệ đất nước của toàn dân, xây dựng thể chế dân chủ
cộng hòa, một chế độ bảo đảm quyền dân chủ tự do
của mọi công dân không phân biệt nam nữ, đặc biệt
ưu đãi đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Công
dân Việt Nam được quyền trực tiếp bầu ra Nghị
viện - cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, đại diện cho quyền làm chủ đất
nước của toàn dân và chịu trách nhiệm trước quốc
dân đối với vận mệnh lịch sử của dân tộc, của mọi
người dân trên con đường đấu tranh vì độc lập, tự
do, hạnh phúc.
Bản Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua và Quốc
hội cũng đã quyết định không cần phải đưa hiến
pháp ra trưng cầu dân ý trong toàn quốc nữa. Bản
Hiến pháp đã trở thành chính thức từ 9-11-1946. Do
chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đang lan
rộng, cho nên Quốc hội đã biểu quyết chưa ban hành
hiến pháp bằng một sắc lệnh và chưa thi hành hiến
pháp ngay. Việc bầu Nghị viện nhân dân theo quy
định của hiến pháp chưa thể tổ chức được. Quốc hội
chưa hết nhiệm vụ mà cần phải tiếp tục hoạt động
cho đến khi bầu được Nghị viện nhân dân.
Theo: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960.
Nguồn: http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/
|